|| Trang Chủ || Chia sẻ || Tập san || Thông hiệp ||

 

* Các bài suy niệm CHÚA NHẬT 33 THƯỜNG NIÊN – C

Lời Chúa: Ml 3,19-20a; 2Tx 3,7-12; Lc 21,5-19

* Các bài suy niệm LỄ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM

Lời Chúa: Kn 3,1-9; 2Cr 4,7-15; Mt 10,17-22

 

MỤC LỤC

* CHÚA NHẬT 33 THƯỜNG NIÊN.

1. Giêrusalem.

2. Kitô hữu mang niềm hy vọng.

3. Ngày của Chúa.

4. Sự chịu đựng.

5. Chia sẻ sự bất lực của chúng ta.

6. Suy niệm của William Barclay.

7. Ngày tận cùng.

8. Hy vọng.

9. Đức tin.

10. Suy niệm của JKN.

11. Ngày tận thế.

* CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM.

1. Các Thánh Tử Đạo Việt Nam.

2. Không thuộc về thế gian.

3. Anh em làm chứng cho Thầy.

4. Sống chứng nhân Tin Mừng – ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

5. Chứng nhân t́nh yêu – ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

6. Các thánh Tử Đạo Việt Nam.

7. Chúa Thánh Thần sẽ soi sáng cho biết phải nói ǵ

8. Tử đạo.

9. Làm chứng.

10. Tử đạo hay sống đạo?.

11. Suy niệm của Lm. Phạm Thanh Liêm.

12. Sống đạo và chết v́ đạo.

13. Niềm tin.

14. Tử đạo, một chọn lựa của ḷng tin.

15. Tử đạo.

16. Chứng nhân.

17. Các thánh Tử Đạo Việt Nam.

18. Các Thánh Tử Đạo Việt Nam

  

* CHÚA NHẬT 33 THƯỜNG NIÊN

1. Giêrusalem

Qua đoạn Tin Mừng sáng hôm nay Chúa Giêsu đă tiên báo về sự tàn phá đền thờ Giêrusalem, cũng như về ngày tận cùng của vũ trụ vật chất.

Trước ngày trọng đại ấy sẽ có những biến cố xảy ra: nào là các tiên tri giả xuất hiện, nào là chiến tranh, động đất, bệnh tật và đói kém, nào là bắt bớ và cấm cách cho những người môn đệ của Chúa. Tuy nhiên điều làm cho chúng ta ṭ ṃ và băn khoăn hơn cả đó là bao giờ th́ ngày trọng đại ấy sẽ đến?

Đứng trước câu hỏi này Chúa Giêsu đă không trả lời, v́ đó là một bí mật, một mầu nhiệm trong quyền năng của Thiên Chúa. Thế nhưng chúng ta thường phản ứng ra sao, chúng ta thường sống như thế nào trước vấn đề này? Trải qua ḍng lịch sử chúng ta có thể ghi nhận được ba loại phản ứng, ba kiểu sống khác nhau.

Kiểu sống thứ nhất của những người cho rằng đó chỉ là một câu chuyện viển vông, bịa đặt. Họ sống như là không phải chết bao giờ, và vũ trụ này sẽ tồn tại măi măi. Họ b́nh thản lặn ngụp trong tội lỗi và thoả sức thực hiện những mưu đồ gian tham của ḿnh, để rồi cuối cùng, bừng con mắt dậy thấy ḿnh tay không, họ sẽ mất cả chỉ lẫn chài, cả vốn lẫn lăi, cả đời này lẫn đời sau.

Kiểu sống thứ hai của những người cho rằng ngày tận thế sắp đến nơi rồi, và họ trở thành như tê liệt, không c̣n thiết tha ǵ đối với cuộc sống hôm nay. Việc quan trọng đối với họ đó là chờ đợi ngày Chúa sẽ đến. Đây cũng là thái độ của một số các tín hữu sơ khai, làm cho họ trở thành bi quan và chán nản.

