|| Trang Chủ || Chia sẻ || Tập san || Thông hiệp ||

 

SUY NIỆM CHÚA NHẬT 3 MÙA VỌNG - Năm C

Lời Chúa: Xp 3,14-18; Pl 4,4-7; Lc 3,10-18

 

MỤC LỤC

1. Kẻ tội lỗi

2. Để tiến tới một thế giới tốt hơn.

3. Chúng tôi phải làm ǵ? - ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

4. Đau khổ.

5. Sám hối

6. Chúng tôi phải làm ǵ đây?

7. Suy niệm của McCarthy.

8. Vui lên anh em.

9. Chú giải mục vụ của William Barclay.

10. Chú giải mục vụ của Hugues Cousin.

11. Suy niệm của R. Gutzwiller

12. Chú giải của Noel Quesson.

13. Chú giải của Fiches Dominicales.

14. Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt

15. Chúng tôi sẽ phải làm ǵ?.

16. Cho Chúa một cơ hội

17. Những hành vi thống hối

18. Giàu và nghèo.

19. Suy niệm của JKN.

20. Nhà giảng thuyết đường phố

  

 

1. Kẻ tội lỗi

Vào một ngày Chúa nhật tháng chín năm 1972, tại góc phố đông người qua lại, người ta thấy xuất hiện một nhà giảng thuyết. Ông đưa cánh tay phải lên và chỉ vào một người nào đó và nói: Anh là kẻ có tội. Hành động này đă gây nên một hậu quả kỳ lạ. Mọi người lấm lét nh́n ông rồi cúi mặt xuống trong thinh lặng.

Từ mẩu chuyện trên chúng ta đi vào đoạn Tin Mừng sáng hôm nay. Chắc hẳn lời giảng của Gioan Tiền hô bên bờ sông Giócđan cũng đă tạo ra một hậu quả như thế. Trong đám đông, có những người đă cười nhạo ông. Có những người đă tức giận ông, nhưng cũng có những người đă nhận biết sự sai trái của ḿnh.

Chẳng hạn những người thu thuế nhận ra có lúc ḿnh đă đ̣i hỏi quá mức ấn định. Những người lính có lúc đă đối xử tàn bạo với dân chúng. C̣n tất cả th́ có lúc đă khước từ sự giúp đỡ cần thiết cho những người chung quanh. Ông đă đụng vào vùng thâm sâu và dễ thương tổn nhất của họ, ông đ̣i buộc họ phải nh́n lại tâm hồn ḿnh, khám phá ra những khuyết điểm, để rồi dứt khoát từ bỏ tội lỗi mà quay trở về cùng Chúa.

C̣n chúng ta th́ sao? Chắc hẳn ai trong chúng ta cũng đă ư thức được những hậu quả mà tội lỗi gây ra cho bản thân, cho gia đ́nh cũng như cho xă hội, thế nhưng chúng ta lại không có đủ can đảm dứt bỏ tội lỗi, trái lại nhiều lúc chúng ta c̣n chạy theo những mời mọc, những quyến dũ, những lôi kéo của tội lỗi, để rồi như lời thánh Phaolô đă diễn tả: Sự thiện tôi muốn th́ tôi lại không làm, c̣n điều ác tôi ghét th́ tôi lại làm.

Chúng ta giống như một người muốn nhảy xuống sông để tắm cho được sạch, nhưng lại ngại trời rét. V́ thế, cứ ngồi trên cầu ao, tḥ một chân xuống rồi lại co lên. Cứ thế, cứ thế, nửa muốn tắm nửa lại sợ rét.

Hay như một con ḅ, nửa muốn uống nước, nửa muốn ăn cỏ, thành thử hết nh́n qua bên này lại nh́n qua bên kia, mà bụng th́ vẫn đói và khát.

Vậy cho đến lúc này, chúng ta đă có thái độ dứt khoát hay chưa? Chúng ta hăy nhớ lại lời thánh Gioan Tông đồ: Nếu chúng ta nói rằng ḿnh vô tội, th́ chúng ta chỉ là kẻ nói dối.

Mặc dù tâm hồn chúng ta rất xinh đẹp v́ được dựng nên giống h́nh ảnh Thiên Chúa, nhưng đồng thời nó lại rất yếu đuối và có thể vấp ngă bất cứ lúc nào. Chúng ta giống như một chiếc b́nh sành dễ vỡ. Có nhiều khía cạnh trong cuộc sống chúng ta cần được Chúa tha thứ và chữa lành qua Bí tích Giải tội.

Mùa vọng chính là thời gian giúp chúng ta nh́n nhận ḿnh là kẻ tội lỗi, rồi sám hối ăn năn để được ơn tha thứ, cũng như được hưởng sự b́nh an mà Chúa sẽ đem đến trong đêm Giáng sinh.

 
 

2. Để tiến tới một thế giới tốt hơn

Sự thể nhiều hạng người khác nhau đến nghe Gioan Tẩy Giả rao giảng cho thấy niềm hy vọng vào một thế giới tốt hơn phổ cập đến mức nào trong dân Israel. Với người Biệt phái và người Sa đốc tự tin đă giữ đạo bề ngoài mà thiếu thật ḷng ăn năn trở lại th́ chẳng ích ǵ. Với những người thu thuế, ông khuyên hăy thi hành chức vụ cách công bằng, v́ thật vậy họ là nhân viên thuế vụ, thậm chí lại thu thuế cho người La mă đô hộ. Với những quân nhân, ông khuyên không nên dùng sức mạnh phục vụ cho bất công. Với tất cả đám đông, ông rao giảng hăy chia sẻ của cải, tương thân tương ái và thực thi công bằng cách thực tế. Ở điểm này chúng ta thấy rằng biến cố lớn là công cuộc cứu độ mà Gioan Tẩy Giả loan báo sắp xảy đến trong tương lai gần, nó liên quan đến khắp mọi người chẳng trừ ai. Để chuẩn bị tâm hồn sẵn sàng đón nhận ơn cứu độ, người ta cần thay đổi nếp sống cho phù hợp với tinh thần tôn trọng công lư và liên kết nhau trong t́nh thân ái.

Một vấn đề cho chúng ta: Phúc Âm loan báo một cuộc cách mạng. Vậy cách mạng này là ǵ?

1) Đó là một cuộc cách mạng nội tâm thực hiện bằng sự thanh tẩy tâm hồn trong Chúa Thánh Linh và trong lửa. Nhờ được thanh tẩy trong Chúa Thánh Linh, con người được mạc khải, nhận thức rằng ḿnh là con Thiên Chúa. Qua trung gian Chúa Thánh Linh, con người nói với Thiên Chúa và gọi Thiên Chúa là Cha. Thanh tẩy bằng lửa là một sự thanh lọc thiêng liêng, là sám hối v́ trót phạm tội, chấp nhận ḿnh phải cố gắng xua đuổi sự dữ. Thanh tẩy do ông loan báo chính là phép rửa của Kitô giáo, là bí tích thăng tiến con người lên địa vị làm con Thiên Chúa, và điều hợp lư là từ đây con người phải tỏ ra xứng đáng với phẩm trật tôn quư đó.

2) Đó cũng là một cuộc cách mạng trong xă hội loài người –được thực hiện bằng bạo lực ư? Không, v́ ông khuyên đám thính giả chớ dùng bạo lực, theo nghĩa cưỡng bách người khác làm theo ư ḿnh. Ông cũng không đề nghị dùng bạo lực để giải phóng, nhưng nói rằng xă hội được giải phóng là do kết quả những nỗ lực mỗi cá nhân để cố gắng cư xử công bằng v́ ḷng bác ái. Tuy nhiên xin chớ hiểu lầm. Một h́nh phạt ghê gớm dành cho những kẻ nào v́ ích kỷ, tham lam hoặc ác ư mà từ chối không đón nhận Tin Mừng. Thánh Gioan Tẩy Giả ví họ với rơm rạ người ta đem đốt sau vụ gặt. Một sự cưỡng bách chính đáng duy nhất là tự ép buộc ḿnh thực thi công bằng bác ái. Sử dụng bạo lực đối với tha nhân, dù để đạt một cứu cánh ḿnh cho là tốt, tất sẽ bị Thiên Chúa nghiêm phạt.

 
 

3. Chúng tôi phải làm ǵ? - ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

Khi nghe thánh Gioan Tẩy Giả rao giảng, hàng đoàn người lũ lượt kéo đến xin chịu phép rửa ăn năn sám hối. Hơn thế nữa, họ c̣n muốn thay đổi cuộc đời nên ai cũng hỏi thánh nhân: “Chúng tôi phải làm ǵ?”. Thái độ của họ thành khẩn, đơn sơ, hiểu biết và đầy quyết tâm. Để trả lời, thánh nhân đưa ra những hướng dẫn thật cụ thể. Đó là:

Phải làm những việc cụ thể. Hai thái độ cơ bản phải có là công b́nh bác ái. Bác ái là chia sẻ: “Ai có hai áo, th́ chia cho người không có, ai có ǵ ăn, th́ cũng làm như vậy”. Như thế, bác ái không phải là bố thí những ǵ dư thừa, nhưng phải là chia sẻ trong tinh thần “nhường cơm sẻ áo” “hạt gạo cắn đôi”. Chia cả những ǵ ḿnh đang cần thiết. Trong tinh thần huynh đệ. Trong tinh thần yêu người khác như chính ḿnh. Cơm ăn áo mắc là những ǵ rất cụ thể thiết thực và vừa tầm tay mọi người. Ai cũng có thể chia sẻ được. Chỉ cần muốn là có thể làm được. Công b́nh cũng không phải là điều ǵ quá phức tạp. Chỉ đơn sơ giữ đúng luật pháp: nhân viên thu thuế “Đừng đ̣i hỏi quá mức ấn định”. Và khi thi hành luật pháp binh lính phải có ḷng nhân ái chứ đừng cậy quyền thế áp bức và nhất là bóc lột người khác: “Chớ dùng vũ lực, cũng đừng vu khống mà tống tiền người ta”. Tuy đơn sơ, thiết thực nhưng lại rất quan trọng để được ơn cứu độ.

Phải làm trong đời sống cụ thể. Những việc cụ thể đó không phải t́m những nơi xa xôi mới thực hiện được. Mỗi người hăy thực hiện công b́nh bác ái trong đời sống thường ngày của ḿnh, với những người sống chung quanh ḿnh. Thánh nhân không kêu gọi người ta phải ra khỏi môi trường cũ. Ngài chỉ kêu gọi người ta từ bỏ nếp sống cũ. Người thu thuế cứ thu thuế. Binh lính cứ làm nhiệm vụ của binh lính. Nhưng làm với tinh thần mới. Điều quan trọng không phải là đổi mới nơi ở, nhưng là đổi mới chính ḿnh, đổi mới ư nghĩ, đổi mới lời ăn tiếng nói, đổi mới việc làm. Tục ngữ có nói: “Dù có đi xa vạn dặm mà không chịu thay đổi th́ bạn vẫn chỉ là con người cũ”. Cứ ở nhà mà dám đổi mới là ta đă đi những bước rất xa, sẵn sàng gặp được Chúa và lănh nhận được ơn cứu độ.

Những người Do Thái thời Thánh Gioan Tẩy Gỉa thực ḷng mong chờ Chúa đến. Nên đă hỏi ngay những việc cụ thể để làm. Và khi nhận được lời khuyên của thánh nhân, họ đă thực hành ngay tức khắc. V́ thế họ đă gặp được Chúa. Hôm nay ta cũng tích cực sửa chữa đời sống theo tinh thần công b́nh và nhất là theo tinh thần bác ái. Biết sống tinh thần chia sẻ. Dám cho đi cả những ǵ cần thiết. Mẹ Têrêsa Calcutta dạy ta: hăy cho đi cho đến khi cảm thấy đau đớn xót xa, th́ sự cho đi mới thực sự có ư nghĩa. Biết cho đi như thế, chắc chắn ta sẽ gặp được Chúa.

Ta luôn bất b́nh với thế giới chung quanh. Ta mong ước đổi mới thế giới. Hăy nghe lời Thánh Gioan Tẩy Giả, đừng đ̣i hỏi người khác đổi mới nếu chính ḿnh không đổi mới. Hăy đổi mới chính ḿnh trước, rồi mọi người sẽ đổi mới. Khi mọi người đổi mới, thế giới sẽ đổi mới. Hăy bắt đầu sống tốt. Rồi mọi sự và mọi người quanh ta sẽ trở nên tốt. Sống tốt chính là bắt đầu thay đổi thế giới. Sống tốt chính là góp phần vào công cuộc cứu chuộc của Chúa.

Lạy Chúa, xin cho con bắt đầu cuộc đời mới ngay từ ngày hôm nay, để con được gặp Chúa. Amen.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

1. Chia sẻ khác với bố thí thế nào? Thánh Gioan Tẩy Giả đ̣i ta chia sẽ hay bố thí?

2. Bạn có ước mong thế giới đổi mới nên tốt hơn không? Muốn thế bạn phải làm ǵ?

3. Bạn có mong ước Chúa đến với mọi người không? Muốn thế bạn phải dọn đường cho Chúa như thế nào?

 
 

4. Đau khổ

Giáng sinh năm ấy, cha Lini đang hoàn tất những chuẩn bị cuối cùng để cử hành thánh lễ trong một bầu khí trang trọng, th́ bỗng mọi người trong nhà thờ đều xôn xao. Ngẩng đầu lên, cha nh́n thấy một người phong cùi, mặt mũi xần xùi. Hai cánh tay bị cụt. Vết thương ở chân tuôn máu làm thành một vệt dài trên nền gạch bông. Toàn thân bốc ra mùi hôi thối.

Tất cả đều kinh hoàng. C̣n cha th́ bối rối. Một đàng không thể bắt đầu thánh lễ khi người phong cùi c̣n đứng đó. Đàng khác, cha cũng không thể đuổi anh ta, bởi lẽ nhà thờ là nhà của Chúa, cha chung của mọi người, không trừ một ai. Càng là bất hạnh th́ lại càng đáng được ở lại để đón mừng Chúa giáng sinh.

Người phong cùi dừng lại trước bàn thờ với thái độ van xin. Thế rồi cha nói với anh:

- Bạn hăy ở lại với chúng tôi và chúng ta sẽ làm thành một gia đ́nh duy nhất. Các vết lở loét nơi tâm hồn c̣n thối tha hơn những vết lở lóet nơi thân xác gấp bội. Tất cả chúng ta đều là anh em với nhau. Và dưới một góc cạnh nào đó, tất cả chúng ta đều là những người phong cùi về đời sống thiêng liêng trước mặt Chúa.

Sự việc này đă đánh động cha để rồi sau lễ giáng sinh năm ấy, cha đă dồn mọi nỗ lực để chăm sóc cho những người đáng thương này.

Từ câu chuyện trên chúng ta đi vào đoạn Tin Mừng sáng hôm nay và đưa ra câu hỏi:

- Nếu Thiên Chúa là t́nh yêu th́ tại sao lại xảy ra biết bao nhiêu tội ác và bất hạnh trên thế giới?

Và như thánh Phaolô đă diễn tả:

- Đối với nhiều người, thập giá đă trở nên dấu chỉ của sự điên khùng và dại dột. Thế nhưng Thiên Chúa lại dùng chính sự điên khùng và dại dột này để cứu chuộc chúng ta.

Thực vậy, để cứu chuộc chúng ta Ngài không cần phải đổ máu, mà chỉ cần phán một lời hay sai một thiên thần cũng đủ. Tuy nhiên, Ngài đă không làm như vậy. Trái lại, Ngài đă xuống thế làm người để trở thành một Emmanuel, một Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Ở cùng chúng ta mà thôi chưa đủ, Ngài c̣n muốn chia sẻ thân phận khổ đau của kiếp người: Sinh ra trong nghèo khó. Lớn lên trong lao động cực nhọc. Cũng khổ đau. Cũng đói khát. Cũng mỏi mệt. Suốt dọc quăng đời công khai Ngài đă thực hiện biết bao nhiêu phép lạ để xoa dịu những đớn đau của những người đương thời. Như lời tiên tri Isaia: “Thần khí Chúa ngự trên tôi, v́ Ngài xức dầu cho tôi, sai tôi đi loan báo tin mừng cho người nghèo khó, thuyên chữa những tâm hồn sám hối, công bố sự giải phóng cho kẻ bị giam cầm, cho người mù được xem thấy, trả tự do cho kẻ bị áp bức, công bố năm hồng ân về ngày khen thưởng…”.

Và sau cùng đă đổ ra những giọt máu cuối cùng với cái chết đầy tủi nhục, đầy ê chề trên thập giá để cứu chuộc chúng ta như lời thánh Phaolô: “Chính Ngài đă hạ ḿnh bằng cách vâng phục cho đến chết và chết trên thập giá”. Để rồi kể từ đây, thập giá đă trở nên dấu chỉ của sự khôn ngoan, của t́nh thương và của ơn tha thứ.

C̣n chúng ta th́ sao, chúng ta có thái độ nào khi đứng trước thập giá của đời ḿnh và nhất là chúng ta có biết nâng đỡ để làm giảm nhẹ thập giá của những người chung quanh hay không.

  


 

5. Sám hối

Suy Niệm

Màu tím bao trùm mùa Vọng.

Các Kitô hữu lo sám hối để lănh nhận bí tích Ḥa giải. Nhiều người ngại xưng tội, ngại đào bới lại quá khứ. Xưng tội mang dáng dấp của một cái ǵ buồn thảm!

Thật ra bí tích Ḥa giải là một điều tươi tắn hơn nhiều. Sám hối không phải chỉ là quay về quá khứ, mà c̣n là hướng đến tương lai với rất nhiều hy vọng.

Sám hối c̣n có màu hồng như màu áo lễ hôm nay.

Khi dân chúng đến với Gioan, nhận phép rửa sám hối, họ đă hỏi ông: Chúng tôi phải làm ǵ đây? Cả những người thu thuế và binh lính cũng hỏi những câu tương tự.

Chúng tôi: sám hối mang tính tập thể, tính liên đới. Hội Thánh chúng tôi cùng chịu trách nhiệm về sự dữ.

Phải: một thúc bách của trái tim hoán cải thực sự.

Làm ǵ đây: sám hối không phải chỉ là một cảm xúc, tuy thánh thiện, nhưng lại mông lung, xa rời thực tế.

Sám hối đích thực đưa đến một hành động cụ thể. Gioan đă cho ta những câu trả lời c̣n nguyên giá trị.

Sám hối là sống bác ái, có hai chia một. Nhường cơm sẻ áo là ra khỏi nỗi bận tâm về ḿnh.

Sám hối là sống công bằng, không tham lam vơ vét, không dùng quyền lực để cưỡng đoạt, áp bức ai.

Sám hối là hết nô lệ cho của cải, tiền bạc, quyền lực. Như thế dọn đường cho Chúa đến bằng sám hối đ̣i ta chỉnh đốn lại con đường đến với tha nhân.

Trở về với Chúa diễn tả qua việc trở về với anh em.