Kiểu sống thứ ba phải là kiểu sống của chúng ta. Vậy th́ kiểu sống ấy như thế nào? Trước hết chúng ta xác tín rằng: Bản thân chúng ta cũng như vũ trụ vật chất này, đă có một khởi đầu th́ cũng sẽ có một kết thúc. Bao giờ th́ kết thúc ấy sẽ xảy ra, thiết tưởng chúng ta không cần biết đến, điều quan trọng trong giây phút hiện tại đó là chúng ta phải biết chuẩn bị để chúng ta sẽ không trở thành những kẻ bị thua lỗ khi ngày trọng đại ấy xuất hiện.

Chúng ta chuẩn bị bằng cách khử trừ thói hư tật xấu. Chúng ta chuẩn bị bằng cách thực hiện những hành động bác ái yêu thương giúp đỡ những người chung quanh. Làm như thế, chúng ta tích góp phần xây dựng cho xă hội này mỗi ngày một tốt đẹp, cũng như nhờ đó mà chúng ta thực hiện được mục đích cuối cùng của đời sống chúng ta, là sẽ được trở về cùng Chúa trên quê hương Nước Trời.

Như thế, niềm tin tưởng vào Chúa lại đến trong vinh quang, sẽ không làm cho chúng ta bị tê liệt, hay thất vọng chán ngán, trái lại sẽ làm cho chúng ta thêm hăng hái, thêm phấn khởi để chu toàn những bổn phận trần thế của ḿnh bởi v́ hiện tại sẽ xác định cho tương lai. Ngày mai của chúng ta có tươi sáng hay không là do tất cả những ǵ chúng ta đang cố gắng xây dựng trong hiện tại, trong hôm nay, bởi v́ tương lại phải được bắt đầu từ hiện tại và ngay mai phải được bắt đầu từ hôm nay.

 
 

2. Kitô hữu mang niềm hy vọng

Tại sao Chúa nói đến ngày tận thế, một bí ẩn đối với chúng ta? Vả lại chúng ta phải quan tâm đến thời buổi chúng ta đang sống, chúng ta có bổn phận hoàn thiện xă hội bây giờ, phải làm sao cho trên địa cầu có thêm công bằng, t́nh thương, b́nh đẳng trong sự phân phối an lạc hạnh phúc, thêm tự do về phương diện vật chất và tinh thần. Nói cho đúng, bài giảng của Đức Giêsu về ngày tận thế đặt vấn đề mục tiêu và cứu cánh mọi nền văn minh. Chúng ta có tưởng tượng được không một nền văn minh sản xuất những công tŕnh tuyệt tác, kể cả những công tŕnh hiến dâng Thiên Chúa như Đền Thờ Giêrusalem, những công tŕnh có thể tồn tại măi măi, không có ǵ phá huỷ được? Chừng nào sẽ xuất hiện một nền văn minh không có chiến tranh? Không có nạn đói? Không chống đối thù nghịch Thiên Chúa và Đức Kitô của Người? Chúa Giêsu trả lời ngay: không. Vậy th́ Kitô hữu mọi thời đại phải mang niềm hy vọng đích thật, phải tin tưởng vào tác động Thiên Chúa trong tâm hồn ḿnh để có sức mạnh mang hy vọng vào xă hội đương thời. Chúa phán:

1) “Hăy coi chừng kẻo bị lừa gạt”.

Ai ai cũng thấy ḷng ḿnh se thắt lại v́ khao khát hy vọng. Rất nhiều sứ giả t́m đến đề nghị những giải đáp lừa gạt hy vọng. Thậm chí, một số đội danh nghĩa Đức Kitô. Chúa bảo chúng ta hăy coi chừng bọn lái buôn hy vọng hăo huyền. Đừng để bị lừa gạt, nghĩa là hăy an tâm vững chí trong sự thật. Hoạt động để “Danh Thánh” được nh́n nhận trong hy vọng, trong nền văn minh là đem chất men sự thật vào hy vọng con người, vào văn minh nhân loại. “Danh Thánh” là tên Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng Cứu Chuộc thế gian. Chúng ta đóng góp vào công cuộc cứu vớt một nền văn minh tuỳ theo chúng ta nhiều hay ít dùng thực tại đời sống, lời nói, hoạt động Tông đồ, làm chứng rằng con người chỉ thành toàn trong quan hệ với Đức Giêsu. Người thờ phụng Thiên Chúa và hy sinh mạng sống cho nhân loại anh em Người.

2) “Người ta sẽ bách hại các ngươi”.

Đem niềm hy vọng Kitô giáo vào thế gian tất nhiên gặp những phản ứng thù nghịch của thế gian. Chúa bảo, đó là điều không tránh được. Môn đệ không trọng hơn Thày. Kitô hữu có thể khiếp sợ, có thể áy náy dễ gặp những giây phút yếu đuối. Chúa bảo, một sự hiện diện siêu phàm ngự trị trong tâm hồn Kitô hữu. Chính Đức Giêsu ban cho môn đệ cách ăn nói và sự khôn ngoan, nhưng thế gian đáp lại bằng ác tâm ác ư. Tuy nhiên có những tâm hồn ngay thẳng đáp ứng bằng một thái độ bắt đầu t́m hiểu. Đức Giêsu bảo môn đệ chớ có chuẩn bị tự bào chữa, nghĩa là Kitô hữu không được thấy vậy mà sinh ra âu lo áy náy, nhưng phải đặt ra cho ḿnh nghĩa vụ trở nên tài giỏi, có khả năng tuỳ sức ḿnh tỏ ra cho thế gian thấy ḿnh đă suy nghĩ nhiều về đức tin của ḿnh, sống đức tin cách ư thức, lấy đức tin làm giá trị đời ḿnh. Kitô hữu phải làm chứng rằng đức tin tăng giá trị đời sống con người ḿnh. Kitô hữu có thể trông cậy vào Đức Kitô, xin Người trợ giúp ḿnh trong nỗ lực nói trên để đối phó với những chống đối.

 
 

3. Ngày của Chúa

Sẽ có ngày cả thế giới và vũ trụ này biến đổi. Bao giờ? Thế nào? Và có những dấu hiệu nào báo trước không?

Vào khoảng năm 450 trước Công Nguyên, Ngôn Sứ Malaki đă ra đi tuyên sấm. Ông loan báo “ngày của Chúa” sẽ đến, nhằm làm sống lại niềm hy vọng của Dân Chúa sau cuộc hồi hương của Babylon trở về. Đất nước bị dân ngoại chiếm đóng, đền thờ vẫn hoang tàn, tôn giáo bị biến chất, lễ bái trở nên vô vị. Từ đó, dân chúng chán nản ngă ḷng. Phải chăng Thiên Chúa đă bỏ dân Ngài. Phải chăng Thiên Chúa đă không trung thành giữ lời Ngài đă hứa?

Ngôn sứ Malaki loan báo: Đừng tưởng mọi sự sẽ như thế nầy măi. Thiên Chúa không bỏ Dân Ngài. Sự ác không thống trị măi… Ngày của Chúa sẽ đến. Ngày ấy sẽ là ngày khủng khiếp, ngày tiêu diệt. Tất cả những kẻ kiêu căng cà làm điều ác sẽ như rơm rạ làm mồi cho ngọn lửa…

Nhưng “Ngày của Chúa” sẽ là ngày đầy hy vọng của những người công chính. Bởi v́ là ngày họ sẽ trông thấy công b́nh và thánh thiện chiến thắng vĩnh viễn tội ác, ngày mà các dân sẽ nối gót Dân Chúa tiến về với Chúa, tiến lên Đền Thánh mới.

Như vậy, lời tiên tri của Ngôn sứ Malaki hôm nay không phải là lời tiên báo ngày tận thế. Đó là lời tuyên báo ngày Chúa đến cứu độ Dân Ngài, sau những thời gian thử thách nặng nề nhằm kêu gọi Dân Chúa hăy luôn hy vọng và tin tưởng vào ngày cứu độ.

Tin Mừng hôm nay minh họa Ngày cảu Chúa với những h́nh ảnh của Cựu Ước: vẫn là cảnh trời long đất lở, lửa cháy phừng phừng, trừng phạt kẻ dữ, thưởng công người lành. Sau biến cố năm 70, Đền thờ Giêrusalem từng là niềm kiêu hănh của người Do Thái, đă không c̣n ḥn đá nào trên ḥn đá nào: mọi thứ đều sụp đổ, tiêu tan… đối với các Kitô hữu đầu tiên, phải chăng đó là dấu chỉ ngày tận thế? Phải chăng Nước Trời mà Chúa Kitô loan báo đă gần kề? Họ tưởng như vậy và nôn nóng chờ đợi. Nhưng rồi thời gian không thiên vị ai, và cảnh chờ đợi sốt ruột kia cứ kéo dài măi không ngừng. Họ bắt đầu chán nản thất vọng.