Gioan không bắt những người thu thuế bỏ cái nghề ô nhục, cũng không đ̣i những người lính Do thái bỏ phục vụ Hêrôđê. Ông cũng không bảo họ lên Đền Thờ dâng lễ đền tội, hay vào hoang địa sống nhiệm nhặt như ḿnh. Họ cứ làm nghề của họ, nhưng với một tinh thần mới.

Sám hối thực sự th́ đụng đến bàn tay, một bàn tay chứa đựng cả con tim và khối óc.

Trong mùa Vọng này, chúng ta phải hỏi nhau: ḿnh phải làm ǵ?

Giới trẻ hôm nay muốn cảm thấy ḿnh có ích, và muốn dùng thời giờ của ḿnh sao cho có ư nghĩa.

Hăy gặp nhau, chấp nhận nhau và làm việc với nhau. Hăy cùng nhau làm một điều tốt nào đó cho đồng bào. Hăy cho thấy ḿnh là người có đức tin. Đức tin được diễn tả qua hành động yêu thương cụ thể, và yêu thương lại làm cho đức tin lớn lên.

Xưng tội cần dốc ḷng chừa. Dốc ḷng chừa đ̣i đổi lối nghĩ và lối sống.

Đứa con thứ cần sống khác, sau khi trở về nhà Cha.

Chúng ta đă được chịu phép rửa trong Thánh Thần, nhưng chúng ta vẫn cần được Thánh Thần thanh tẩy mỗi ngày. Chúng ta không thể tự sức ḿnh canh tân cuộc sống. Trở lại với t́nh yêu là hồng ân của Thánh Thần. Ước ǵ chúng ta mềm mại để cho Ngài uốn nắn và dạy ta biết làm ǵ để bày tỏ ḷng hoán cải.

Gợi Ư Chia Sẻ

Có những tội cá nhân và những tội tập thể. Bạn thấy nhóm của bạn, giáo xứ của bạn, Hội Thánh của bạn thường vấp vào những khuyết điểm hay thiếu sót nào, thậm chí tội nào, đối với Chúa và tha nhân?

Tội tâp thể cần có một cuộc sám hối tập thể. Nhóm của bạn định làm một việc cụ thể nào để bày tỏ ḷng sám hối tích cực trong mùa Vọng này?

Cầu Nguyện

Lạy Chúa Giêsu, con đường dài nhất là con đường từ tai đến tay.

Chúng con thường xây nhà trên cát, v́ chỉ biết thích thú nghe Lời Chúa dạy, nhưng lại không dám đem ra thực hành. Chính v́ thế Lời Chúa chẳng kết trái nơi chúng con. Xin cho chúng con đừng hời hợt khi nghe Lời Chúa, đừng để nỗi đam mê làm Lời Chúa trở nên xa lạ.

Xin giúp chúng con dọn dẹp mảnh đất đời ḿnh, để hạt giống Lời Chúa được tự do tăng trưởng.

Ước ǵ ngôi nhà đời chúng con được xây trên nền tảng vững chắc, đó là Lời Chúa, Lời chi phối toàn bộ cuộc sống chúng con.

 
 

6. Chúng tôi phải làm ǵ đây?

Suy Niệm

Lắm khi lối sống đạo h́nh thức và cằn cỗi của ta làm nhiều người coi Kitô giáo là một thứ duy tâm tự ru ngủ với những ư tưởng tuy đẹp nhưng chẳng bao giờ trở thành hiện thực trong cuộc sống. Thực ra Kitô giáo là tôn giáo của hành động. Niềm tin đích thực đ̣i nhập cuộc và dấn thân. T́nh yêu đích thực đ̣i thực hiện cuộc cách mạng nơi ḷng cá nhân cũng như ngoài xă hội.

Trong Tin Mừng theo thánh Luca, động từ LÀM được nhắc lại nhiều lần: “Tại sao anh em gọi Thầy: Lạy Chúa, lạy Chúa! mà anh em không làm điều Thầy dạy?” (Lc 6,46). “Người nghe mà không làm th́ giống như người xây nhà không nền móng” (Lc 6,49). Trong cuộc đối thoại với một luật sĩ, Đức Giêsu đă bảo ông: “Hăy làm như vậy và ông sẽ được sống” (Lc 10,28). Sau dụ ngôn người Samaria nhân hậu, Ngài c̣n dặn ông: “Hăy đi và làm như vậy” (Lc 10,37).

Con đường dài nhất là con đường từ tai đến tay. Đức Giêsu muốn chúng ta đi hết con đường đó.

Chúng tôi phải làm ǵ đây? Câu hỏi này được nhắc lại ba lần trong đoạn Tin Mừng.

Những người đến với Gioan để chịu phép rửa đă không chỉ sám hối về quá khứ tội lỗi mà c̣n muốn t́m một hướng sống trong tương lai.

Hoán cải đích thực đ̣i thay đổi cách sống.

Ông Dakêu đă chia phân nửa tài sản cho người nghèo. Gioan mời gọi người có hai áo chia cho kẻ không có.

Hoán cải thực sự đ̣i phải trả giá v́ nó đụng đến bản thân tôi ở chỗ sâu nhất. Chính v́ thế, hoán cải là một ơn mà ta phải xin và can đảm đón nhận.

Mùa Vọng là thời gian hoán cải để chờ Chúa đến.

Nhiều bạn trẻ lo xét ḿnh xưng tội, xưng tội để rồi bắt đầu một đời sống mới, vui tươi và quên ḿnh, công b́nh và bác ái.

Như Phao-lô sau khi bị quật ngă trên đường về Đa-mát, chúng ta cũng muốn đặt câu hỏi: "Lạy Chúa, tôi phải làm ǵ?" (Cv 22,10).

Gợi Ư Chia Sẻ

Có người nhận xét rằng người Công Giáo Việt Nam giữ đạo trong nhà thờ, nhưng chưa sống đạo ở ngoài nhà thờ. Bạn nghĩ ǵ về nhận xét đó?

Bạn hăy chia sẻ một quyết tâm riêng của bạn trong những ngày cuối của mùa Vọng. Nhóm của bạn có thể có một quyết tâm chung không?

Cầu Nguyện

Lạy Chúa, con được no nê mà vẫn thiếu ăn, v́ bên con c̣n có người đói lả.

Con uống nước mát mà họng vẫn khô ran, v́ bên con c̣n có người đang khát.

Con vui cười mà nước mắt tuôn rơi, v́ bên con c̣n có người phiền muộn.

Con sáng mắt mà vẫn ở trong bóng đêm, v́ bên con c̣n có người mù tối.

Con mặc áo đẹp mà vẫn rách tả tơi, v́ bên con c̣n có người trần trụi.

Con nằm trong nệm êm mà vẫn thao thức, v́ bên con c̣n có bao người thiếu thốn.

 
 

7. Suy niệm của McCarthy

Suy Niệm 1. VĨ ĐẠI CỦA GIOAN TẨY GIẢ

Ngày kia, có một người thắp đèn kỳ lạ, tên là ông T. Ông là một người hoàn toàn đáng tin cậy và chính xác như một cái đồng hồ. Mỗi tối, khi trời vừa chập tối, th́ các ngọn đèn dầu luôn luôn được thắp sáng lên. Bằng cách nào mà ông đoán biết được giờ giấc mà không một ai biết được, bởi v́ ông không hề có đồng hồ.

Người ta thường nh́n ra cửa sổ đằng trước, khi ông đi lên đi xuống trên đường, để lại một vệt ánh sáng phía sau ông. Đối với tất cả mọi người, rơ ràng ông yêu mến công việc của ḿnh. Ông sống chỉ v́ một việc duy nhất: đốt lên những ngọn đèn. Cuộc sống của ông không phải là một cuộc sống dễ dàng, nhưng sáng rực một ư nghĩa.

Tất cả mọi người đều yêu quư ông, đặc biệt là các trẻ nhỏ. Khi bóng tối đến đe dọa kết thúc những tṛ chơi trên đường phố của chúng, th́ ông T. đến, cùng với ngọn đèn, và chúng lại được tiếp tục chơi.

Điều ǵ làm cho ông T. trở nên lạ lùng đến thế? Rốt cuộc, có nhiều người yêu mến công việc của ḿnh, và làm một cách trung thành. Tính cách vĩ đại của ông T. hệ tại ở sự kiện rằng ông bị mù ḷa. Con người quá trung thành trong việc đem ánh sáng đến cho những người khác, nhưng lại không bao giờ nh́n thấy bản thân ḿnh.

Cuối cùng, khi có đèn điện, và hiện nay, theo năm tháng, ông T. đă già yếu rồi, th́ ông trở nên một người thừa. Cuộc sống của ông đột nhiên bị mất đi ư nghĩa. Ông cảm thấy ḿnh vô dụng và không c̣n ai mong mỏi nữa. Thật đáng buồn. Những người đă từng quư mến ông, th́ nay đă quên lăng ông. Ánh sáng mới vượt xa ánh sáng cũ quá nhiều, đến nỗi không c̣n ai tiếc nuối ánh sáng cũ nữa.

Ông T. nhắc nhở chúng ta về thánh Gioan Tẩy Giả. Tương tự như ông T., thánh Gioan Tẩy Giả đă làm việc cần cù, để mang đến cho mọi người ánh sáng của bản thân ngài. Ngài đă một nhân vật nổi tiếng, thống trị cả một vùng. Nhưng ngài luôn ư thức rằng có một ánh sáng vĩ đại hơn sắp đến, một ánh sáng mà bản thân ngài không được tiền định để đi vào. Khi ánh sáng đó xuất hiện qua con người của Đức Giêsu, th́ ngài đứng sang một bên, để dọn đường cho Đức Giêsu. Đó là một tính cách vĩ đại.

Không một người nào đến, để làm nổi bật hoặc đạt được sự nổi tiếng cho bản thân ḿnh. Bạn sẽ luôn luôn nhận thấy rằng ở sau hậu trường, có một người tạo điều kiện thuận lợi. Công việc của người đó là giúp đỡ, hướng dẫn và khích lệ bạn. Nói cách khác, để chuẩn bị đường cho bạn. Khi bạn đạt được sự nổi tiếng th́ không ai nh́n đến người dọn đường nữa, và thường bị rơi vào quên lăng.

Để dọn đường, hoặc thậm chí chỉ để dọn pḥng cho người khác, th́ đ̣i hỏi phải có tinh thần khiêm tốn và quảng đại. Thật vậy, công việc này đ̣i hỏi một kiểu chết đi về bản thân ḿnh. Khi rút lui khỏi một chức vụ cao, là chết đi một chút, thậm chí lại c̣n hơn cả một chút nữa. Một số người làm hư việc, khi nắm quyền lực trong một thời gian quá lâu dài.

Các bậc cha mẹ luôn dành ra những năm tháng tốt đẹp nhất cuộc đời ḿnh, để chuẩn bị đường cho những đứa con của họ, theo ư nghĩa là mở lối cho chúng đi vào cuộc đời. Nhưng đến một thời điểm nào đó, cha mẹ phải rút lui, để con cái họ có thể tự đi trên đôi chân của chúng. Một khi đă đem cuộc sống đến cho con cái, th́ cha mẹ cũng phải cho phép chúng được sống cuộc sống đó.

Tất cả chúng ta đều có khuynh hướng thích được nổi tiếng. Có lẽ một cách đầy bất ngờ, chúng ta thường thống trị người khác, và loại bỏ họ vào bóng tối. Chúng ta phải cố gắng chiếu tỏa hết khả năng của ḿnh ra, trong khi vẫn phải cẩn thận, để không ngăn cản đường đi của người khác. Và chúng ta cũng phải ư thức về món nợ đối với người khác, đó là những người đă chuẩn bị đường cho chúng ta.

Suy Niệm 2. BÍ QUYẾT CỦA HẠNH PHÚC

Một trong những chủ đề của các bài đọc hôm nay là chủ đề về hạnh phúc. Tất cả chúng ta đều mong muốn có hạnh phúc. Nhưng bí quyết của hạnh phúc là ǵ?

Lần kia, có một người chăn chiên gửi con trai của ông đến với một người khôn ngoan, để học hỏi bí quyết của hạnh phúc. Khi tới ṭa lâu đài đẹp đẽ, nơi sinh sống của con người khôn ngoan đó, người con trai đó nói với ông ta rằng anh mong muốn được biết về bí quyết của hạnh phúc. Tuy nhiên, thay v́ giải nghĩa cho anh về bí quyết này, con người khôn ngoan đó lại đưa cho anh một cái muỗng chứa đầy dầu, nói rằng: “Con hăy nh́n khắp chung quanh ṭa lâu đài. Trong đi ṿng quanh, con hăy mang theo cái muỗng này, mà không được làm chảy dầu ra”.

Anh thanh niên bắt đầu đi ṿng quanh ṭa lâu đài. Trong khi đi, anh liên tục nh́n vào cái muỗng. Sau hai giờ, anh trở lại căn pḥng, nơi có nhân vật khôn ngoan đó.

Người khôn ngoan hỏi “Tốt, thế con nh́n thấy cái ǵ?”.

Anh thanh niên tỏ ra bối rối, và thú nhận rằng anh không hề nh́n thấy ǵ cả. Mối quan tâm duy nhất của anh là không làm chảy dầu ra, theo như người khôn ngoan đă tin tưởng vào anh. Người khôn ngoan nói: “Vậy th́ con hăy đi trở lại, và quan sát những quang cảnh tuyệt vời trong thế giới của ta. Con không thể tin tưởng vào một người nào, nếu con không biết ǵ về ngôi nhà của người đó”.

Trong tâm trạng khuây khỏa, anh thanh niên cầm lấy cái muỗng, và trở lại với công việc đi khám phá ṭa lâu đài, lần này, anh quan sát tất cả những đồ đạc đẹp đẽ và những tác phẩm nghệ thuật trang trí các căn pḥng của ṭa lâu đài. Sau đó, anh thăm viếng khu vườn, với ṿi nước nguy nga, những bông hoa và những bụi cây xinh đẹp, thưởng thức thị hiếu thẩm mỹ mà tất cả mọi đồ vật được bố trí theo đó. Khi trở về với nhân vật khôn ngoan, anh tường thuật lại từng chi tiết mọi thứ anh đă nh́n thấy.

Người khôn ngoan hỏi: “Nhưng những giọt dầu mà ta đă tin tưởng giao phó cho con đâu rồi?”. Anh thanh niên nh́n xuống cái muỗng, và nhận thấy không c̣n chút dầu nào cả.

Người khôn ngoan nói “À, ta chỉ có thể cho con một lời khuyên mà thôi: Bí quyết của hạnh phúc hệ tại ở khả năng nh́n thấy tất cả những điều tuyệt vời của thế giới, không bao giờ quên lăng những giọt dầu trong cái muỗng”.

Ngay tức khắc, anh thanh niên hiểu được điều mà nhân vật khôn ngoan đang nói. Người chăn chiên có thể ưa thích đi đây đi đó, nhưng người đó không bao giờ được quên đàn chiên của ḿnh. Bí quyết của hạnh phúc bao gồm sự trung thành với những lời cam kết của ḿnh và có tinh thần trách nhiệm, trong khi đồng thời vẫn thưởng thức được hương vị cuộc sống. Thật dễ dàng có hạnh phúc, khi chúng ta đang làm công việc mà ḿnh mong muốn. Nhưng để t́m thấy hạnh phúc trong những công việc mà chúng ta phải làm, chứ không đơn giản là trong công việc mà chúng ta muốn làm, th́ đây là một ân sủng của Thiên Chúa.

Hạnh phúc không phải là một cảm giác tự măn nông cạn. Chúng ta không thể có hạnh phúc, nếu những công việc chúng ta làm đều khác hẳn so với những điều chúng ta tin tưởng. Và không thể có hạnh phúc, mà không có t́nh yêu. Khi chúng ta khước từ t́nh yêu, th́ một cảm giác buồn phiền sẽ thấm nhập vào tâm hồn chúng ta.

Chúng ta cũng không được đánh giá sự vui mừng và lạc thú ngang hàng với nhau. Lạc thú thuộc về cơ thể, c̣n sự vui mừng thuộc về tinh thần. Bạn có thể nhanh chóng ngán ngẩm lạc thú, nhưng bạn không bao giờ chán ngán niềm vui.

Cuối cùng, chỉ duy nhất một ḿnh Thiên Chúa mới có thể đáp ứng được trọn vẹn những giấc mơ của chúng ta. Sự hiện diện của Thiên Chúa chính là nguyên nhân đưa đến niềm vui cho chúng ta. Ngôn sứ Isaia đă nói với dân chúng “Anh em hăy vui mừng lên”. Nguyên nhân của niềm vui đó là ǵ? Bởi v́ “Thiên Chúa đang ở giữa anh em”. Và thánh Phaolô cũng nói với dân thành Philipphê: “Tôi mong muốn cho anh em được hạnh phúc”. Tại sao vậy? Bởi v́ “Chúa rất gần rồi”. Niềm vui mà thế gian này không thể nào mang lại được, chính là niềm vui phát xuất từ ư nghĩ về Thiên Chúa và t́nh yêu của Người đối với chúng ta.

 
 

8. Vui lên anh em

Gần đến lễ Giáng Sinh, người ta thấy h́nh ảnh ông già Noel đủ cỡ xuất hiện khắp nơi. Các em thắc mắc không biết ông già Noel là ai? Và có thật không?

Tháng 9 năm 1987, một bé gái tên là Virginia đă viết cho một tờ báo Công giáo Hoa Kỳ để hỏi về ông già Noel. Câu hỏi của cô bé là: Ông già Noel có thật không?

Vài ngày sau, trên mục quan điểm của tờ báo, người ta đọc được câu trả lời của ông chủ nhiệm kiêm chủ bút như sau: “Virginia yêu dấu của bác. Điều trước tiên bác muốn nói với cháu là: các bạn của cháu thật là sai lầm khi bảo rằng không có ông già Noel. Các bạn của cháu đă bị tiêm nhiễm bởi trào lưu hoài nghi. Họ nghĩ rằng chỉ có thể tin được những ǵ họ thấy tận mắt. Họ nghĩ rằng không ǵ có thể có được nếu trí khôn nhỏ bé của họ không hiểu được.

Virginia ạ! Ông già Noel có thực. Ông có thực cũng như t́nh yêu và ḷng quảng đại, nhờ đó cuộc sống của cháu sẽ trở thành vui tươi và xinh đẹp. Bé ơi, nếu không có ông già Noel th́ thế giới của chúng ta sẽ như thế nào?...”.