Chúa Giêsu đă không gắn liền thời gian cùng tận với những hiện tượng xă hội và thiên nhiên xảy ra. Ngài không đến để báo trước ngày tận thế như những tiên tri giả. Trái lại, Ngài bảo: “Anh em hăy coi chừng kẻo bị lường gạt”, v́ sẽ có người tự xưng là tiên tri và tiên đoán ngày tận thế. “Các con đừng tin theo họ”. Cũng đừng căn cứ vào các tai biến mà cho là ngày tận thế sắp đến rồi, v́ chiến tranh, thiên tai, địa họa là những tai biến thời nào cũng có. “Các con đừng sợ, v́ những biến cố ấy phải xảy đến trước, nhưng chưa phải là hết đời ngay đâu”.

Cả những cuộc bách hại Giáo Hội cũng không phải là dấu hiệu ngày tận thế. Chúa đă tiên báo: “Người ta sẽ cầm tù các con, sẽ đưa các con ra trước ṭa án”. Nhưng Chúa lại căn dặn: “Đừng lo sợ, v́ đó là cơ hội để các con làm chứng cho Thầy”. Thiên Chúa sẽ trợ lực chúng con, “nếu chúng con can trường, kiên tŕ, bền đỗ đến cùng, các con sẽ cứu được sự sống của các con”.

Thưa anh chị em,

Chắc chắn thế giời sẽ có ngày tận cùng. Năm 2000 chăng? Không ai biết được. Ai khẳng định điều đó, người ấy là tiên tri giả. Ai coi chiến tranh, động đất, ôn dịch, đói kém là dấu hiệu bắt đầu tận thế để rồi chán nản, buông xuôi, bỏ bê công việc, thay v́ hoạt động góp phần ổn định đời sống, đem lại công lư, ḥa b́nh, ấm no, hạnh phúc, người đó là tiên tri giả hiểu, láo khoét, lừa bịp thiên hạ. Nhưng đáng tiếc là khi gặp khó khăn, đau khổ, người ta lại dễ tin theo các “tiên tri dỏm” đó!

Người Kitô hữu chúng ta, trước mọi nghịch cảnh, phải sống theo niềm tin đích thực vào Thiên Chúa. Phải luôn trung thành trong đức tin của ḿnh và làm chứng cho Nước Chúa, Nước vĩnh cửu, bất diệt ở bên kia thế giới nầy. Phải kiên tŕ, trung thành trong bổn phận hằng ngày th́ mới mong kiên vững trước nghịch cảnh. Nếu không kiên tŕ trong việc tầm thường hằng ngày th́ khó mà kiên tŕ trong lúc gặp nguy biến.

Nếu ngay bây giờ, từng giây phút, chúng ta cố gắng sống trung thành trong đức tin, trong bổn phận, th́ “khi nào tậnt hế?”, điều đó không thành vấn đề. V́ “ai kiên trung bền đỗ đến cùng, người ấy sẽ được cứu thoát và được sống đời đời”.

Vậy, đừng bận tâm khi nào tận thế, hăy lo sống hiện tại và kiên tŕ. Đừng tin những lời đồn đại xuyên tạc trước những biến cố khủng khiếp của lịch sử. Điều quan trọng duy nhất là trung thành làm chứng cho Chúa. Mỗi người chỉ có hôm nay để xây dựng ngày mai và cuộc sống vĩnh cửu.

 
 

4. Sự chịu đựng

Anne Frank là một cô gái Do Thái tuổi độ mười ba sống ở Amsterdam trong những năm đầu của chiến tranh Thế giới II. Khi quân Đức quốc xă săn lùng mọi người Do Thái, cô và gia đ́nh trốn tránh. Tất cả có bảy người, họ ẩn núp hai năm liền trong một tầng gác sát mái nhà. Ở đó, họ chờ đợi từng ngày trong nỗi sợ hăi cái ngày mà mật vụ Đức khám phá ra họ.

Trong thời gian này, Anne viết nhật kư mà sau khi chiến tranh chấm dứt cha cô đă t́m thấy. Cuốn nhật kư ấy được dịch ra nhiều thứ tiếng và có được hàng triệu độc giả. Trong đó, Anne diễn tả những suy nghĩ và những cảm nhận của cô với sự già dặn vượt quá tuổi cô. Trong một đoạn đáng để ư. Cô viết:

“Đám trẻ chúng tôi phải chịu khó khăn gấp đôi để giữ vững tinh thần, trong một thời đại khi mọi lư tưởng tan vỡ và bị huỷ hoại, khi người ta bộc lộ khía cạnh tồi tệ nhất của ḿnh và không biết ḿnh có tin vào chân lư, lẽ phải và Thiên Chúa hay không”.

“Quả là một điều kỳ diệu v́ tôi đă không đánh mất mọi lư tưởng của tôi, bởi v́ chúng có vẻ rất phi lư và không thể thực hiện được. Tuy nhiên tôi vẫn giữ chúng v́ dù sự việc có ra sao, tôi vẫn tin rằng trong thâm tâm con người vẫn tốt lành.

“Tôi nh́n thế giới đang trở lại với sự dă man, tôi luôn nghe thấy sự đe doạ đến gần, nó sẽ huỷ hoại chúng ta, tôi có thể cảm thấy sự đau khổ của hàng triệu con người nhưng nếu tôi nh́n lên trời cao, tôi nghĩ rằng mọi người muốn lên đó, sự tàn bạo này sẽ chấm dứt, hoà b́nh và yên tĩnh sẽ trở lại”.

Đây là một sự diễn tả lạ lùng về đức tin và hy vọng ở một thời đại với biết bao biến động. Anne không bao giờ nh́n thấy hoà b́nh và sự yên tĩnh trở lại. Một ngày nọ tiếng gơ cửa chết người vang lên ở cửa. Cô và gia đ́nh cô bị đưa đến trại tập trung Nelsen. Năm 1944, cô chết ở đó.

Điều ǵ giúp cho một người chịu đựng? Sự đúng đắn của chính nghĩa cho người ta sức mạnh to lớn. Gương sáng và sự nâng đỡ của những người khác cũng là một sự hỗ trợ to lớn. Và rồi, có một sự giúp đỡ tốt hơn hết, đó là đức tin. Đức tin mang lại cho con người niềm xác tín rằng điều thiện hảo sau cùng sẽ chiến thắng và Thiên Chúa sẽ có tiếng nói quyết định.

“Một người với một hạt giống đức tin vào Thiên Chúa không bao giờ mất hy vọng, bởi v́ người ấy luôn luôn tin vào chiến thắng sau cùng của chân lư” (Gandhi).

Trong một thế giới với quá nhiều biến động xă hội và chính trị, những người có đức tin thường bị coi là ngây thơ vô tích sự và không thích hợp. Tuy nhiên, chúng ta không nên sợ hăi thái độ hoài nghi và vô liêm sỉ, nhưng tin rằng Thiên Chúa sẽ ban cho chúng ta sức mạnh để giữ vững lập trường.

Đức Giêsu nói với các môn đệ của Người: “Anh em đừng sợ”. Người ta không phải là một con người nếu không cảm thấy sợ hăi khi bị nguy hiểm đe doạ. Vấn đề không phải là sợ hăi mà là vượt qua sợ hăi. “Một người không biết sợ không phải là anh hùng; người nào vượt qua sợ hăi mới là anh hùng” (Solzhenitsyn).

Đức Giêsu nói: “Bởi sự chịu đựng, anh em sẽ không mất linh hồn”.

Đức tin chỉ có thể được làm chứng trong đau khổ và chịu đựng. Đức Giêsu biểu lộ sự nhẫn nại và chịu đựng khi Người vác thập giá. Sự chịu đựng là cái mà tất cả chúng ta cần có. Chịu đựng có nghĩa là tham dự khổ đau của Đức Kitô. Nếu chúng ta tham dự khổ đau của Người, chúng ta sẽ tham dự vinh quang của Người.

 
 

5. Chia sẻ sự bất lực của chúng ta

Đức Giêsu đă nh́n thấy thành Giêrusalem sẽ bị tàn phá. Người tiên đoán Đền Thờ lộng lẫy sẽ chỉ c̣n là đống gạch vụn. Đối với người Do Thái b́nh thường điều đó dường như không thể xảy ra, thậm chí không thể nghĩ đến được. Đây không phải là một công tŕnh b́nh thường. Đền Thờ tượng trưng cho toàn bộ hệ thống thờ phượng của người Do Thái.