Được biết ông già Noel là một nhân vật lịch sử có thật. Người Pháp gọi là Cha Noel (Le père Noel). Người Anh gọi trực tiếp là Thánh Nicola (Santa Claus). Thánh Giám mục Nicola nầy được mừng lễ ngày 6/12 mỗi năm, trước lễ Giáng Sinh gần 20 ngày. Người Pháp thân mật gọi ngài là Cha Noel, v́ ngài liên hệ nhiều với lễ Noel, nhất là với trẻ em. Các em mộ mến ngài như một ông già Noel. Các em được kể rằng nếu chúng ngoan, ông già Noel sẽ chui vào ḷ sưởi, vào pḥng của chúng, bỏ bánh kẹo vào những chiếc giày các em để ở bên ḷ sưởi hay bỏ vào những chiếc vớ các em treo ở chân giường…

Ông già Noel sẽ tiếp tục làm cho tâm hồn trẻ thơ được tràn đầy hoan lạc. Cũng vậy, lời Chúa của Chúa Nhật thứ III Mùa Vọng hôm nay mời gọi chúng ta hăy vui lên. Không phải vui v́ có ông già Noel, v́ quà tặng, v́ những thiệp chúc mừng, v́ đèn sao, máng cỏ… Những niềm vui hời hợt bên ngoài ấy sẽ qua mau nhưng niềm vui đích thực sẽ c̣n măi, cả trong lúc lo âu, thất bại. Niềm vui đó bén rễ sâu trong lời cầu nguyện và đó là dấu chỉ của người Kitô hữu.

“Anh em hăy vui luôn trong niềm vui của Chúa!”

Qua bài đọc thứ nhất, Tiên tri Sôphônia cất lên những tiếng kêu đầy lạc quan: “Hỡi Israel, hăy hân hoan. Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hăy nhảy mừng. Chúa đă rút lại lời kết án. Vua Israel là Chúa ở giữa ngươi, ngươi sẽ không c̣n sợ tai hoạ nữa”.

Thưa anh chị em,

Lời đó có an ủi được chúng ta hay không, khi mỗi ngày tai chúng ta nghe sang sảng từ trong đài phát thanh những tin tức bi đát của một thế giới đang c̣n nhiều điểm nóng chiến tranh, c̣n những cuộc tranh chấp v́ bất công, v́ đói khổ; khi mắt chúng ta c̣n thấy nhan nhản những chiếc khăn sô chít trên đầu, những đàn con mất cha mất mẹ; c̣n chứng kiến biết bao bệnh nhân trong các bệnh viện rên la đau đớn…

Khi nghe, khi nh́n các điều đó, có phải chúng ta là người ngoài cuộc không? Chúng ta thấy hoà b́nh và hạnh phúc trộn lẫn những mối nguy đang đe doạ chúng ta. Trong thực tế, chúng ta vẫn lo lắng và đau khổ, mà chính những cơn băo táp trong ḷng, những cái mâu thuẫn giữa con tim, giữa lư trí, làm chúng ta xao xuyến băn khoăn. Thánh Phaolô đă cảm nghiệm điều đó trong bản thân và ngài đă thốt ra những lời chân thành của một con người chân đạp đất: “Sự lành tôi muốn th́ tôi không làm; c̣n sự không muốn th́ tôi lại làm”.

Tuy nhiên chúng ta vẫn có thể mỉm cười trong đau khổ và vui tươi trong thử thách, khi chúng ta xác tín rằng Thiên Chúa vẫn hiện diện trong đau khổ của chúng ta. Niềm xác tín này làm nảy sinh và gia tăng niềm hy vọng hân hoan. Nhưng làm sao để nhận thấy “Đấng đang đến” gần kề? Làm thế nào để nhận ra “Đấng đang ở giữa ngươi?” Gioan Tẩy Giả đă đưa ra những chỉ dẫn cụ thể cho những người hỏi ông: “Chúng ta phải làm ǵ?” – “Ai có hai áo th́ hăy chia cho người không có. Ai có cái ăn th́ cũng làm như vậy” – “Đừng đ̣i hỏi quá mức ấn định” – “Chớ dùng vũ lực, cũng đừng vu khống mà tống tiền người ta. Hăy an phận với số lương của ḿnh”. Nói chung, Gioan đưa ra những hướng đi cụ thể: bác ái, chia sẻ, chấp nhận thực tại, sống hiền hoà, công b́nh, chính trực trong các mối tương quan xă hội. Sống như vậy là chuẩn bị đón nhận Đấng Cứu Thế, là đặt ḿnh vào trong hàng ngũ những kẻ bé mọn của Thiên Chúa. Chính những người bé mọn này mới cảm thấy vui mừng và hy vọng, v́ nhận ra Chúa sắp đến, đang đến… Ngài sẽ thay đổi tất cả, đổi mới toàn thế giới và xă hội.

Chính v́ thế mà trong Mùa Vọng, Chúa Nhật III bao giờ cũng nổi bật nét hân hoan: “Anh em hăy vui lên!”. Hăy hoan hỉ vui mừng v́ Chúa giải thoát đă đến và đang ở với chúng ta. Ngài đang thực hiện một cuộc đổi mới toàn diện, đang quy tụ muôn nước thành một dân một nước: Dân Chúa, Nước Trời. Không phải bằng vũ lực khống chế, nhưng bằng sự giải thoát loài người khỏi những ràng buộc của tội lỗi, ích kỷ, nhỏ nhen, bất chính; bằng cách sống liên đới yêu thương, chia cơm sẻ áo; bằng cách sống công b́nh, chính trực và chan hoà với mọi người.

Anh chị em thân mến,

Có phải là điều viễn vông không, khi chúng ta nhắc lại lời mời gọi của Phụng vụ: “Anh em hăy vui lên!”. Vui làm sao được khi đông đảo dân chúng đang nghèo đói, đau khổ? Phải chăng là để nhạo cười những người này mà Giáo Hội cứ lập lại những lời cũ rích, không gắn liền với cuộc sống thực tế lúc này? Bởi v́, hơn bao giờ hết, vấn đề cơm áo, phát triển, quyền con người đang là những vấn đề nóng bỏng trên hành tinh này cũng như trong xă hội hiện tại của chúng ta.

Lời Chúa trong Cựu Ước cũng như trong Tân Ước đều cho chúng ta thấy rơ đâu là niềm hy vọng của những kẻ tin, đâu là lư do hân hoan của những người bé nhỏ của Thiên Chúa: Thiên Chúa Cứu Độ, đó là tất cả động lực của cuộc sống và cuộc chiến đầu của người tin theo Chúa Kitô. Thiên Chúa nhập thể và cứu độ là căn bản để giải quyết mọi vấn đề: Thiên Chúa nhập thể để chúng ta được sống như con cái, nghĩa là, như những con người tự do và trách nhiệm, những con người tự nguyện cống hiến cho anh em, cho xă hội. V́ vậy, trong bất cứ một hoàn cảnh bế tắc khó khăn nào, người có ḷng tin rằng mọi phấn đấu của ḿnh và của loài người đều mang một ư nghĩa cứu độ: ư nghĩa dọn đường cho Nước Trời, cho Đức Giêsu của Thiên Chúa ngự đến.

Muốn hoà ḿnh vào niềm vui của Phụng vụ, người Kitô hữu và Giáo Hội không thể không liên đới với những người đang khao khát đổi mới, đang khát vọng phẩm giá con người. Hơn thế nữa, Giáo Hội Chúa Kitô không thể đứng ngoài những cuộc đấu tranh cho hoà b́nh, b́nh đẳng, tôn trọng con người, phát triển xă hội mà loài người đang theo đuổi. Sống Mùa Vọng là sống liên đới với người nghèo, là sống công b́nh với tha nhân, là sống hoà giải với hết mọi người, là sống yêu thương, an b́nh trong mọi hoàn cảnh, là đấu tranh cho t́nh huynh đệ và khơi lên niềm vui cho những ai đang chán nản, thất vọng chán chường v́ không có niềm tin, v́ đă mất niềm tin nơi con người, nơi xă hội và cả nơi Thiên Chúa nữa.

Vui lên anh em! Hăy vui lên trong niềm vui của Chúa!

 
 

9. Chú giải mục vụ của William Barclay

GIOAN KÊU GỌI HOÁN CẢI

Đây là sứ điệp của Gioan cho dân chúng. Tại đây sự khác biệt giữa Gioan và Chúa Giêsu được hiểu rơ nhất, bởi v́ dù sứ điệp của Gioan là ǵ đi nữa, đó cũng không phải là Phúc Âm, không phải tin vui mừng, đó là tin đáng kinh sợ. Gioan đă sống trong hoang địa. Hoang địa bị cây cỏ và bụi rậm che phủ, khô như bùi nhùi. Đôi khi chỉ một tàn lửa cũng làm cháy lan tràn khiến nhiều rắn độc từ các khe hở sợ hăi chui ra ngoài để trốn cơn hoả hoạn đang đe doạ đốt cháu chúng. Gioan đă v́ đám dân đến chịu phép rửa với những loài rắn đó. Người Do Thái không chút nghi ngờ trong chương tŕnh của Chúa, dân tộc họ rất được ưu đăi. Họ tin rằng Chúa xét xử các dân tộc khác theo một luật, nhưng Ngài xét xử dân Do Thái theo một luật khác. Họ tin rằng là người Do Thái, là con cái của Ápraham th́ họ được miễn trừ xét xử. Gioan bảo họ rằng đặc quyền chủng tộc chẳng có ư nghĩa ǵ, tiêu chuẩn xét xử của Chúa là đời sống chứ không phải ḍng giống. Có ba điểm nổi bật trong sứ điệp của Gioan:

1. Nó bắt đầu bằng một lời yêu cầu mọi người phải tương trợ lẫn nhau. Đó là một Phúc Âm xă hội, Chúa sẽ không bao giờ tha cho kẻ nào thích có quá nhiều trong khi nhiều kẻ khác th́ không đủ cung ứng cho nhu cầu.

2. Nó không cho phép người ta bỏ công việc ḿnh, nhưng phải t́m sự cứu rỗi bằng cách làm tṛn bổn phận ḿnh. Người thâu thuế phải làm việc cách ngay thẳng, bộ đội làm xong nghĩa vụ. Mỗi chúng ta phải phục vụ Chúa hết ḷng tại nơi Chúa đặt chúng ta. Theo Gioan, ngươi ta không thể phục vụ Chúa ở đâu tốt hơn là ngay trong chính công việc hàng ngày của ḿnh.

3. Gioan cũng xác nhận rằng chính ông cũng chỉ là một sứ giả. Vua sẽ đến sau và Ngài sẽ đến với sự xét xử. Cái quạt lúa làm tấm ván mỏng, rộng để tung những hạt lúa trên không, hạt lúa nặng th́ rơâi xuống đất và trấu bay đi. Cũng như vậy, Gioan vẽ một bức tranh về sự phán xét, nhưng đó là sự phán xét mà một người có thể đối diện với ḷng tin cây, nếu người ấy làm tṛn bổn phận với anh em ḿnh và trung tín trong công việc hàng ngày. Gioan là ḿnh một trong những thầy dạy vĩ đại nhất của thế giới. Thật vậy, Gioan đă giảng về hành động và đă hành động, ông không giảng về những ǵ khó hiểu của thần học, ông giảng về đời sống.

 
 

10. Chú giải mục vụ của Hugues Cousin

PHƯƠNG DIỆN ĐẠO ĐỨC TRONG LỜI RAO GIẢNG CỦA GIOAN

Phương diện đạo đức trong lời rao giảng của Gioan (cc. 10-14) được tŕnh bày dưới h́nh thức đối thoại. Cả ba lần cũng một câu hỏi được lặp lại: “Phải làm ǵ?”. Đâu là những thay đổi đời sống cụ thể sẽ diễn tả ra bên ngoài sự hối cải sâu xa? Lời đáp của diễn giả đáng lưu ư ở hai điểm. Một đàng nó bao gồm những hành vi xă hội của con người và không đ̣i hỏi hy lễ đền tội, cũng như thực hành khổ chế; đàng khác, phải giúp đỡ những người túng thiếu, phải trung thực và công b́nh trong nghề nghiệp của ḿnh. Đó là những đ̣i hỏi vượt quá luật Môsê và bắt buộc tất cả mọi người, người không cắt b́ cũng như người Do Thái. Sự cần thiết phải hoán cải có tính cánh phổ phát, cũng như ơn cứu độ được trao ban (x. 6); điều có ư nghĩa là chính đám đông hiện diện trong hoạt cảnh này.

Cũng cần ghi chú thêm là những đ̣i hỏi này không được đặc biệt tô điểm lời rao giảng có tính cánh chung ở các câu 7-9. Gioan không loan báo ǵ về sự đảo lộn các cơ cấu xă hội (so sánh với Chúa Giesu ở Lc 6,20-26); ông không đ̣i hỏi các người thu thuế đoạn tuyệt với người Rôma xâm lược mà họ đang cộng tác, cũng không bảo các người lính Do Thái phục vụ trong đạo binh của Hêrôđê phải đào ngũ. Ông không kêu mời ai bỏ tất cả mọi sự để theo ông; điều mà Chúa Giêsu đ̣i hỏi nơi một bậc vị vọng ở La 18,22 sẽ triệt để hơn! Đối với Luca, việc chia sẻ trở lại điều này. Ở đây chỉ cần để ư là ông Giakêu – người thu thuế (Lc 19,8) hứa với Chúa Giêsu sẽ đền bù những thiệt hại cho người khác – chính là điều Gioan đ̣i hỏi những người anh em ḿnh – và dâng tặng cho người nghèo khó phân nửa gia tài của ḿnh – đó là lời đáp của Gioan cho đám đông nghĩa là cho tất cả mọi người.

Cánh cửa chót trong lời rao giảng của vị Tẩy Giả (cc. 15-18) được khai mở bằng một câu hỏi mà mọi người đặt ra: phải chăng Gioan là phẩm phán quan thuộc ḍng Đavit sẽ đến thiết lập nền ḥa b́nh và công chính mà dân trông đợi? Rơ ràng khía cạnh cánh chung trong sứ điệp của Gioan kép chú ư thính giả hơn là khía cạnh đạo đức...

Lúc đó vị Tẩy Giả định nghĩa vai tṛ của ḿnh trong tương quan với Đấng sẽ đến. Việc nhận ch́m trong ḍng nước khác với phép rửa bằng thần khí và bằng lửa mà Chúa Kitô sẽ ban kể từ ngày Ngũ tuần (Cv 2). V́ vậy, Gioan không xứng đáng với lao dịch chỉ dành cho hàng nô lệ, đó là cởi dép cho Đấng sẽ là người cải cách phong tục một cách quyết liệt khác với kiểu của ông. Cụm từ “Đấng đến sau tôi” (x. Mt, Mc và Ga) xác nhận lúc đầu rằng Chúa Giêsu thuộc nhóm đệ tử của Gioan đă được cẩn thận sửa chữa: Chúa Giêsu chỉ đến sau vị Tẩy Giả theo nghĩa thời gian thôi! Vị sứ giả cuối cùng, theo như Gioan mô tả, trước hết là vị thẩm phán vào thời cuối cùng; Ngài sẽ tẩy sạch dân Ngài khỏi những cáu bẩn để chúng vĩnh viễn biến mất.

Cuối cùng hai động từ tiêu biểu cho diễn từ của vị Tẩy Giả –khuyến dụ– đó sẽ là một hoạt động đặc biệt của các thừa sai Kitô giáo, Cv 2,40; 15,22 – và nhất là loan báo Tin Mừng/Phúc Âm hóa. Như thế, trước cặp mắt của Luca, vị Tiền hô khai mạc việc rao giảng trong thời đại cuối cùng. Nhưng việc Phúc Âm hóa này, về mặt h́nh thức, không có nội dung, trong khi mà ở thời đại Kitô, Tin Mừng thường quen được xác định rơ: Tin Mừng về Vương Quốc (Lc 4,43; 8,1; 16,16; Cv 8,12) hoặc, sau Phục Sinh, Tin Mừng về Chúa Giêsu như Đấng Kitô và Đức Chúa (Cv 5,42; 11,20). Khi không nói Tin Mừng về Vương Quốc qua môi miệng của vị Tiền hô, Luca chứng tỏ rằng Gioan rao giảng khác với Chúa Giêsu; ông dẫn vào kỷ nguyên mới, không thuộc về lĩnh vực của Chúa Giêsu. Và nếu không có vấn đề đảo lộn các giá trị trong chương tŕnh của vị Tẩy Giả, chính bởi v́ việc đảo lộn này được gắn liền cách nội tại với việc Thiên Chúa đến.

 
 

11. Suy niệm của R. Gutzwiller

NHỮNG LỜI GIẢNG CỦA VỊ TIỀN HÔ (3, 7-20)

Những lời khuyến cáo của Gioan, hoàn toàn phù hợp với sứ mạng của ông trong việc sửa dọn đường cho Chúa sắp đến. Những lời giảng đó bao gồm hai giáo huấn:

1. Sửa dọn.

Như các vị ngôn sứ xưa, Gioan coi nước cứu độ như quà tặng ban một lần hay tất cả. Ư niệm về một Đấng Messia đến hai lần, lần đầu là lần sửa soạn, rồi trong ngày thế mạt là lần quyết định để hoàn tất nước Thiên Chúa, c̣n là cái ǵ xa lạ với Ngài. V́ thế Ngài đă nh́n Đấng Messia như vị Thẩm phán sẽ đến. Những lời cảnh cáo đánh dấu đặc tính quan hệ và cấp bách của cuộc sửa soạn được đ̣i hỏi ở đây.

‘Cuộc thẩm phán trong thịnh nộ’ sẽ đến và chẳng ai tránh được. Cái ŕu đă được đặt ở gốc cây, người ta sẽ chặt những cây cằn cỗi và gỗ của nó sẽ bị vứt vào lửa. Cây nào cũng phải sai trái: đối với Israel hoa quả này là thống hối, thay đổi tâm trí, nhận biết tội riêng của ḿnh. Nhưng những người Do thái chưa sửa soạn đủ: họ cậy ḿnh thuộc đ̣ng dơi huyết tộc của Abraham, và vẻ bên ngoài thuộc về dân Thiên Chúa. Thực ra, đó là t́nh trạng tâm trí hoàn toàn sai lầm, v́ trước Đấng có thể biến ḥn đá thành con cháu Abraham, th́ nó chẳng có nghĩa ǵ.

Thay v́ liên hệ huyết tộc, sẽ xuất hiện liên hệ thiêng liêng. Thay v́ thuộc về dáng vẻ bên ngoài, là thuộc về bên trong, thuộc về Thiên Chúa.

Trong phạm vi tôn giáo, ai chỉ liên kết với yếu tố bên ngoài, với cơ chế hữu h́nh của Giáo Hội, với một chức vụ hay với một nhiệm sở chính thức hoặc với những công tác bên ngoài, với những hoạt động cá nhân mà chẳng thêm vào đó: những t́nh cảm, sám hối, sự nhận thức về t́nh trạng tội lỗi của ḿnh và ḷng ao ước chân thành một cuộc hoán cải sâu xa, th́ đó chưa thể được kể là con cháu Abraham, huống nữa là con cái Thiên Chúa. Họ thuộc về ‘loài rắn độc’. Vậy ra họ là con ma quỉ chứ không phải con Chúa.

Sự cải thiện thực sự kéo theo những hoa quả hữu hiệu về sám hối, hẳn sẽ biểu lộ rơ khi con người bắt đầu làm những việc lành cách vô vụ lợi. ‘Kẻ có hai áo, hăy chia cho người không có, và kẻ có của ăn, cũng hăy làm như vậy’.