Lời tiên tri của Chúa Giêsu đă thành sự thật từng chữ một. Giêrusalem đă bị người La Mă tàn phá năm 70 trước công nguyên sau một cuộc bao vây kéo dài. Một triệu người đă bị giết chết hoặc bị chết đói trong cuộc vây hăm kéo dài. Đền Thờ bị đốt cháy đến tận nền móng.

Đức Giêsu muốn cứu thành Giêrusalem mà Người yêu mến nhưng không thể làm được. Có lần Người đă khóc và nói rằng: “Giêrusalem! Giêrusalem! Đă bao lần Ta muốn tập hợp con cái các ngươi lại, như gà mẹ tập hợp gà con dưới cánh, mà các ngươi không chịu”.

Thật khủng khiếp khi ở bên giường một người bạn đang đau khổ hoặc hấp hối mà không thể nào cứu được người ấy. Chúng ta cảm thấy không tương xứng. Thông thường chúng ta không c̣n ǵ để nói nữa. Nhưng biết rằng Đức Giêsu chia sẻ sự bất lực của chúng ta quả là một điều an ủi. Người cảm thấy như chúng ta cảm thấy, nhưng Người không bỏ đi. Trong những trường hợp như thế, tác vụ duy nhất của chúng ta đơn thuần là có mặt. Cả khi mà điều đó có khó khăn, đó là việc quan trọng và quư giá. Giống như Đức Maria ở dưới chân thập giá, chúng ta phải ở lại với người đau khổ và hấp hối. Một sự hiện diện làm yên ḷng và nâng đỡ người có ư nghĩa bằng cả thế giới đối với người chịu đau khổ.

Leonard Cheshire là một phi công nổi tiếng trong Chiến tranh Thế giới II. Cuối cuộc chiến, ông rời bỏ nước Đức. Ông cảm thấy ghê tởm chiến tranh và muốn làm một điều ǵ đó tốt đẹp hơn với phần c̣n lại của cuộc đời ḿnh. Sau cùng, ông quyết định cống hiến đời ḿnh để giúp những người bệnh tật. Người đầu tiên được gởi đến ông là một người đàn ông có tên là Arthur. Ông này sắp chết v́ bệnh ung thư. Cheshire cảm thấy hoàn toàn bất lực, nhưng ông quyết định đem lại điều duy nhất mà ông có thể, đó là t́nh bằng hữu.

Suốt mấy tháng cuối đời của Arthur, một tương quan cao thượng đă phát triển giữa hai người. Arthur chịu nhiều đau đớn. Những đêm dài là những lúc cô đơn nhất. Khi cơn bệnh trở nên trầm trọng. Cheshire đặt một tấm nệm bên ngoài pḥng ngủ của Arthur và ngủ ở đó. Ông đưa cho Arthur một cái chuông nhỏ cầm tay mà Arthur có thể rung lên bất cứ lúc nào ông này cần.

Có một người hiện diện bên cạnh ḿnh, quan tâm đến ḿnh một cách sâu xa tạo nên một thế giới khác cho Arthur, cả khi sự hiện diện ấy không cắt đi cơn đau hoặc làm ngưng lại tiến tŕnh dẫn đến cái chết. Dù Arthur là người đơn sơ nhưng ông đă chết với phẩm cách to lớn. Vốn là một người Công giáo bỏ đạo, trong những tháng cuối đời, ông đă t́m lại được đức tin, và có được sự thanh thản làm cho ông trở thành một con người khác hẳn con người ông vẫn thế cho tới lúc đó. Nhờ có gương sáng của Arthur, chính Cheshire đă trở thành con người Công giáo.

Khi người đau bệnh biết có người chăm sóc ḿnh điều đó tạo nên một thế giới khác cho người ấy. Nó cứu người ấy khỏi viễn cảnh đáng sợ phải chết một ḿnh và bị bỏ rơi.