Thời nào cũng vậy, các ngôn sứ, vẫn đặt ưu tiên phong hoá trên lễ nghi, hay ít là đ̣i hỏi phải có những chuẩn bị về luân lư và hành vi nhân đức như yếu tố bất khả kháng của các cuộc lễ. Chính vị tẩy giả cũng đ̣i phải việc từ thiện không tính toán, đ̣i phải giúp nhau, mở rộng bàn tay như dấu chỉ của một tâm hồn quảng đại.

Hoa quả của sám hối là đức ái hoạt động phát xuất từ sự hoán cỉa nội tâm. Cái nh́n hướng lên Thiên Chúa phải làm dội lại sâu xa hơn cái nh́n hướng về tha nhân; quay về với Thiên Chúa mà không biến đổi những liên hệ với đồng loại th́ chỉ là một việc đạo đức giả.

Bản văn Tin mừng c̣n đặc biệt nhắc tới những người thu thuế và lính tráng. Đối với dân Israel, những phần tử của hai hạng người này coi như đă hỏng v́ họ tiếp xúc với dân ngoại (tự bản chất là dơ dáy) và v́ nghề nghiệp của họ mang đến những hành vi bất nhân và làm giàu cách bất chính. Vị tẩy giả nghĩ khác. Ngài quảng đại đối với họ, chỉ đ̣i hỏi họ những cái nhỏ bé nhất: với những người thu thuế, Ngài nói: “Chớ đ̣i ǵ quá mức đă định cho các anh’. Họ phải giữ tiết độ đúng mức. Vượt quá kích thước đă định mới là điều không hợp với ḷng đạo đức chứ không phải v́ nghề nghiệp. Những người lính đă nhận đươc một mệnh lệnh tương tự: ‘đừng xách nhiễu, đừng vu khống cho ai, hăy bằng ḷng với số lương bổng của ḿnh’. Đó lại là một sự khuyến khích giữ giới hạn của ḿnh. Binh nghiệp tự nó đâu phải là xấu, mà cũng chẳng có ǵ là đáng chê trách khi phục vụ cho thế quyền. Nhưng chắc chắn phải tố giác việc dùng sức mạnh theo sở thích, sử dụng quyền hành và khí giới cách đáng trách và sự bất măn, là nguồn mọi tham vọng.

2. Đức Messia đến.

Dân chúng coi Gioan như Đấng Messia. Nhưng vị tiền hô cũng không phải là Vua; nên Ngài nói: ‘không phải ta đâu, mà là Đấng khác’. Vị tiền hô hướng họ tới Đức Kitô. Đó không phải là người ích kỷ, v́ người ích kỷ th́ vẫn muốn chiếm đoạt tha nhân, nhưng đây là người của Chúa, một người bất vụ lợi đưa đường tha nhân về với Thiên Chúa. Phải, giữa Đấng Messia và Ngài có một sự cách biệt quá lớn lao như người đầy tớ nghĩ ḿnh không đáng cởi giây giày cho chủ ḿnh.

Cả hai phép rửa cũng khác nhau như vậy. ‘Tôi, tôi rửa anh em trong nước, sẽ có Đấng quyền năng hơn tôi: Ngài sẽ rửa các ông trong Thánh Thần và trong lửa’. Phép rửa của Gioan chỉ là bên ngoài, như nước chảy trên thân xác, c̣n phép rửa của Chúa Giêsu, bên trong, như lửa thiêu huỷ tất cả, như Thánh Thần mà sức nóng của Ngài ăn sâu vào tận đáy ḷng và biến đổi tất cả.

Để hoàn tất lời giảng, Gioan c̣n nhấn mạnh tới việc hệ trọng của giờ đă đến. Phải có vị trí nào với Chúa Kitô. Phải quyết định, v́ Đức Kitô sẽ đến thi hành một cuộc phân cách. Ngài sẽ sảy sạch lúa sân Ngài, thu lúa vào lẫm, và đốt hết trấu.

Sứ điệp của Gioan đă bắt đầu bằng những lời giảng về phán xét th́ cũng bằng những lời đó Ngài kết thúc. Người ta, một khi bị gọi tŕnh toà, hẳn phải nhận thức được tầm quan trọng của lúc đó. Họ c̣n được tuỳ ư sắp xếp công việc, để có thể tự biện hộ cho ḿnh. Nhưng ở đây đă thực cấp bách. Sự phân cách và phán xét đă đang xảy ra rồi: sau cùng, tŕnh thuật Tin mừng đă ám chỉ việc này.

Thực ra dân chúng có đón nhận ‘Tin mừng’ mà họ biết nhận ra dưới những lời lẽ long trọng và có tính cách đe doạ đó. Tin mừng đă bắt đầu. Nhưng nó lại là khởi sự của một chống đối. Hêrôđê mà liên hệ tội lỗi với chị dâu bị lời Chúa cảnh cáo đă lợi dụng quyền hành của ḿnh để bắt giam vị tẩy giả. Sự phân cách các tâm trí bắt đầu, và cùng với sự phân cách đó là sự phán xét.

 
 

12. Chú giải của Noel Quesson

Đám đông hỏi ông rằng: "Chúng tôi phải làm ǵ đây?"

Gioan Tẩy giả "Rao giảng kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ ḷng sám hối để được ơn tha tội". Chúng ta đă đọc như thế trong Chúa nhật trước. Đám đông người Palestine thời Đức Giêsu gồm có những nông dân, đơn giản và thực tế; họ muốn sống phù hợp với phép rửa của họ. "Chúng tôi phải thay đổi những ǵ trong cuộc sống? Chúng tôi phải làm ǵ?".

Chúng ta đă nhận phép rửa để tha tội trong t́nh trạng vô ư thức của thời thơ trẻ. Nhưng suốt cuộc đời ư thức trưởng thành, chúng ta phải sống lại "dấu chỉ" này, bí tích hoán cải này. Và chúng ta biết rằng, bí tích rửa tội đúng ra không thể tái diễn được nữa, chúng ta có thể sử dụng điều mà thần học truyền thống gọi là "phép rửa thứ hai"; đó là “bí tích sám hối" mà chúng ta chuẩn bị nhận lănh để chúng ta cũng đón tiếp Đấng sẽ đến.

Cũng như đám đông Palestine, chúng ta không thể thỏa măn với những lời nói suông với những nghi lễ. Chúng ta cần phải nhiệt t́nh đặt câu hỏi với Chúa: "Lạy Chúa, con phải làm ǵ để trở thành Kitô hữu?".

Ông trả lời: "Ai có hai áo, th́ chia cho người không có; ai có ǵ ăn, th́ cũng làm như vậy."

Lời rao giảng của Gioan Tẩy giả là rơ ràng, chính xác và cần thực hiện ngay không được chậm trễ. Nó không có ǵ thuộc phạm vi trí thức hay khó hiểu cả, chính trong cái b́nh thường nhất hay tầm thường nhất của cuộc sống hằng ngày (ăn, mặc...) mà sự "hoán cải" qua thân xác, sự quay lại của tâm hồn gọi là "métadola” cần được thực hiện.

Để xét xem những cách tuyên xưng đức tin của bạn có đúng hay không, bạn không nên kiểm tra tính xác thực có vẻ lư thuyết của chúng trong sách vở... nhưng tốt hơn hăy nh́n vô tủ áo, tủ chứa đồ ăn, những ngăn kéo và trương mục ngân hàng của bạn. Hăy chia sẻ - Hăy cho một nửa đi- Lạy Chúa, Chúa yêu cầu con những ǵ?

Chúng con nhận thấy rơ Luca người loan báo Tin Mừng của Chúa sẽ nêu gương cho chúng con qua cử chỉ điên rồ của tên vô lại Da-kêu trưởng ban thu thuế thành Giêrikhô: "Tôi cho người nghèo phân nửa tài sản của tôi" (Lc 19,9). Luca c̣n kể lại rằng, chính Đức Giêsu đă bảo những người giàu có đương thời sống, chia sẻ, thay v́ quá lo lắng đến sự "trong sạch" của họ (Lc 11,41). Luca cũng cống hiến cho chúng ta gương mẫu của toàn thể cộng đoàn Kitô hữu: "Họ để mọi sự làm của chung" (Cv 2,44 - 4,32-35). C̣n chúng ta th́ sao?

Cũng có những người thu thuế đến chịu phép rửa. Họ hỏi ông: "Thưa thầy, chúng tôi phải làm ǵ?" Ông bảo họ: "Đừng đ̣i hỏi ǵ quá mức đă ấn định cho các anh." Binh lính cũng hỏi ông: "C̣n anh em chúng tôi th́ phải làm ǵ?" Ông bảo họ: "Chớ hà hiếp ai, cũng đừng tống tiền người ta, hăy an phận với số lương của ḿnh."

Từ những đám đông này, Luca rút ra được hai loại người: thu thuế và cảnh sát. Đó là những người bị người ta ghét nhất thời đó, là những người ít tư cách nhất để đón tiếp Đức Giêsu, những người sống ngoài xă hội và bị khinh bỉ, những người tội lỗi nhất, những hạng người "đểu cáng".

Ở đây chúng ta cũng nhận ra rằng Tin Mừng theo Thánh Luca sẽ cho chúng ta thấy Đức Giêsu "dùng bữa nơi nhà những người tội lỗi" (Lc 5,27-30). Làm cho những người công chính rất bất b́nh Đức Giêsu, "ngụ tại nhà người tội lỗi" (Cl 19,7) làm cho những "người đàng hoàng" phải bực bội. Đức Giêsu nói rằng Người đến không phải v́ những người công chính (Lc 5,32).

Mọi người sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa (Lc 3,6) cả những người thu thuế và những binh lính, cả những người tội lỗi, và cả tôi nữa. Lạy Chúa, Tạ ơn Chúa về ḷng từ bi của Chúa.

Đối với những người thu thuế và cảnh sát của quân đội chiếm đóng, Gioan Tẩy giả không yêu cầu họ đổi nghề, nhưng chỉ cần có cung cách sống mới, tôn trọng công lư, không lạm dụng sức mạnh ḿnh có trong tay, bằng ḷng với những ǵ mà quyền lợi và luật pháp đă quy định. Tất cả những lời khuyên trên đây thuộc lănh vực nghề nghiệp. Chúng nhằm đến những tội lỗi, mà người thu thuế và binh lính thời bấy giờ thường hay vấp phạm: làm giàu bằng cách lợi dụng tư thế bất khả xâm phạm do nghề nghiệp của ḿnh, lợi dụng thế mạnh nhất của ḿnh đang nắm giữ.

C̣n tôi th́ sao? Tôi thường phạm những tội nào do nghề nghiệp, địa vị của tôi?

Tội của linh mục? Của giáo sư? Của nhân viên văn pḥng? Của cô y tá? Của y sĩ? Của công chức? Của chủ xí nghiệp? Của người thợ ăn lương? Của người buôn bán? Của con cái? Của cha mẹ? Của nữ tu sĩ? Xă hội đă đổi mới biết bao, nếu tất cả những người được rửa tội đều cử hành một "phụng vụ sám hối" đích thực.

C̣n chúng ta, chúng ta phải làm ǵ?

Tŕnh thuật của Luca có thể dừng ở đó. Nhu cầu "hoán cải” có thể dừng lại ở phương diện nhân bản, xă hội và luân lư. Thế nhưng, đám đông lại chờ đợi một cái ǵ khác.

Hồi đó, dân đang trông ngóng, và trong thâm tâm, ai nấy đều tự hỏi: biết đâu ông Gioan lại chẳng là Đấng Mêsia!

Ở đây Luca đổi từ ngữ những "đám đông" (tiếng Hy Lạp là ochloi) bây giờ trở thành một "dân tộc" (tiếng Hy Lạp là laos). Khối dân chúng nặc danh đạt được một phẩm giá mới, nhờ tự đặt ra cho ḿnh một câu hỏi: họ không chỉ đợi một cái ǵ đó nữa, mà là một Đấng nào đó... Khát vọng căn bản của họ, là một ước muốn thầm kín, nằm sâu trong ḷng họ, mà họ không biết diễn tả hay không dám diễn tả. Biết bao người ngày nay cũng như thời bấy giờ không biết "gọi tên Đấng - mà họ mong đợi trong ḷng". Có một Đấng Cứu chuộc hay không? Chúng ta có thể trông cậy ở một Đấng Mêsia, một Đấng Thiên Chúa sai đến để giải thoát tận căn những khổ đau của chúng ta không?

Ông Gioan trả lời mọi người rằng: "Tôi, tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, nhưng có Đấng mạnh thế hơn tôi đang đến, tôi không đáng cởi quai dép cho Người.

Bề ngoài, người ta không nghe thấy họ đặt câu hỏi cách rơ ràng, nhưng Gioan Tẩy giả, do một thứ ân sủng ngôn sứ, đă đọc thấy trong ḷng họ. Tôi có biết lắng nghe những ǵ thầm kín trong ḷng các bạn đồng nghiệp, người lân cận và bạn bè của tôi không? Từ những vấn đề thuộc nhân quyền, tôi có đi đến chỗ nh́n nhận sự hiện diện của Thiên Chúa không? Người đă mời họ mở tủ áo, mở tủ đồ ăn của họ. Bây giờ Người mời họ mở ḷng họ ra để tiếp gặp một Đấng đang tiến đến phía họ. Hăy lắng nghe! Lắng nghe. Những bước chân của Chúa đang đến với bạn đó.

Đối với Gioan, không chỉ có những diễn viên hiện diện trên sân khấu: đám đông, người thu thuế, binh lính, v.v... Nhưng có một diễn viên chính c̣n đang ẩn nấp. C̣n đối với tôi th́ sao?

Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần và lửa.

Đây chính là trung tâm của tŕnh thuật Tin Mừng: Sự can thiệp cần thiết của Thiên Chúa. Hoán cải có thể là một hành vi không thường dễ dàng. Gioan Tẩy giả chỉ đ̣i hỏi những việc tầm thường. Các bạn hăy thử đi? Những điều Thiên Chúa đ̣i hỏi, dù có nhiều dạng thức nhưng đều là những ǵ khó có thể thực hiện: “Hoán cải", "trở lại", đổi đời đều khó thực hiện, nếu con người chỉ dùng sức riêng của ḿnh. Cần phải có một hành vi của Thiên Chúa: Mỗi bí tích là một hành vi của Thiên Chúa, bằng và hơn một hành vi của con người.

Để mô tả tác động của Thiên Chúa, Gioan Tẩy giả dùng ba h́nh ảnh: Sự d́m xuống nước, gió và lửa. Trong tiếng Aramên cũng như trong tiếng Do Thái, cùng một từ là “ruah" có nghĩa vừa là "gió" vừa là "tinh thần". Lối chơi chữ này muốn cho ta hiểu rằng, Thần khí của Thiên Chúa sẽ lay chuyển chúng ta như một cơn gió băo, một cơn băo táp mà ta bị "nhận ch́m", bị "d́m sâu” trong đó. Và Thần Khí của Thiên Chúa cũng như một ngọn lửa sẽ đốt cháy và thiêu hủy những nhơ bẩn của ta. Quả nhiên, khi Luca mô tả phép rửa trong Thánh Thần, Đấng "hoán cải” các tông đồ, th́ trong ngày lễ Ngũ Tuần, sự kiện đó sẽ diễn ra qua một "tiếng gió mạnh" và những h́nh lưỡi giống như lưỡi lửa" (Cv 2,2-3).

Để giúp bạn tưởng tượng ra bí tích sám hối ngày Giáng sinh (phép rửa thứ hai), bạn hăy thử coi bạn như đang ở trong sức thiêu đốt của một cơn băo lửa... sẽ đổi mới bạn. Ôi, sự thiêu đốt đầy hạnh phúc của Thần Khí Thiên Chúa! Chúng ta có khuynh hướng biến những "chất nổ" Tin Mừng thành những thứ "kẹo bánh" dịu ngọt, tuy nhiên, đâu có hoàn toàn giống như thế!

Tay Người cầm nia rê sạch lúa trong sân: thóc mẩy th́ thu vào kho lẫm, c̣n thóc lép th́ bỏ vào lửa không hề tắt mà đốt đi."

Ở đây đúng là đang nói về Đức Giêsu: Người đến, tay cầm "nia" như vị thẩm phán ngày cánh chung để thu dọn và quét sạch một lần cuối cùng. Bạn đă bao giờ nh́n thấy một người rê thóc trên sân phơi của anh ta chưa? Vào một ngày có gió lớn, anh ta đứng thẳng, tay cầm chiếc nia lớn chứa thóc lẫn lộn với trấu và bụi bặm... rồi anh ta đổ xuống. Lúc đó, gió sẽ tách rời hạt nặng hơn khiến chúng rơi thẳng xuống, c̣n rơm trấu th́ gió thổi đi xa. Người ta đem lúa vào vựa người ta đốt rơm trong lửa.

Chúng ta chớ lừa gạt chính ḿnh. Chúng ta cũng không thể lừa gạt được Thiên Chúa. Một ngày nào đó, chúng ta sẽ thấy những ǵ có giá trị, có trọng lượng trong cuộc sống của ḿnh, và những ǵ không có giá trị trong ḷng dạ con người: Có bao nhiêu thóc? hay chỉ là rơm rác?

Mong sao cho "gió và lửa" của Thần Khí ngay từ bây giờ hăy làm ra sự thật. Nhờ "phép rửa thứ hai" tôi lănh nhận, nhờ "hành động của Thiên Chúa", tôi sẽ cố gắng làm nên sự thật, để chọn lựa trong cuộc sống của tôi, giữa ích kỷ và t́nh thương, giữa đàn áp và công lư, giữa tính ích kỷ làm nhơ bẩn t́nh yêu của tôi và t́nh yêu trong sự trong sạch của nó, giữa thái độ thực sự ngóng đợi Thiên Chúa và thái độ lănh đạm buồn thảm đầy duy vật.

Ngoài ra, ông c̣n khuyên dân nhiều điều khác nữa, mà loan báo Tin Mừng cho họ.

Sự phán xét này không phải là những điều khủng khiếp đáng sợ, mà là một "Tin Mừng". Chúa phán: "Không đâu, sự ác sẽ không tồn tại luôn măi. Ta đă cầm nia rồi đấy”. Tạ ơn Chúa.

 
 

13. Chú giải của Fiches Dominicales

GIOAN RAO GIẢNG MỘT TIN MỪNG KÊU GỌI ĐỔI MỚI

VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Từ những “đám đông” hỏi Gioan cho biết phải làm ǵ.

Chúa nhật tuần rồi, Luca đă tán tụng gốc gác thần linh – “Lời Thiên Chúa" - sứ mệnh của Gioan Tẩy Giả, trước khi liệt ông vào phẩm trật các ngôn sứ của Cựu ước mà ông đang thực hiện những lời loan báo về ông.

Hôm nay Luca tŕnh bày cho ta công việc rao giảng của Gioan trong hai khung: khung luân lư đạo đức (10-14) và khung mang tính thiên sai (15-18).

Trước hết là khung luân lư, gồm các câu được ngắt đều đặn như một điệp khúc bởi cùng một câu hỏi đặt ra từ phía những người hưởng ứng lời ông kêu gọi ‘chịu phép rửa tỏ ḷng sám hối để dược ơn tha tội’: "chúng tôi phải làm ǵ?". Có nghĩa là: sẽ có thế và sẽ phải thay đổi cụ thế đời sống như thế nào để gọi là tỏ ḷng sám hối. Câu hỏi này chúng ta sẽ c̣n gặp thấy trên môi miệng của những người được nghe bài giảng đầu tiên của thánh Phêrô, trong ngày lễ Chúa Thánh Thần Hiện xuống: "chúng tôi phải làm ǵ " (Cv 2,37). Ta sẽ c̣n lại được nghe câu hỏi ấy từ miệng viên cai ngục khi mục kích Phaolô và Sila được giải thoát cách lạ lùng: "Thưa các ngài, tôi phải làm ǵ để được cứu độ?" (Cv 6,30). Với mỗi người, Gioan đều đưa ra câu trả lời cụ thể và thích hợp, mỗi lần câu trả lời đều nhắm tới cách đối nhân xử thế trong xă hội, mà không nhất thiết bắt người ta phải dứt ĺa với môi trường sống và nghề nghiệp của họ, lại c̣n vượt xa khuôn khổ của Luật Môsê vốn áp đặt cho mọi người nữa.

“Chúng tôi phải làm ǵ?", "đám đông" hỏi Gioan, đám đông vô danh ấy chẳng bao lâu nữa sẽ nô nức đến với Đức Giêsu để nghe lời người (Lc 5, 1; 5, 15; 6,19).

Gioan mời gọi họ hăy sống thiết thực giữa đời thường, coi nhau như anh em và chia cơm sẻ áo cho nhau: "Ai có hai áo th́ chia cho người không có; ai có ǵ ăn th́ cũng làm như vậy”.

"Thưa Thầy, chúng tôi phải làm ǵ?", tới lượt những người "Publicanô" hỏi: họ là những người thu thuế cho ngân sách của quân Rôma chiếm đóng; hạng người này đâu đâu cũng được nổi tiếng là bất lương và bị mọi người Do Thái khinh bỉ, liệt họ vào hạng người tội lỗi công khai, khó mà sám hối được, trừ phi họ từ bỏ cái nghề bị thiên hạ coi là "ô uế" kia. Gioan không yêu cầu họ phải dứt bỏ nghề nghiệp, nhưng hăy hành nghề một cách khác, một cách lương thiện: "Đừng đ̣i hỏi ǵ quá mức đă ấn định cho ḿnh".

"C̣n anh em chúng tôi th́ phải làm ǵ?", đó là câu hỏi của “những binh lính", những tên lính đánh thuê cho Hêrôđê Antipa, hoặc là thành viên của đội quân chiếm đóng Rôma; họ cũng là hạng người bị dân chúng khinh miệt.

Gioan cũng không yêu cầu họ phải rời bỏ hàng ngũ, phải thay đổi nghề nghiệp, nhưng hăy thay đổi cách hành nghề. Ông bảo họ: "Chớ hà hiếp ai, cũng đừng tống tiền người ta, hăy an phận với số lương của ḿnh".

Roland Meynet nhận xét: Mọi người đến với Gioan để xin chịu phép rửa. Bất cứ ai trong đám dân chúng, cũng như trong số những kẻ hành quyền, dù ở cấp bậc bé nhỏ nhất, thảy đều nhận được cùng chỉ thị: chẳng phải ăn chay, cầu nguyện hay dâng lễ vật đền tội, mà chỉ phải thực thi công b́nh mà thôi.

Với những ai muốn ỷ vào quyền thế, Gioan đ̣i hỏi họ đừng làm quá những ǵ luật đă ấn định. Những người thu thuế không được tăng thuế trên mức qui định; những binh lính th́ không được sách nhiễu hay vu cáo dân chúng để kiếm thêm tiền cho đồng lương của ḿnh. Công b́nh trước tiên có nghĩa là: thỏa thuận thế nào th́ làm đúng như vậy, là chỉ làm như đă ấn định. Công b́nh đối với tất cả mọi người, đối với quần chúng có nghĩa là: mỗi người phải được hưởng cái họ phải có. Công b́nh cũng chính là lập lại thế quân b́nh đă bị phá vỡ: người này thiếu ăn, trong khi người khác lại quá dư thừa (Tin Mừng theo thánh Luca: Phân tích tu từ"? Ccrf, trg 47).

2. Đến “dân đang trông ngóng” việc Chúa sắp làm.

Bây giờ tới khung mang tính Mêsia. Bên kia "đám đông" ấy. Luca đă nhận ra được một thực tại mới đang h́nh thành: Một "dân" gồm những người hiệp nhất trong cùng một niềm "trông ngóng". Ở đây không c̣n vấn đề là hỏi cho biết phải "làm" ǵ, nhưng là t́m cho biết việc Chúa đang làm và sắp làm, giống như những nhân vật trong Tin Mừng và Công vụ Tông đồ khi tán tụng việc Chúa làm: "Đấng toàn năng đă làm cho tôi biết bao điều cao cả... Chúa giơ tay biểu dương, sức mạnh… Chúa tỏ ḷng thương xót với dân Người... Người sẽ cứu ta thoát khỏi địch thù, thoát tay mọi kẻ hằng ghen ghét" (Lc 1, 49.51.68.71).

“Đang trông ngóng”, nên “dân” đó tự hỏi không biết Gioan Tẩy Giả có phải là Đấng cuối cùng được Chúa sai đến, “Đấng Mêsia” chăng? Gioan vội xoá ḿnh đi và xác định vai tṛ của ḿnh đối với Đấng “đang đến”, “quyền thế hơn” ông. Câu này được Luca đặt trên môi miệng của Gioan và sẽ được lập lại ba lần trong sách Công Vụ Tông Đồ, diễn tả tính liên tục giữa Gioan và Đức Giêsu, nhưng hơn nữa nó c̣n đánh dấu bước vượt qua của giai đoạn quyết định: lịch sử của Giao ước đă bước vào một kỷ nguyên mới rồi.

BÀI ĐỌC THÊM:

1. “Làm một dân mới"

Gioan nói: Không có những con đường đặc biệt để đến với Chúa đâu. Trước vấn đề cấp bách phải làm phát sinh hoa trái của đức công b́nh, th́ mọi người đều như nhau cả. Thế đă là một phép lạ rồi, khi lời của vị ngôn sứ ấy đă tập hợp lại được bên bờ sông, những con người ít khi lo sống thánh thiện như các binh lính, các cô gái điếm, các người thu thuế... Tất cả đều là những hạng người vốn xem thường những nghi thức thanh tẩy, coi nhẹ việc thực hành luật, lại rất nhạy bén trong vấn đề khuếch trương những mục đích họ theo đuổi trong tháng.

Những con người cặn bă với tư cách đáng ngờ như thế liệu có thể làm phát sinh được cái ǵ tốt? Đơn giản là chỉ có một dân có ḷng tin, có tâm hồn mới, thực thi đức công b́nh mới làm được điều đó mà thôi. Những lời khuyên Gioan đưa ra thật rơ ràng: "Ai có hai áo th́ chia cho người không có, ai có ǵ ăn th́ cũng làm như vậy". Mà có cần phải vào hoang địa mới nghe được những điều vốn đă được ghi trong sách Luật từ bao đời nay chăng? Tất nhiên là ở trong hoang địa, tai ta sẽ dễ đón nhận, dễ lắng nghe hơn: nơi đây Thiên Chúa đă thử thách dân Do Thái để làm cho họ thành dân của Người, nơi đây Thiên Chúa đă ban tặng họ Giao ước và dùng những phép lạ củng cố ḷng tin của họ, nơi đây chính là một mái tường rèn luyện mà cũng là nơi con tim Thiên Chúa và ḷng tin con người được bộc lộ.

Một phép lạ được thực hiện bên bờ sông Giođan: Gioan đă quy tụ được những con người vốn thường xa cách nhau. Ngài đă làm nên một cộng đồng có những tâm hồn hối cải. Và cộng đồng này là phản bác sống động đối với tôn giáo của nhóm Xa-đốc, Pharisêu, Etxênô là những nhóm chủ trương một lối sống thánh thiện tách biệt. ở Qumran, ngươi ta không lẫn lộn một thầy kỳ cựu với một tập sinh, những người Pharisêu th́ họp thành những cộng đoàn nhỏ, khép kín, rất tỉ mỉ về luật thanh tẩy. Gặp một người kém thanh sạch, họ cho là ḿnh bị mất giá. Phục hồi độ thanh sạch, đ̣i hỏi phải tẩy rửa theo nghi thức. Hệ thống ấy, Gioan chỉ cứ việc làm theo thôi. Vậy mà với tư cách là con trai của vị tư tế, Gioan lại không mấy quan tâm đến nước sạch hăy dơ, theo nghi thức hay không theo, khi bảo người ta lại xuống gịng sông Giođan để d́m ḿnh xuống. Sử gia Flavius Josèphe kể lại "Lúc ấy tất cả người ta cùng lội xuống". Người thanh sạch nhất cũng như người dơ bẩn nhất, hết thảy đều cùng thú nhận tội lỗi của ḿnh. Thế là một cuộc khởi hành mới diễn ra, một dân mới đă có thể chỗi dậy để không sống theo câu nệ và h́nh thức của lối sống thánh thiện tách biệt kia, nhưng nhắm thay đổi con tim và thực thi công b́nh là điều trước nhất.

2. "Sám hối: một sự trở về từ cả hai phía”.

Sám hối. Đó là một từ rất gần gũi với thánh tẩy, một từ có ư nghĩa phục sinh, khơi gợi sự trở về. Nhưng thật lạ, đó lại là vấn đề trở về từ cả hai phía: hai người cùng quay lại phía của nhau...

Bạn biết chuyện xảy ra khi có người nào đó gặp mặt bạn trên đường đi hoặc ở ngoài phố (dĩ nhiên là đi bộ), và người ấy chợt nhớ lại khuôn mặt bạn, tiếng nói bạn, cuộc đời bạn. Trong giây lát hồi tâm người bạn ấy liền kêu tên bạn: “Ô Phêrô... Ô chị Briditta". Và rồi đến lượt chính bạn hồi tâm để nhớ lại người đó.

Sám hối đúng là như vậy cho dù ta có dùng những từ ngữ nào để nhân cách hóa Thiên Chúa, những từ ngữ phàm trần, quá ư phàm trần th́ cũng vậy thôi. Chính Thiên Chúa khởi sự, và chính Thiên Chúa đă luôn luôn đi bước trước. Vô phúc cho ta, nếu ta nghĩ rằng việc sám hối của ta, là phận vụ của ta!

Bởi v́ Chúa ra hiệu trước, nên chính ta phải nh́n vào Người, phải nhận ra Người và đi theo Người trong Đức Giêsu Kitô. Sám hối luôn luôn là một ân sủng, một ân sủng thúc bách ta phải lên đường.

3. “Không phải chỉ thực hành luân lư; Hăy đón nhận Tin Mừng một Thiên Chúa đang đến”.

Không! Không thể để cho thế giới hư nát này cứ tiếp tục măi được, một thế giới có những con người phè phỡn ê hề, đang khi những người khác chết đói là chuyện không thể được. Vậy th́ "ai có ǵ ăn, th́ chia cho người không có". những kẻ nắm giữa địa vị quyền thế về phương diện nghiệp vụ mà lại dành cho thuộc hạ của ḿnh những đặc quyền đặc lợi nào đó, là không thể chấp nhận được. Vậy th́, các bạn là những viên chức thu thuế, là những binh lính... tất cả các bạn, nhờ địa vị mà có được những phương thế để khống chế người khác, các bạn "chớ hà hiếp ai, chớ gây thiệt hại cho ai”.

Chúng ta có nghe những lời nói quyết liệt kia của thánh Gioan Tẩy Giả chăng? Nhất nữa, chúng ta có dám đặt ra cho ḿnh câu hỏi được lặp lại ba lần trong Tin Mừng hôm nay: "C̣n anh em chúng tôi, th́ phải làm ǵ? ", để rồi có cái ǵ đó làm thay đổi cuộc đời ta và để có thể xây dựng thế giới mới, thế giới chan ḥa "niềm vui của Thiên Chúa và của chúng ta" chăng?

Người ta thường hay quên mất phần thứ hai của bài Tin Mừng hôm nay. Người ta chỉ dừng lại phạm vi thực hành luân lư: "Chúng tôi phải làm ǵ?". Thế nhưng, sứ điệp của Gioan Tẩy Giả c̣n hàm chứa lời loan báo rằng những nỗ lực sám hối của ta sẽ không bao giờ đủ. Ông nói, Thiên Chúa đang đến, Người "quyền thế hơn tôi". Người đến để "phát giác" anh em, để "thanh luyện" anh em. Người đến như "lửa" để "đốt cháy" ta, để thanh luyện ta, giống như người ta dùng lửa thanh tẩy những trang thiết bị dùng trong phẫu thuật vậy! Người là "Hơi thở", là "Thần Khí" tiếng Do Thái là "Ruah" cũng có nghĩa là gió - gió thổi để tách hạt lúa ra khỏi rơm. Là Thần Khí, người ban cho ta sự sống.

Chúng ta có chấp nhận để d́m ḿnh vào lửa, vào khí, vào gió đó chăng? Đó là ư nghĩa của từ Phép Rửa hay Thánh tẩy vậy.

Để có thể nhảy lên vui sướng với Chúa, để có thể khám phá niềm vui của thế giới mới, bạn đừng lỡ bỏ qua mất phép rửa trong Thánh Thần này đấy.

 
 

14. Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt

HOA QUẢ CỦA L̉NG THỐNG HỐI (Lc 3,10-18)

Sau khi tŕnh bày đề tài tổng quát trong việc rao giảng ḷng thống hối của Gioan tẩy giả và những lời ông đe dọa án xử của vị Thiên sai (cc. 7-9), Luca cho thấy rơ những lời Gioan khuyên bảo những người đến bàn hỏi với ông. V́ Gioan tẩy giả không muốn bắt mọi người sống theo cách sống của ông. Thực ra ông có lập một nhóm môn đệ thân tín và dạy cho họ một công thức cầu nguyện (Lc 11,1); họ cũng có ngày ăn chay (Lc 5,33). Ông chuẩn bị cho họ cách đặc biệt để gởi họ cho Đấng Thiên sai ngay khi có thể.

Nhưng ông cũng kêu mời nhiều người khác sống thánh thiện tùy theo hoàn cảnh của ḿnh. Ông ban cho mỗi người sống những lời khuyên tùy theo hoàn cảnh của ḿnh. Ông ban cho mỗi người những lời khuyên thích hợp vị địa vị của họ. Với tất cả mọi người, ông truyền dạy phải thực thi bác ái; với nhân viên thu thuế và bộ đội, ông nhắc nhở sống công b́nh trong khi thi hành nhiệm vụ, chống lại những ước muốn tham lam. Đó là những ư kiến đúng và rơ ràng, có thể áp dụng ngay. Về phương diện này, Gioan không tự cho ḿnh là người đầu tiên đưa ra những lời khuyên đó, ông chỉ lấy lại những yêu sách các tiên tri đă công bố. Đó là lời giảng dạy mà ta gặp thấy ví dụ như trong tiên tri Mikêa: “Với cái ǵ tôi sẽ tŕnh diện trước Giâvê, tôi sẽ phủ phục trước Thiên Chúa Đấng tối cao? Tôi ra tŕnh diện với của lễ, với ḅ con một năm ư? Đức Giavê lại thích hàng ngàn chiên đực hay là hàng vạn sông dầu sao? Phải chăng tôi nên dâng con đầu ḷng của tôi v́ sự phạm pháp của tôi và trái của thân thể tôi v́ tội lỗi linh hồn tôi sao? Hỡi ngươi, Người đă tỏ cho ngươi điều ǵ là thịên; điều mà Đức Giavê đ̣i ngươi lại không phải là thực thi công b́nh, yêu mến sự nhân từ và bước đi cách khiêm nhường với Thiên Chúa của ngươi sao? (Mi 6,6-8).

Như thế Gioan dạy một luân lư “tạm thời” mà trọng tâm là: “Hăy làm hết sức ḿnh trong các hoàn cảnh hiện tại, đang khi chờ đợi thời đại thiên sai đến”. V́ thế ông không đ̣i buộc người ta phải tách ĺa khỏi thế gian xấu xa hoặc phải từ bỏ các nghề nghiệp trong thế gian. Ông chỉ đ̣i hỏi ḷng nhân hậu và đức công b́nh: đó là những hoa trái biểu lộ ḷng sám hối đích thực trong lúc này. Những việc làm cụ thể của đức ái mà ông đề nghị đă được qui định trong CƯ (Is 58,7; Giop 31,17.19.21; Ez 18,7.16...) và trong đạo Do thái sau này, như là dấu hiệu phân biệt làng đạo đích thực đẹp ḷng Giavê. Giáo huấn của Gioan chuẩn bị cho những đ̣i hỏi quyết liệt hơn của Chúa Giêsu (Lc 6,29t 32-36; Mt 5,39-48).

Sứ điệp của vị tiền hô liên quan đến Đấng Thiên Sai (cc. 15-18) được đóng khung trong một câu nhập đề và một câu kết luận theo lối hành văn thông thường trong Phúc âm thứ ba. Chúng ta biết dân chúng đang chờ đợi sự thực hiện các lời hứa Thiên sai. Cho nên lời rao giảng của Gioan gặp được thửa đất thuận lợi để sinh hoa trái v́ ông loan báo Tin mừng (c.18). Nhưng dần dần người ta tự hỏi có phải Gioan là Đấng Thiên sai không, nên ông cố gắng đánh tan sự ngộ nhận đó.

Gioan so sánh phẩm giá của hai nhân vật mà dân chúng dễ lẫn lộn: người này là chủ, người kia là nô lệ. Để cho dân chúng hiểu rơ hơn, ông lấy h́nh ảnh người đầy tớ đi theo chủ tiệc đến dự tiệc: khi vào pḥng tiệc, ông chủ cởi giày, th́ người đầy tớ cúi xuống chân chủ (chi tiết này chỉ có Mc 1, tả lại thôi) để cởi sợi dây buộc giày và trong suốt bữa tiệc, người đầy tớ cầm giày của chủ trên tay (Mt 3,11). Trong cả ba Phúc âm nhất lăm, chúng ta có thể đọc lời tuyên xưng của vị tiền hô về địa vị thấp kém của ḿnh đối với Đấng Thiên Sai. Ư tưởng diễn tả trong ba bản văn đều giống nhau; h́nh ảnh tŕnh bày ư tưởng đó cũng giống nhau, nhưng trong các lời nói của Gioan, ba bản văn đă không giữ lại cùng một chi tiết của cũng một h́nh ảnh: hai bản Lc và Mc chú trọng đến cử chỉ của người đầy tớ đang cởi giày, bản văn Mt th́ làm nổi bật thái độ của người đầy tớ xách đôi giày ấy.

Người ta cũng c̣n có thể so sánh hai phép rửa. Đó là điều mà Gioan đă không bỏ quên. Nét khác biệt rất rơ ràng: “Phần tôi, tôi thanh tẩy các người bằng nước... Đấng quyền thế hơn tôi... chính Ngài sẽ thanh tẩy các người trong Thánh Thần và lửa”.

Sự đối nghịch rơ rệt đó có thể làm cho ta tưởng rằng phép rửa do Đấng sẽ đến, Đấng Thiên sai, sẽ không là phép rửa bằng nước như phép rửa của vị tiền hô. Tuy nhiên, sau này Chúa Giêsu nói với Nicôđêmô là sự tái sinh Kitô giáo được thực hiện bởi Thánh Thần và nước, trong phép rửa (Ga 3,1-10).

Phép rửa mà Đấng Thiên sai thiết lập sẽ vừa là một phép rửa trong Thánh Thần và trong lửa. Nước chỉ nghi thức bên ngoài, rửa sạch trên thân xác, lửa là biểu tượng cho sự biến đổi trong tâm hồn sâu thẳm. V́ trong lúc nước chỉ chạm tới mặt ngoài của sự vật, th́ lửa trái lại, xuyên thấu vào trong, thanh tẩy, soi sáng và đốt nóng Ta sẽ không t́m gặp được nơi phép rửa do Đấng Thiên sai lập một thứ lửa nào khác ngoài lửa của Thánh Thần: v́ chính Ngài thánh hóa các tâm hồn.

Tuy nhiên về điểm này, hăy xem lại những giải thích đă học được trong loạt bài chú giải về Mt 3,11 (bộ chú giải phúc âm chủ nhật năm A). Có thể là trên b́nh diện lịch sử của Gioan tẩy giả, không nói đến phép rửa trong Thánh Thần, nhưng đúng hơn là phép rửa trong “gió” điểm này cho phép kết luận là chỉ “lửa” giữ nguyên cùng một ư nghĩa như “lửa phán xét” được nói qua cả đoạn văn. Sau nữa, khi người Kitô hữu đọc lại phúc âm, th́ họ giải thích “gió” như là hơi thở của Thánh linh: lối giải thích như thế không có ǵ lạ, v́ trong tiếng Do thái cũng như Hy Lạp, cũng một chữ đó (ruâ: Do thái; pneuma: Hy lạp) vừa chỉ gió và Thánh Linh. Cho nên theo lối tái lập lịch sử th́ có lẽ Gioan tẩy giả đă nói đến phép rửa “trong gió và lửa” của sự phán xét; nhưng từ thuở ban đầu (có lẽ bắt đầu từ thời truyền khẩu) người Kitô hữu đă hiểu những chữ này như báo trước một phép rửa trong “gió hay trong Thánh Linh và lửa” của ngày hiện xuống.

Cũng nên nói ngay là h́nh như không cần phải hạn hẹp tầm quan trọng của Lời Gioan vào phép rửa Kitô giáo: “Ngài sẽ thanh tẩy các ngươi trong Thánh Linh và lửa”. Phải xem câu này là lời loan báo về sự chuyển thông Thánh Linh do Chúa Giêsu, hoặc bằng phép rửa Kitô giáo, hoặc bằng phép thêm sức, hoặc bằng các cách khác.

Đó là ngọn lửa lớn mà Chúa Giêsu đă đến để ném vào thế gian (Lc 12,49). Trước khi lên trời, ngay thăng thiên, Ngài đă truyền cho các tông đồ hăy ở lại Giêrusalem để chờ đợi “điều Chúa Cha đă hứa, như các con đă nghe Ta nói”. V́ chưng, Gioan đă được thanh tẩy bằng nước, c̣n các con, không mấy ngày nữa, sẽ được thanh tẩy bằng Thánh Thần (Cv 1,4-5). Và trong chính ngày hiện xuống, Chúa Thánh Thần đă xuống trên đầu họ dưới h́nh lưỡi lửa, đem lại phép rửa trong Thánh Thần và lửa cách tỏ tường (Cv 2,1-5).

Như thế, giữa phép rửa của Gioan và của Đấng Thiên sai không có cùng một giá trị. Phép rửa của Gioan không luôn luôn là phép rửa bằng nước và chỉ là phép rửa bằng nước. Đó là một nghi thức tượng trưng nhằm thúc đẩy và diễn tả tâm t́nh thống hối. Phép rửa của Đấng thiên sai là sự tuôn tràn Thánh linh mà có thể không cần phải rửa bằng nước và ngay chính khi nghi thức bên ngoài là việc rửa bằng nước (phép rửa Kitô giáo), th́ vẫn nhằm nóiđ ến hoạt động bên trong tâm hồn nơi Thánh linh xuyên thấu như lửa.

Nhưng đây c̣n có một thứ lửa khác mà Đấng Thiên sai trang bị sẵn sàng: lửa của phán xét. Như thế chúng ta được đặt giữa hai thứ lửa: lửa của thánh linh và lửa giận dữ không hề tắt. V́ Đấng Thiên sai sẽ là quan án: sân lúa là thế gian, kho lẫm là cơi trời. Khốn cho ai bị Ngài ném vào lửa như vỏ trấu vô dụng hoặc như rơm rạ vụn vặt. V́ “Đấng uy quyền” hơn Gioan thật đáng sợ. H́nh như đó là nét chính yếu của lời rao giảng và hành động tượng trưng của Gioan tẩy giả.

KẾT LUẬN

Chúa Giêsu, Đấng Thiên sai, là quan án thời tận thế. Đức tin và lời kinh của Giáo hội không có quyền chểnh mảng vai tṛ của ḿnh trong khía cạnh này. Lời rao giảng của Gioan tẩy giả vẫn c̣n giá trị, dù không chứa đựng tất cả những ǵ Chúa Thánh Thần đă mạc khải Luca đă hiểu bài diễn từ của Gioan như một lời rao giảng hiện đại cho hoàn cảnh Giáo hội của ông bấy giờ. Điều đó biểu lộ qua câu 15 dùng để nhập đề, với câu hỏi: Gioan có phải là Đấng Thiên sai không? Vị Tẩy giả làm chứng Đấng Thiên sai là một người khác: là Đấng mà ông chiêm ngưỡng và loan báo như là quan án. H́nh ảnh quan án vẫn là h́nh ảnh cốt yếu cho Tân ước và Giáo hội. Không phải chỉ có những thính giả thời ấy, nhưng tất cả mọi Kitô hữu đều có sự chọn lựa được “thanh tẩy” trong Chúa Thánh Thần.

Ư HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Thính giả Gioan tẩy giả chất vấn: “Chúng tôi phải làm ǵ?” Ḷng thống hối đích thực không bao giờ dừng lại nơi những t́nh cảm bên trong, nơi những tư tưởng tốt đẹp, nhưng c̣n phải thể hiện qua hành động bằng một cuộc sống phù hợp với giáo huấn của Chúa kitô. Không phải những người nói: “Lạy Chúa, lạy Chúa là vào được nước trời, nhưng những ai thực hành ư Chúa, nghĩa là thực thi công bằng xă hội, chia sẻ, tha thứ xúc phạm, liêm chính trong nghề nghêịp.

2. Gioan tẩy giả sai mỗi người trở về nghề nghiệp hiện tại, với nhiệm vụ của ḿnh. Không phải việc ta làm khiến ta trở thành môn đệ hoặc không phải là môn đệ của Chúa Giêsu, nhưng là cách thế ta làm. Chúa Giêsu không đ̣i ta từ bỏ nghề nghiệp và từ bỏ thế gian để đi tu. Ngài đ̣i chúng ta phải thi hành nghề nghiệp chúng ta theo Phúc âm: nghĩa là phục vụ anh em trong yêu thương và công bằng, chú ư đến kẻ khác và quên ḿnh, chuyên cần làm việc và vui tính. Nhờ nghề nghiệp khiêm tốn mấy đi nữa của chúng ta mà người khác “sẽ thấy ánh sáng và ca tụng vinh quang Chúa: (Mt 5,16).

3. Gioan tẩy giả tự nhận ḿnh dưới quyền Chúa Giêsu: ông là đầy tớ chỉ đáng lo giày dép cho Ngài thôi. Khi tự coi ḿnh như thế, trước mặt Chúa, Gioan tẩy giả không t́m cách hủy diệt ḿnh bằng một thứ t́nh cảm giận ghét chính bản thân. Ông không t́m cách chối căi những ưu điểm có thật và những năng khiếu tự nhiên của ḿnh. Không khinh chê ơn gọi tiên tri của ḿnh. Ông chỉ làm cho người ta nhận ra địa vị đích thực của ông: là vị tiền hô, chứ không phải là Đấng Thiên sai. Đó chính là Đức khiêm nhượng đích thực của người Kitô hữu: nhận biết ḿnh là ǵ trước mặt Chúa. Vui vẻ chấp nhận ḿnh chỉ là Đấng thụ tạo trước mặt Đấng tạo hóa, một tội nhân trước mặt Đấng cứu chuộc. Đức khiêm nhượng đích thực không dừng lại nơi chính ḿnh, dù là chỉ để chê bai: người nào luôn nói tới những lỗi lầm của ḿnh, những thiếu sót khả năng, sự bất xứng... người đó có ít cơ may trở thành kẻ khiêm tốn, họ quá lo lắng về chính ḿnh. Cái nh́n khiêm tốn thật sự phải hướng về Chúa Giêsu. Dĩ nhiên, phải ư thức đến vực thẳm ngăn cách ḿnh với Ngài, nhưng c̣n phải ư thức nhiều hơn về ḷng nhân hậu, cao sang của Đấng ḿnh yêu.

4. Gioan thanh tẩy trong phép rửa thống hối. Về điểm này, sứ điệp của ông vẫn luôn thực hiện cho chúng ta. V́ chúng ta phải luôn luôn thống hối, phải chuẩn bị cho “Đấng uy quyền hơn chúng ta” đến phải thanh tẩy tâm hồn khỏi những khát vọng bất chính, khỏi những hẹp ḥi, khỏi chai đá. Nhất là trong mùa vọng này, chúng ta phải làm cho các năng lực của phép rửa tội tái hoạt động bằng việc canh tân tâm hồn để mừng đại lễ Giáng sinh và dịp đó Đức Giêsu sẽ tự trao ban Ngài cho chúng ta với một nguồn súc mạnh và ánh sáng phong phú để nối kết chúng ta trong t́nh thân mật với Ngài.

5. Lời Gioan tẩy giả hứa về một phép rửa tương lai của Thánh linh đă được thực hiện cho chúng ta. Khi ta lănh nhận bí tích rửa tội, Chúa Thánh Thần đă thực sự thông ban cho chúng ta. Ngài làn cho chúng ta trở thành đền thờ, nơi cư ngụ thường xuyên của ngài, dấy lên trong ḷng chúng ta những tâm t́nh con thảo đối với cha trên trời. Chính Thánh Linh, giây t́nh ái giữa Chúa Cha và Chúa Giêsu, hằng cầu nguyện trong ta và giúp ta dần dần trở nên giống Chúa Giêsu con thật của Chúa Cha, nếu ta biết vâng theo cảm hứng của Ngài và các tác động êm dịu của Ngài trong tâm hồn chúng ta. Hoạt động của Thánh Linh trong ta sẽ thanh tẩy ta bừng một, sẽ đốt cháy những ngọn rơm ích kỷ và hèn nhát, sẽ giữ ǵn đến muôn đời hạt cúa công phúc và trung tín của ta đối với việc bổn phận.

  


 

15. Chúng tôi sẽ phải làm ǵ?

Bài Tin Mừng hôm nay nối kết với bài Tin Mừng Chúa nhật 2 mùa vọng, một lần nữa, Luca nói với chúng ta về Gioan Tẩy giả, vị tiền hô của Chúa Giêsu, và về lời rao giảng của ông.

Bản văn gồm hai phần: Trong phần thứ nhất, Gioan trả lời câu hỏi của thính giả về những ǵ họ phải làm để hưởng ứng sứ điệp căn bản của ông – sứ điệp loan báo về cuộc xét xử sắp xảy đến và nêu đ̣i hỏi người ta phải triệt để đổi đời. Trong phần thứ hai, Gioan Tẩy giả phân trần rằng ông không phải là Đấng Mêsia, và rằng ông không thể hành động như trung gian chuyển giao Thánh Thần của Vương Quốc đang đến.

Phần thứ nhất không phải là cái ǵ đáng ngạc nhiên lắm. Bao giờ cũng có những cám dỗ để người ta phớt lơ những bổn phận luân lư được nêu ra ở đây, xem chúng là quá rơ ràng, thậm chí quá b́nh thường. Nhưng nếu xét kỹ hơn, ta sẽ thấy những bổn phận luân lư ấy đầy thúc bách.

Gioan được nh́n nhận là người mà Ngôn sứ Isaia đă loan báo trước; là tiếng kêu trong hoang địa, là người loan báo sự cứu độ đang đến của Thiên Chúa, là ngôn sứ của cuộc xét xử cuối cùng sắp xảy đến, là ngôn sứ của cơ hội cuối cùng để hoán cải tận căn, của sự thực rằng người ta không thể làm hài ḷng Thiên Chúa bằng bất cứ ǵ khác hơn là thực hiện một cuộc hoán cải dứt khoát trong đó thay đổi toàn bộ và tận nền tảng cuộc sống của ḿnh, bứt ḿnh ra khỏi t́nh trạng của ḿnh hiện tại. Và giờ đây người ta đến hỏi vị giảng thuyết này về một cuộc thay đổi tận căn và một sự bắt đầu mới. Điều ǵ họ thực sự phải làm nếu họ muốn hưởng ứng sứ điệp không khoan nhượng ấy? Câu trả lời xem ra chỉ là một chuỗi những huấn dụ đạo đức sáo ṃn mà người ta có thể gặp thấy ở bất cứ chỗ nào khác – và đó là những huấn dụ không cần phải được dẫn trước bởi bất cứ sự cảnh báo thế mạt nào để làm cho nó trở nên dễ hiểu. Các nhân viên thuế vụ không được đ̣i hỏi người ta thái quá; các binh lính phải trở nên những con người đàng hoàng, không doạ nạt người khác và phải biết hài ḷng với lương bổng của ḿnh. Dĩ nhiên, Gioan không đặt vấn đề về động cơ hay công việc của các nhân viên thuế vụ và binh lính làm tay sai cho chính quyền đô hộ – công việc mà những người có vẻ đạo đức sẽ đánh giá là rất tồi tệ và đáng khinh bỉ.

Ngay cả khi Gioan tiếp tục nói rằng họ phải chia sẻ thực phẩm và áo quần (nếu họ có đủ phần ḿnh) cho người thiếu thốn xung quanh, ông cũng đă không đi quá điều xem ra được thấy chỉ là những mệnh lệnh luân lư phổ quát và hiển nhiên của con người. Nếu chúng ta làm một liệt kê dài hơn về những lời khuyên tương tự cho những người thuộc các nghề nghiệp và hoàn cảnh khác, th́ sự tương phản bên ngoài sẽ vẫn c̣n giữa một bên là mệnh lệnh triệt để đ̣i người ta đổi đời và bên kia là những chuẩn mực đạo đức rất thông thường mà chắc chắn các thính giả của Gioan đă hiểu rơ – và đă thi hành hay đă không thi hành – trước khi nghe ông rao giảng; và nếu gạt chuyện thiện chí qua một bên th́ chắc hẳn là các thính giả của Gioan cũng đă không chu toàn các chuẩn mực ấy một cách hữu hiệu hơn mấy kể từ lúc họ nghe ông kêu gọi trong bối cảnh đặc biệt này.

Điều ấy có nghĩa ǵ? Bài Tin Mừng không hề cung cấp câu trả lời trực tiếp. Chúng ta chỉ biết rằng những tương phản mặt ngoài này lại ăn nhập với nhau một cách nào đó và làm bật ra ư nghĩa.

Chắc chắn ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm rằng những đ̣i hỏi đạo đức xem ra thông thường ấy không hề là những đ̣i hỏi dễ dàng chút nào – miễn là chúng ta đừng lập lờ đánh lận con đen để chỉ xếp vào các nguyên tắc đạo đức những ǵ phù hợp và dễ dàng đối với ḿnh. Cuộc sống hằng ngày tự nó đ̣i hỏi người ta rất nhiều. Sống được cuộc sống đơn điệu nhạt nhẽo hằng ngày thường khó hơn là thực hiện một hành vi phi thường nào đó mà tính anh hùng của nó dễ làm cho ta tự măn.

Giá trị đạo đức và tôn giáo không duy chỉ là tổng số ư nghĩa của các khoảnh khắc dồn lại; giá trị ấy h́nh thành một toàn thể với đặc tính riêng của nó là một toàn thể – ngay cả khi giá trị ấy được nhận ra xuyên qua các hành vi riêng lẻ. Nếu không phủ nhận điều đó th́ ta sẽ nghĩ ǵ về một đời sống được kết dệt trong các bổn phận, trong ư chí mới mẻ măi muốn trung thực và tốt lành đối với người khác; một đời sống không cho phép ḿnh sa vào bạc nhược chán chường do bởi sự vô nghĩa của hiện tại; một đời sống với tinh thần lành mạnh sáng suốt vốn là một ân huệ và là nhân đức Chúa ban …? Một đời sống như vậy đâu có c̣n đối lập với lời kêu gọi hoán cải của Gioan nữa! Một đời sống đạo đức xem ra thông thường như thế thực sự cho thấy rằng sự hoán cải không phải là một cái ǵ đó xảy ra vào một khoảnh khắc nhất định trong thời gian – nhưng là một nguyên động lực giấu ẩn thấm nhuần vào bản chất trông có vẻ b́nh thường của đời sống xét như một toàn thể.

Nhưng không phải chỉ vậy. Đó không phải là tất cả ư nghĩa rút ra được từ sự tương phản ngoại tại nói trên. C̣n một ư nghĩa ǵ đó khác nữa – (có lẽ không thể cảm nhận được ít là trong một số trường hợp) – hàm chứa trong việc chúng ta thi hành những bổn phận hằng ngày của ḿnh, kể cả những bổn phận thuộc loại tiện ích cho chính ḿnh.

Trong cuộc sống thường ngày, nhiều lúc chúng ta bị đẩy vào những t́nh huống trong đó ta bỗng thấy các công việc lặt vặt buồn tẻ của ḿnh chẳng có nghĩa lư ǵ, hoặc thậm chí phi lư. Có những lúc bất chợt tính chất đạo đức thông thường trở nên chẳng đáng ǵ. Ư nghĩa đạo đức thông thường bỗng biến mất, hoặc đổi thành một cái ǵ hoàn toàn khác. Tính hiệu dụng của một hành vi bỗng tiêu ma, hoặc đă chuyển vào cơi thiêng thánh! Đó là những lúc mà ta phải làm việc bổn phận chỉ v́ đó là bổn phận chứ không cảm nhận được một sự tưởng thưởng nào; đó là những lúc mà ta thấy bổn phận giống như một thứ h́nh phạt.

Một kẻ đang có danh giá bỗng không c̣n được trọng vọng trước mặt người ta nữa, nhưng trở thành một kẻ khờ dại vụng về bước đi giữa đời. Đột nhiên, thiên hạ triệt để lợi dụng tấm ḷng vị tha; thiên hạ không c̣n nể trọng sự thành thực mà thậm chí sử dụng nó như một thứ vũ khí để chống lại chính kẻ thành thực!

Có cả ngàn cách trong đó tính chất đạo đức thông thường có thể trở thành một điều hết sức mỉa mai, trong tất cả tính hiển nhiên của nó và chẳng thấy ở nó ư nghĩa ǵ là đặc biệt anh hùng. Nó không c̣n cần thiết nữa; nó không c̣n sảnh sinh ra kết quả rơ ràng mà chính người thực hiện mong muốn nhận được …

Song nếu như người ta vẫn kiên thủ thi hành các việc đạo đức thông thường ấy ngay cả khi nó không c̣n có lợi nữa, ngay cả khi nó trở thành dường như vô nghĩa – th́ điều ǵ xảy ra? Những việc thi hành như thế sẽ trở thành một loại “tiền hô” của Thiên Chúa, Đấng là nguồn ơn cứu độ và là nguồn mạch tự do. Từ “Thiên Chúa” ở đây không được hiểu một cách mơ hồ chung chung. Từ “Thiên Chúa” ở đây mang một ư nghĩa trực tiếp. “Thiên Chúa” ở đây được cảm nghiệm trong chính cuộc biến đổi lặng lẽ nhưng phi thường này, cuộc biến đổi làm hoàn thành trọn vẹn ư nghĩa cho hành vi đạo đức thường ngày của chúng ta.

Khi chúng ta dám điên rồ, khi chúng ta từ chối tranh chấp dù ḿnh có cơ hội giành phần thắng, khi chúng ta nhất mực yêu thương dù ngay từ đầu ḿnh không nắm chắc sẽ được yêu thương đáp lại, khi chúng ta vẫn trung thực với những xác tín của ḿnh – thậm chí với sự bất lợi của ḿnh dù sự bất lợi đó không phải chỉ là một giai đoạn trong cuộc chiến mà ta chắc chắn sẽ đạt chiến thắng chung cuộc, tóm lại – khi chúng ta không lập lờ với lương tâm ḿnh và không c̣n nhập nhằng lẫn lộn những đ̣i hỏi của lương tâm với tính hiệu dụng và ư nghĩa vật chất hiển nhiên được chủ yếu hàm chứa (và hoàn toàn có thể biện minh) trong tính chất đạo đức thường ngày… đó là những khi mà chúng ta gặp gỡ chính Thiên Chúa, dù có lẽ chúng ta không gọi tên Ngài và dù ta không ư thức rằng ḿnh đang gặp Ngài.

Để cho sự đ̣i hỏi của lương tâm chuyển hoá ư nghĩa của những hành vi đạo đức thường ngày đằng sau vẻ bên ngoài của chúng – đó là một thách đố, và nếu chúng ta từ thác sự thách đố này (nhiều khi một cách rất khéo léo), th́ đó chính là lúc Thiên Chúa đang xét xử chúng ta. Ngược lại, nếu chúng ta hưởng ứng tiếng gọi bất chợt ấy, chúng ta sẽ được chính Thiên Chúa là nguồn mạch tự do và là nguồn ơn cứu độ. Tất cả điều này có thể diễn ra một cách thật âm thầm lặng lẽ chính khi ta chu toàn các bổn phận hằng ngày. Chúng ta dường như cũng ứng xử theo khuôn mẫu thông thường của con người, hết mực kính trọng người khác (ngay cả dù ḿnh đang ở vị trí thượng phong trên họ). Nhưng rồi bất chợt, trong nháy mắt, chúng ta ở trong sa mạc – sa mạc cứu độ của Thiên Chúa.

Nếu chúng ta trân trọng giương cao nguyên tắc đạo đức thường ngày và không lập lờ quẳng bỏ nó khi nó không đem lại lợi ích cho ḿnh, đó là chúng ta đang thật sự tiến tới một sự biến đổi tận căn trong tâm hồn, cho dù chúng ta không thể xác định rơ sự biến đổi ấy diễn ra chính xác vào lúc nào. Bấy giờ chúng ta cầu khẩn và tán dương ân sủng Chúa, ân sủng lấp đầy các chiều sâu mà những nẻo bước của cuộc sống b́nh dị hằng ngày chúng ta thực sự vẫn hướng về, vươn lên tới điểm mà ở đó chúng ta không chút hăi sợ để cho chính ḿnh rơi vào cơi sâu thăm thẳm ấy.

Chúng tôi sẽ làm ǵ? Dường như bị khiếp sợ, người ta đă nêu câu hỏi ấy sau bài giảng đầy tính đe doạ của Gioan Tẩy giả về tội lỗi và về sự xét xử tất yếu sẽ xảy đến, về cuộc hoán cải toàn diện. Gioan đă trả lời họ. Và thật bất ngờ, câu trả lời của ông đặt chúng ta vào ngay chính chỗ hiện tại của ḿnh, yêu cầu ta sống một cách hết sức b́nh thường, yêu cầu ta tiếp tục nhẫn nại sống cuộc sống thực tế của ḿnh. Câu trả lời ấy cho thấy rằng chính ở đây và chính lúc này ta có thể cảm nghiệm Nước Thiên Chúa đang đến, chỉ cần chúng ta thực sự muốn cảm nghiệm, và chỉ cần chúng ta chịu nh́n nhận – trong niềm cậy trông – ư nghĩa ẩn giấu và năng lực nội tại thâm sâu của cuộc sống thường ngày.

 
 

16. Cho Chúa một cơ hội

Cuộc đối thoại độc đáo giữa một người tân ṭng và một người chưa có niềm tin như sau:

- Anh đă theo đạo Công giáo rồi sao?

- Vâng, nói đúng hơn là tôi theo Đức Kitô.

- Vậy xin hỏi anh, ông ta sinh ra trong quốc gia nào?

- Rất tiếc là tôi đă quên mất chi tiết này.

- Thế khi chết, ông ta được bao nhiêu tuổi?

- Tôi cũng nhớ rơ nên chẳng dám nói.

- Vậy ông ta đă thuyết giảng bao nhiêu bài?

- Tôi không biết!

- Quả thật, anh biết quá ít, quá mơ hồ để có thể quả quyết là anh đă thật sự đi theo ông Kitô!

- Anh nói đúng một phần. Tôi rất hổ thẹn v́ ḿnh đă biết quá ít về Đức Kitô. Thế nhưng, điều mà tôi biết rất rơ là thế này: Ba năm trước, tôi là người nghiện rượu, sáng say chiều xỉn, nợ nần lút đầu ngập cổ, gia đ́nh tôi xuống dốc một cách kinh khủng. Mỗi tối, khi trở về nhà, vợ con tôi đều tức giận và buồn tủi. Thế mà bây giờ tôi đă dứt khoát bỏ rượu và đă cố gắng trả được hết nợ, gia đ́nh tôi đă t́m lại hạnh phúc, các con tôi trông ngóng, chờ tôi về sau giờ tan ca. Những điều này không ai khác hơn, chính là Đức Kitô đă làm cho tôi. Và đó là tất cả những ǵ tôi biết về Người.

Khi lănh phép rửa sám hối của Gioan, dân chúng hỏi ông: “Chúng tôi phải làm ǵ?”. Qua câu hỏi ấy, chúng ta thấy sám hối mang chiều kích cộng đoàn, sẵn sàng đổi mới bằng hành động cụ thể.

Các thánh thường nói: “Lạy Chúa, Chúa muốn con làm ǵ?”. Đó là một thái độ sẵn sàng làm theo ư Chúa. Có được tâm t́nh ấy quả không dễ dàng. Nhưng nói được như Đức Maria mới thực là cao quư: “Xin Chúa cứ làm cho tôi như lời Ngài nói”.

Người tân ṭng trong câu chuyện trên đây, sau khi được đổi mới hoàn toàn, ông đă nói: “Những điều này không ai khác hơn, chính là Đức Kitô đă làm cho tôi”.

Như vậy:

Sám hối không chỉ là quay trở về với quá khứ, mà c̣n hướng đến một tương lai tốt đẹp hơn.

Sám hối không chỉ có tính cách cá nhân, mà c̣n mang tính liên đới trong cộng đoàn.

Sám hối không chỉ là một cảm xúc mông lung, nhưng chính là một quyết tâm hành động.

Sám hối không chỉ là hướng tới đời sống thánh thiện, mà là trở về với một Đấng thánh: Đức Giêsu Kitô.

V́ thế, sám hối chính là dành cho Chúa Kitô cơ hội để Người thanh tẩy tâm can, thay đổi con người, nhất là để Người biến những tâm t́nh và ước muốn của chúng ta nên giống những tâm t́nh và ước muốn của Người.

Thay v́ sám hối bên ngoài, Chúa Kitô muốn chúng ta thực sự hướng ḷng về Người.

Thay v́ kiêu căng tự măn, Chúa Kitô muốn chúng ta thực sự khiêm tốn để nên giống Người.

Thay v́ nô lệ cho của cải, tiền bạc, Chúa Kitô muốn chúng ta hăy ra khỏi nỗi bận tâm về ḿnh mà nhường cơm sẻ áo cho anh em.

Mùa vọng là mùa của hy vọng. Thiên Chúa không bao giờ thất vọng về con người. Cho dù con người có sa ngă, phản bội, Thiên Chúa vẫn theo đuổi chương tŕnh cứu độ của Người. Cho dù thấp hèn tội lỗi, con người vẫn mang h́nh ảnh cao đẹp của Thiên Chúa, nên mỗi người đều được Thiên Chúa tin tưởng, yêu thương. Mùa vọng mời gọi chúng ta sám hối, đồng thời cũng kêu gọi chúng ta hăy hoàn toàn phó thác và hy vọng nơi Người.

Lạy Chúa Giêsu, sám hối là dọn đường cho Chúa đến, sám hối cũng là dọn lối để đến với tha nhân.

Xin dạy chúng con biết bày tỏ ḷng sám hối bằng cách mềm mại để Chúa uốn nắn, và quyết tâm sống công b́nh bác ái với anh em. Amen.

 
 

17. Những hành vi thống hối

Bài Tin Mừng hôm nay Gioan Tẩy giả đưa ra lời kêu gọi thống hối đầy khó khăn, theo văn phong tiên tri của Cựu Ước: “Ṇi rắn độc kia, ai đă chỉ cho các anh cách trốn cơn thịnh nộ của Thiên Chúa sắp giáng xuống vậy? Các anh hăy sinh những hoa quả xứng với ḷng sám hối”.

Nhiều người nhanh chóng phản ứng và hỏi: “Phải làm ǵ đây?”. Đây là bài học quư giá của bài Tin Mừng này: đừng bao giờ để nhiệt t́nh thống hối ở trong sự mập mờ, không có sự thống hối. Có những hành vi chứng tỏ rằng chúng ta muốn thống hối và những hành vi đó cụ thể hoá tức khắc sự quay lại của con tim: “Phải làm ǵ đây?”

Trong khi suy niệm Tin Mừng Máccô, chúng ta thấy có điều ǵ đó làm thất vọng trong sự “thống hối” của chúng ta. Tâm t́nh của một sự biến đổi tuyệt diệu làm chúng ta hứng khởi: “Giờ đây, tốt lắm, cuộc sống của tôi sắp thay đổi”. Chúng ta nghĩ đây là bước đầu vĩ đại hướng tới lư tưởng, hướng tới sự thánh thiện. Nhưng chúng ta hầu như luôn luôn bị mắc bẫy, chúng ta ở trong “t́nh cảm” nồng nhiệt này (không đến) vài ngày, không nhanh chóng khai thác ơn thống hối này, và sự hứng khởi hạ xuống, cuộc sống tái diễn như trước.

Có một ranh giới khó vượt qua mà chúng ta thường kinh nghiệm: đi từ t́nh cảm tới hành động. Để chúng ta tức khắc đi cho đúng đường, bài suy niệm đầu tiên về sự thống hối nhấn mạnh đến tầm quan trọng của đức tin và lời cầu nguyện. Đừng láu cá, đừng chỉ dựa vào sức ḿnh mà thôi, cầu xin sự giúp đỡ của Thiên Chúa.

Lần này lại chú trọng đến ḷng can đảm của chúng ta, cũng phải tự tin nữa! Và do đó nhanh chóng tự hỏi “phải làm ǵ đây?”, một câu hỏi đơn sơ nhưng dứt khoát, trong khi hướng về cái đời thường nhất của cuộc sống chúng ta.

Những lời khuyên của Gioan Tẩy giả có thể xa vời với những vấn đề của chúng ta, nhưng chúng ta hăy ghi nhận lời mời gọi yêu thương, công bằng và bất bạo động. Một số nhiệt t́nh thống hối thúc đẩy chúng ta hướng về cầu nguyện hoặc thờ phượng, hay nỗ lực tạo tính cách: “Tôi sẽ tỏ ra dễ thương hơn đối với X…”. Tốt, nhưng chúng ta hăy nh́n xem chung quanh chúng ta một chút. Chúng ta sẽ đi đến chỗ chia sẻ như thế nào? “Ai có hai áo hăy cho bớt một áo”. Thật giản dị… và hiệu quả hơn là giấc mộng anh hùng cho mười cái áo mà điều này sẽ chỉ là một giấc mơ và sau đó sẽ là biết bao lần thống hối thất bại. Chúng để lại cho chúng ta vị đắng chát.

“Đừng ép buộc quá!”, Gioan Tẩy giả nói như thế với những người thu thuế. Thật là một sự xem xét lại rất cụ thể cách cư xử của chúng ta trong công việc, việc kinh doanh, sự giao dịch!

“Đừng làm khổ ai cả!”. Thậm chí không phải binh sĩ cũng không phải Trung tâm nghiên cứu khoa học, có lẽ chúng ta ảnh hưởng quá mạnh trên con cái chúng ta, trên các nhân viên, trên các thành viên của một cộng đồng mà chúng ta có trách nhiệm. Có rất nhiều cách để làm khổ, làm tay anh chị. Chúng ta càng nỗ lực để trở nên sáng suốt trong lănh vực tế nhị này, sự thống hối của chúng ta càng sẽ đi từ giấc mơ đến thực tế.

Và điều mà Gioan Tẩy giả đă không nói, chúng ta phải t́m cho ra, trong khi vẫn ở trong đường lối thực tiễn này: - Làm ǵ đây? – Cứ làm một điều ǵ đó!

  


 

18. Giàu và nghèo

Ai có hai áo hăy chia cho người không có và ai dư của ăn, cũng hăy lạm như vậy.

Vấn đề lớn nhất của nhân loại hiện nay là vấn đề giàu nghèo. Thực vậy, trên thế giới, có những nước quá giàu, lại có những nước quá nghèo. Có những người quá dư thừa tiền của, lại có những người quá thiếu thốn. Người giàu th́ ít mà kẻ nghèo th́ nhiều. Người giàu chỉ là thiều số, nhưng lại chiếm giữ đa số của cải. Ba mươi phần trăm người giàu ngồi hưởng tụ tới tám chín, mươi phần trăm lợi tức của toàn thế giới. C̣n bảy mươi phần trăn kẻ nghèo th́ lại cứ nghèo thêm. Cái nghèo lại khoét sâu vào cái nghèo.

Nghèo khó chính là mặt trái của cuộc đời, từ đó nảy sinh biết bao nhiêu điều xấu xa:

- Bần cùng sinh đạo tặc.

- Đói ăn vụng, túng làm liều.

Nghèo túng không phải là một tội, nhưng là một nỗi lo âu triền miên, nó làm cho con người không c̣n nhân phẩm, không c̣n là người nữa. Mà c̣n ǵ nữa đâu, v́ nó đă cướp đi những đặc tính cao đẹp của con người. Nó làm cho con người trở thành ghen tương và đố kỵ, chia rẽ và bạo động, phản bội và lừa đảo, bệnh tật và chết chóc. Từ chỗ thù hận, con người đối xử với nhau như một loài lang sói cũng chỉ v́ miếng ăn.

Hơn thế nữa, nghèo túng c̣n làm cho người ta coi nhẹ phần linh hồn, để rồi qú gối thờ lạy con ḅ vàng, hầu kiếm lấy cho ḿnh chút lợi lộc. V́ đồng tiền, người ta sẵn sàng bán rẻ lương tâm và phẩm giá của ḿnh. Người ta sẵn sàng cưỡi lạc đà chui qua lỗ kim và nuốt trửng gia tài của những bà góa. Nghèo túng th́ chẳng ai ưa, c̣n giàu sang th́ ai cũng muốn. Nhưng với Chúa Giêsu th́ khác. Ngài đă từ giă cơi trời cao sang để đến với chúng ta nơi máng cỏ Bêlem nghèo túng. Ba mươi năm tại Nagiarét là ba mươi năm lao động cực nhọc, ba mươi năm lam lũ đổ mồ hôi nước mắt với nghề thợ mộc. Trong hoang địa, ma quỉ đă cám dỗ Chúa về mộng ước giàu sang, nhưng Ngài đă xua đuổi. Quăng đời loan báo Tin mừng là cả một quăng đời vất vưởng lầm than, không có lấy một chỗ để tựa đầu. Sau cùng, Ngài đă chết một cái chết tủi nực và trơ trụi trên thập giá. Và ngay cả mấm mồ, nơi an nghỉ cuối cùng, cũng chỉ là một nấm mồ đi mượn của người khác mà thôi.

Giáo lư của Ngài cũng là giáo lư dành cho những kẻ khó nghèo và thực tế, kẻ nghèo đă đón nhận bản thân và những lời giảng dạy của Ngài. Thực vậy, Ngài đă phán:

- Không thể làm tôi hai chủ, v́ nếu mến chủ này th́ sẽ ghét chủ kia. Cũng vậy, không thể vừa làm tôi Thiên Chúa lại vừa làm tôi tiền của được…Kho tàng ở đâu th́ ḷng các ngươi cũng ở đó…Được lời lăi cả thế gian, mà mất linh hồn th́ nào có ích lợi chi…Con lạc đà chui qua lỗ kim c̣n dễ hơn người giàu có vào Nước Trời…

V́ thế, chúng ta hiểu được tại sao Ngài lại chúc phúc cho những kẻ nghèo túng. Họ là những người có tấm ḷng từ bỏ để tuân theo ư Chúa v́ mọi sự trần gian sẽ qua đi, của cải đă từng nhiều phen làm mồi cho rỉ sét, cho mối mọt, chứ chưa cần tới đời sau. Tục Ngữ m đă bảo:

- Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy,

Cảnh phù du trông thấy cũng nực cười.

Vậy tại sao không cố gắng sắm cho ḿnh của cải vĩnh cửu? Không ai trong chúng ta chịu bỏ tiền ra đều mua đồ dổm hay đồ giả, th́ tạo sao trong lănh vực thiêng liêng, chúng ta không sắm cho ḿnh đồ tốt, đồ thật, tức là niềm hạnh phúc Nước trời và cuộc sống vĩnh cửu. Vàng bạc và của cải trần gian so với hạnh phúc Nước trời chỉ là sự phù vân giả trá mà thôi. Vậy để chiếm hữu Nước trời, chúng ta phải làm ǵ? Tôi xin thưa:

- Phải nhường cơm sẻ áo cho nhau, lá lành đùm lá rách, như lời Gioan Tiền hô khuyên nhủ.

Chúng ta hăy nhớ rằng: được giúp đỡ người khác là một đặc ân Chúa ban cho chúng ta, v́ cho đi th́ hạnh phúc hơn là nhận lănh. Bàn tay tặng đóa hồng bao giờ cũng c̣n phải phất hương thơm và người làm phúc bố thí sẽ không bao giờ nghèo. Hơn thế nữa, khi giúp đỡ người khác là chúng ta giúp đỡ cho Chúa cũng như giúp đỡ cho chính bản thân ḿnh.

  


 

19. Suy niệm của JKN

Xây dựng đạo đức thánh thiện trên t́nh thương và công lư

Câu hỏi gợi ư:

1. Để giúp mọi người sám hối, Gioan Tẩy giả khuyên mỗi loại người một lời khuyên khác nhau. Tại sao vậy? Ta có thể rút ra kết luận ǵ về điều ấy?

2. Công lư và t́nh thương có liên hệ ǵ với nhau? T́nh thương không được xây dựng trên công lư có phải là đức ái kitô giáo không? Tại sao?

3. Sám hối để đón Chúa đến đ̣i hỏi phải có sự thay đổi: giữa thay đổi quan niệm và thay đổi thái độ hay hành động, cái nào quan trọng và nền tảng hơn? Cần phải thay đổi quan niệm nào và thay đổi thế nào?

Suy tư gợi ư:

1. Công lư và t́nh thương

Gioan Tẩy Giả kêu gọi sám hối để dọn đường cho Chúa đến. Khi có người muốn đi vào cụ thể của việc sám hối, Gioan đă tùy theo đối tượng hỏi mà đề ra hai loại việc làm cụ thể. Đối với những người tŕnh độ tâm linh c̣n thấp, ông đề nghị những việc làm liên quan đến việc thực hiện công bằng hay công lư: «Đừng đ̣i hỏi ǵ quá mức đă ấn định cho các anh», «Chớ hà hiếp ai, cũng đừng tống tiền người ta, hăy an phận với số lương của ḿnh». Đối với những người đă thực hiện được sự công bằng hay công lư trong đời sống, ông đưa họ lên một mức độ trọn lành cao hơn, đó là t́nh thương hay bác ái: «Ai có hai áo, th́ chia cho người không có; ai có ǵ ăn, th́ cũng làm như vậy».

Công lư và t́nh thương hay công bằng và bác ái là hai tinh thần căn bản của Kitô giáo. Hai đức này phải đi đôi với nhau th́ mới thật sự là tinh thần Kitô giáo. Nghĩa là công lư Kitô giáo phải là thứ công lư có t́nh thương, và t́nh thương Kitô giáo phải là t́nh thương được xây dựng trên nền tảng công lư. Nói theo ngôn ngữ thông thường là t́nh và lư phải luôn đi đôi với nhau: lư phải có t́nh, mà t́nh phải có lư.

2. T́nh thương phải có nền tảng là công lư, công lư phải được xây dựng trên sự thật

Tuy nhiên, c̣n một điều hết sức căn bản nữa của tinh thần kitô giáo, đó là tinh thần tôn trọng chân lư hay sự thật. Trong Tin Mừng Matthêu, Đức Giêsu cho biết: «Những điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công lư, t́nh thương và sự thành thật» (Mt 23,23). Sự thành thật ở đây chính là tinh thần tôn trọng chân lư, sự thật, nghĩa là: «Hễ "có" th́ phải nói "có", "không" th́ phải nói "không". Thêm thắt điều ǵ là do ác quỷ» (Mt 5,37). Do đó, đạo đức hay thánh thiện mà thiếu tôn trọng một trong ba điều này, là «công lư, t́nh thương và sự thành thật», th́ chỉ là thánh thiện hay đạo đức một cách què quặt.

Tuy nhiên, trong ba điều này th́ sự thành thật hay tinh thần tôn trọng sự thật là nền tảng cho cả hai điều kia. Thiếu tinh thần tôn trọng sự thật th́ không thể có công lư và t́nh thương đích thực. Trong ba điều quan trọng ấy, t́nh thương là cao cả nhất - v́ là bản chất của Thiên Chúa (x.1Ga 4,8.16) - nhưng t́nh thương chỉ là t́nh thương đích thực khi nó được xây dựng trên nền tảng công b́nh hay công lư. T́nh thương có nền tảng như thế mới có thể là đức ái kitô giáo. Chính v́ thế, đối với những người tội lỗi, ông Gioan chỉ đ̣i hỏi họ giữ được sự công bằng mà thôi. Với người b́nh thường - giả thiết là đă thực hiện sự công b́nh - ông mới khuyên họ thể hiện t́nh yêu thương tích cực với đồng loại, đặc biệt với người nghèo khổ.

3. Sự phán xét của Thiên Chúa

Trong bài Tin Mừng, Gioan cho biết Đấng Mêsia đến sau ông có nhiệm vụ giáo dục, thánh hóa mọi người: «Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần và lửa». Ngoài ra, Ngài c̣n có nhiệm vụ sàng sẩy, thanh lọc, tức phán xét và thưởng phạt mọi người nữa: «Tay Người cầm nia rê sạch lúa trong sân: thóc mẩy th́ thu vào kho lẫm, c̣n thóc lép th́ bỏ vào lửa không hề tắt mà đốt đi».

Mục đích của công việc giáo dục, thánh hóa của Ngài chắc chắn là biến con người trở thành những con người hoàn hảo: «Anh em hăy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện» (Mt 5,48). Và con người hoàn thiện theo quan niệm của Ngài ắt phải là người thực hiện được «những điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công lư, t́nh thương và sự thành thật» (Mt 23,23).

Nếu mục đích của việc giáo dục, thánh hóa của Ngài là như thế, ắt tiêu chuẩn để xét đoán, thưởng phạt của Ngài cũng phải dựa trên ba điều căn bản ấy. Thật vậy, Tin Mừng Matthêu cho ta biết tiêu chuẩn ấy là chúng ta có đối xử với tha nhân của ḿnh bằng t́nh yêu hay không (x. Mt 25,31-46). T́nh yêu mà Đức Giêsu đ̣i hỏi là phải là thứ t́nh yêu được xây dựng trên nền tảng sự thật và công lư.

4. Sám hối một cách nền tảng là thay đổi quan niệm

Các bài Tin Mừng trong mùa Vọng đều ít nhiều nhấn mạnh đến tinh thần sám hối: Gioan «kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ ḷng sám hối để được ơn tha tội» (Lc 3,3). Sám hối đ̣i hỏi một sự thay đổi cụ thể: «Mọi thung lũng, phải lấp cho đầy, mọi núi đồi, phải bạt cho thấp, khúc quanh co, phải uốn cho ngay, đường lồi lơm, phải san cho phẳng» (Lc 3,5). Điều quan trọng nhất mà chúng ta phải thay đổi chính là quan niệm về sự thánh thiện hay ḷng đạo đức của chúng ta. Rất nhiều kitô hữu quan niệm chưa đúng về điều này, nên dù rất khao khát và quyết tâm nên thánh, nhưng trong thực tế chỉ là thánh trước con mắt sai lầm của một số người, chứ không phải là thánh trước con mắt của Thiên Chúa.

Hồi nhỏ, tôi có quen biết một bà sống độc thân. Bà rất siêng năng đọc kinh, đi lễ, xưng tội, coi đó như là điều quan trọng nhất trong đời. V́ thế, nhiều người coi bà là một người rất đạo đức. Có điều là bà rất khó tính, con cháu dù lớn hay nhỏ đều cảm thấy không thích ở gần bà. Mặc dù con cháu ruột thịt của bà rất đông và nhiều đứa rất nghèo khổ, nhưng trước khi bà mất, bà dùng hết tiền của và tài sản bà có để xin lễ, không để lại cho đứa cháu nào lấy một đồng. Bà lo sợ sau khi chết, con cháu sẽ không có đứa nào xin lễ cho bà, nên bà phải tự lo lắng lấy chuyện ấy. Thấy vậy, tôi tự hỏi: không biết cả tài sản của bà mà đem xin lễ như thế có thật sự lợi ích cho phần rỗi linh hồn của bà không? Xét cho cùng th́ bà chỉ là một người ích kỷ: bà chỉ nghĩ tới phần rỗi linh hồn. hạnh phúc đời sau của bà, chứ không hề yêu thương ǵ con cháu. Con cháu ruột thịt của bà mà bà không yêu thương th́ bà c̣n yêu thương được ai? làm sao bà yêu thương được Đấng vô h́nh như Thiên Chúa? Bà hành động như thế chính v́ bà có một quan niệm sai lầm về đạo đức và thánh thiện, mà đáng buồn thay không ai có đủ thẩm quyền giúp bà thay đổi quan niệm ấy!

5. Đạo đức hay thánh thiện phải được xây dựng trên chân lư, công lư và t́nh thương

Hiện nay, chắc hẳn vẫn có những kitô hữu quan niệm đạo đức theo kiểu của bà cụ trong câu chuyện trên. Thiết tưởng chúng ta cần phải quan niệm cho đúng về sự đạo đức, thánh thiện th́ mới trở nên đạo đức, thánh thiện đúng nghĩa được. Đạo đức hay thánh thiện phải được xây dựng trên nền tảng vững chắc là chân lư, công lư và t́nh thương, chứ không phải trên những lễ nghi hay những h́nh thức của tôn giáo. Làm sao ta có thể nên giống Đức Giêsu, Đấng «muốn ḷng nhân chứ không phải hy lễ» (Hs 6,6; Mt 9,13), đang khi ta lại chủ trương coi hy lễ quan trọng hơn cả ḷng nhân?

Thánh Gioan Kim Khẩu viết: «Anh em có muốn tôn kính thân thể Chúa Kitô không? Vậy th́ đừng bỏ qua Ngài khi thấy Ngài trần truồng. Đừng tôn vinh Ngài với đủ thứ gấm vóc lụa là trong đền thờ, trong khi lại bỏ mặc Ngài đang run lạnh và trần truồng ngoài trời. Đấng đă từng nói “Đây là ḿnh Thầy” cũng chính là Đấng đă nói "Các ngươi thấy ta đói mà không cho ăn"… Có ích ǵ khi bàn tiệc Thánh Thể th́ chất nặng những chén lễ bằng vàng, trong khi Đức Kitô đang hấp hối v́ đói khát? Hăy cho Ngài hết đói khát đă, rồi mới lấy những ǵ c̣n lại mà trang hoàng bàn thờ!» (Tông huấn GHTCA trích dẫn, số 41§2).

Để đón Chúa đến, thiết tưởng điều quan trọng nhất là chúng ta cần quan niệm cho đúng về sự thánh thiện. Đạo đức hay thánh thiện kitô giáo phải được xây dựng trên «những điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công lư, t́nh thương và sự thành thật» (Mt 23,23), tức «chân lư, công lư và t́nh thương».

Cầu nguyện

Lạy Cha, Đức Giêsu luôn coi trọng t́nh thương và cách xử sự giữa con người với nhau hơn cả những nghi thức tôn giáo (x. Mt 6,23-24; 9,13). Xin giúp con thay đổi quan niệm giống như Đức Giêsu để đón Ngài đến trong tâm hồn con như một vị Thầy, một gương mẫu thánh thiện cho cuộc đời của con. Thật là trớ trêu khi con muốn nhận Ngài là Thầy mà lại không muốn quan niệm mọi sự giống như Ngài.

 
 

20. Nhà giảng thuyết đường phố

Bác sĩ Karl Menninger, trưởng khoa tâm bệnh học của Mỹ đă làm nhiều người kinh ngạc với quyển sách của ông mang tựa đề: “Whatever became of sin? (Điều ǵ đang xảy đến cho tội lỗi?). Ông bắt đầu quyển sách bằng một câu chuyện trào lộng khiến chúng ta phải suy nghĩ. Vào một ngày Chúa nhật tháng chín năm 1972, trên góc phố đông người qua lại thuộc khu trung tâm Chicago, xuất hiện một nhà chuyên giảng thuyết ở đường phố. Đang lúc các nhân viên văn pḥng vội vă lo đi ăn trưa, nhà giảng thuyết này th́nh ĺnh giương cánh tay phải lên, dùng ngón tay xương xẩu chỉ vào một nhân viên nào đó rồi la lên: “Anh là kẻ có tội!”, đoạn ông đứng im, nghỉ vài giây rồi lại bắt đầu chỉ vào một nhân viên khác và la lên: “Anh là kẻ có tội!”.

Bác sĩ Menninger nói: “Tác động mà nhà giảng thuyết gây ra nơi những người bộ hành đi ngang qua đó thật là kỳ lạ. Họ lấm lét nh́n ông, rồi lại quay mặt đi chỗ khác, rồi lại lén nh́n nữa, và cuối cùng vội vàng đi tiếp”.

Chắc chắn Gioan Tẩy giả cũng gây được tác động tương tự trên đám dân khi ngài xuất hiện ở bờ sông Giócđan. Hẳn nhiên trong đám dân, một số chế nhạo ngài, số khác tức giận ngài, c̣n số khác nữa nhận biết từ thâm sâu cơi ḷng ḿnh sự sai quấy của ḿnh. Chẳng hạn chúng ta đọc thấy trong bài Phúc Âm hôm nay: Các người thu thuế nhận ra ḿnh đă có lỗi trong việc thu thuế quá mức, đám lính tráng nhận thấy ḿnh thường hay bắt nạt dân chúng, c̣n tất cả dân chúng đều nhận ra tội không biết chia sẻ phần của cải dư thừa cho người túng thiếu. Trong quyển sách nói trên, bác sĩ Menninger cho thấy rằng nhiều người thời nay cũng đă phạm những điều sai quấy. Nhưng điều đó không làm cho bác sĩ Menninger phải ưu tư hay lưu tâm tới. Điều khiến cho ông phải ưu tư hay lưu ư tới là có nhiều người thời nay không chịu chấp nhận rằng ḿnh đă làm những điều sai quấy. Chính v́ thế mà nhà giảng thuyết trên chỉ nói: “Anh (hay chị) là kẻ có tội” đă tạo ra một tác động thật là kỳ lạ nơi những nhân viên làm việc ở Chicago.

Thánh Gioan Tẩy giả cũng như nhà giảng thuyết nọ đă chạm vào nơi vùng thâm sâu dễ tổn thương nhất của dân chúng. Ngài đ̣i buộc dân chúng xét lại tâm hồn ḿnh và nhận biết lỗi lầm của ḿnh. Ngài c̣n đ̣i họ phải từ bỏ tội lỗi để quay về cùng Thiên Chúa.

Trong cuốn sách tựa đề ‘Something more’ (Một cái ǵ hơn thế nữa) của bà Catherine Marshall, người ta t́m thấy một minh hoạ sống động về những khuyến dụ của Gioan Tẩy giả. Một hôm, cô Linda, con gái bà chuẩn bị đi tắm. Ngay khi vừa đặt một chân xuống bồn ngay dưới ṿi tắm, c̣n chân kia vẫn c̣n trên chiếc thảm ngoài bồn tắm, cô bỗng liên tưởng đến h́nh ảnh cuộc đời của ḿnh. Cô thường muốn hiến dâng đời ḿnh cho Chúa, nhưng chẳng bao giờ hoàn tất được ước nguyện đó, v́ cô luôn sống trong t́nh trạng chân trong chân ngoài như thế này. Giờ đây có lẽ đă đến lúc cô phải quyết định dứt khoát hoặc theo Chúa hoặc không theo Ngài. Cô nghĩ đến cái giá phải trả khi chọn con đường theo Chúa. Giá ấy chẳng phải rẻ, nhưng cô đă quá mệt mỏi v́ t́nh trạng lập lờ hai phía, để rồi chả phía nào đem lại cho cô b́nh an thoải mái. Thế rồi, cô đứng im suy nghĩ một hồi lâu, đoạn hít một hơi sâu vào lồng ngực, và nói to lên: “Lạy Chúa, con xin chọn Ngài”. Nói xong, cô bước hẳn hai chân vào bồn tắm. Hành vi này đối với cô giống như một phép rửa đích thực. Đây chính là sự biến đổi tâm hồn mà Gioan Tẩy giả đề nghị dân Do Thái thực hiện.

Vậy làm thế nào áp dụng thực tế những điều trên đây vào cuộc sống chúng ta? Muốn trả lời câu hỏi quan trọng này, chúng ta hăy trở lại câu chuyện của bác sĩ Menninger về nhà giảng thuyết trên đường phố nọ. Tất cả chúng ta đều đă từng làm điều sai quấy. Nếu c̣n chút nghi ngờ ǵ về điều này chúng ta chỉ cần đọc lại lá thư thứ nhất của thánh Gioan Tông đồ, trong đó ngài dùng những câu nói hết sức thẳng thừng: “Nếu chúng ta nói rằng: chúng ta không có tội là chúng ta tự lừa dối ḿnh… Nếu chúng ta cho rằng ḿnh không hề phạm tội tức chúng ta xem Thiên Chúa là kẻ nói dối và không có lời Ngài trong bản thân chúng ta” (1Ga 1, 8.10).

Chúng ta rất vui mừng khi nghe thánh Gioan công bố ra tội lỗi của chúng ta một cách thẳng thừng như thế, v́ điều đó giúp chúng ta dễ dàng đồng ư với bác sĩ Menninger hơn, khi ông cho rằng việc nh́n nhận tội lỗi đem lại cho chúng ta sức khoẻ tâm lư lẫn tinh thần. Quả thế, chúng ta phải nh́n nhận ḿnh là kẻ có tội. Nói rơ hơn là chúng ta rất xinh, rất đẹp, nhưng đồng thời cũng rất yếu hèn. Có nhiều khía cạnh trong cuộc sống chúng ta cần được Chúa tha thứ và chữa lành nhờ bí tích Giải tội.

V́ thế, mùa vọng chính là thời gian giúp chúng ta nh́n nhận ḿnh là kẻ có tội để rồi chúng ta ăn năn thống hối xưng tội ra ngơ hầu mở rộng tâm hồn trước Chúa Giêsu, Đấng cứu độ chúng ta. Đây là thời gian để chúng ta làm điều Linda Marshall đă làm, nghĩa là không thể kéo dài t́nh trạng sống hai mặt mà chả cái nào ra hồn cả. Đây là thời gian để chúng ta hít sâu hơi thở vào lồng ngực rồi thốt lên với Chúa: “Lạy Chúa, con xin chọn Ngài”.

Để kết thúc, chúng ta hăy lập lại lời cầu nguyện được một Kitô hữu tên là Origen viết ra: “Lạy Chúa Giêsu, đôi chân con dơ bẩn… xin hăy đổ nước vào thau và rửa cho con. Con biết rằng con quá bạo gan khi cầu xin Chúa điều này, nhưng v́ con sợ bị Chúa quở trách: Nếu Ta không rửa chân con th́ con chẳng phải là bằng hữu của Ta. Vậy xin Chúa hăy rửa chân con v́ con ao ước được làm bằng hữu của Ngài”.