Để làm loại tác vụ ấy, người ta không cần có các kỹ năng đặc biệt. Chỉ cần có ḷng yêu thương. Những người thật sự yêu thương sẽ đem lại cho người đau bệnh sức mạnh không thể đo lường hết, chỉ bằng việc họ có mặt, đứng kế bên. Và trong một thế giới ở đó tính vị kỷ lan tràn th́ yêu thương là cách tốt nhất để làm chứng cho Đức Kitô và cho Tin Mừng.

 
 

6. Suy niệm của William Barclay

Trước vẻ lộng lẫy của Đền Thờ, nhiều môn đệ như ngây ngất chiêm ngắm, Chúa nhân cơ hội này ban một thông điệp có tính cách tiên tri mà người ta đặt tên là diễn văn cánh chung v́ đề cập đến các biến cố thời thế mạt. Chúa đề cập đến ba đề tài riêng rẽ nhưng lại trộn lẫn vào nhau: sự tàn phá thành Giê-ru-sa-lem (40 năm sau đó xảy ra). Ngày thế mạt và Chúa đến lần thứ hai trong vinh quang. Dịp này Chúa cũng tiên báo các môn đệ của Chúa sẽ bị bách hại nặng nề, khuyến khích họ bền tâm vững chí trong cầu nguyện và tỉnh thức.

1. Có tư tưởng về “ngày của Chúa”.

Người Do-thái chia thời gian ra làm hai thời kỳ. Thời kỳ hiện tại mọi sự đều xấu xa tội lỗi, vô phương cứu chữa, chỉ dành cho sự hủy diệt mà thôi. Có thời kỳ hầu đến, tức là hoàng kim thời đại của Đức Chúa, lúc đó dân tộc Do-thái sẽ đứng đầu thế giới. Giữa hai thời đại đó sẽ có “ngày của Chúa” là một thời kỳ đảo lộn và tan tành trong vũ trụ, thời kỳ đau đớn cực độ để sản sinh ra thời đại mới.

Đó là một ngày khủng khiếp: “Ḱa một ngày của Đức Chúa đến, ngày khắc nghiệt, ngày của phẫn nộ và lôi đ́nh, ngày làm cho đất tan hoang và tiêu diệt phường tội lỗi, không c̣n một tên nào ở đó” (Is 13,9). “Ngày của Chúa đến như kẻ trộm ban đêm” (2Pr 3,10). Đó là một ngày mà thế giới sẽ tan tành: “Quả vậy, tinh tú bầu trời và các cḥm sao sẽ không chiếu sáng nữa, mặt trời vừa mọc đă tối sẫm, mặt trăng sẽ không c̣n tỏa sáng. Ta sẽ làm cho trời đất chấn động, đất chuyển rung rời chỗ trong cơn giận của Đức Chúa các đạo binh vào ngày Người nổi cơn lôi đ́nh”(Is 13,10.13). Ngày của Chúa là một trong những ư tưởng nền tảng của tôn giáo trong thời Chúa Chúa Giê-su. Ai nấy đều biết những h́nh ảnh khủng khiếp này.

2. Có lời tiên tri về sự tàn phá thành Giêrusalem.

Thành bị tàn phá bởi quân đội La-mă năm 70 SC sau một thời gian bị bao vây khốn cực. Trong cuộc vây hăm đó dân cư trong thành đói đến độ phải ăn thịt người, và kinh thành bị tàn phá đến từng viên đá. Sử gia Josephus nói, cuộc vây hăm này đă khiến một triệu một triệu một trăm ngàn người chết,chín mươi bảy ngàn người bị bắt làm phu tù. Quốc gia Do- thái bị quyết sạch và Đền Thờ bị thiêu hủy, trở thành nơi hoang vu.

3. Có sự trở lại của Chúa Giê-su.

Chúa biết chắc chắn Ngài sẽ trở lại thế gian và Hội Thánh đầu tiên đă chờ đợi việc Chúa trở lại – trước ngày Chúa trở lại,sẽ có nhiều kẻ lường gạt tự xưng ḿnh là Chúa Cứu Thế và sẽ có những biến động lớn lao.

4. Có ư tưởng về sự bắt bớ;

Chúa Giê-su đă nh́n thấy trước và nói trước những điều kinh khủng mà dân Ngài sẽ phải chịu v́ danh Ngài trong những ngày tương lai.

Đoạn Kinh Thánh trước đây khó tiếp thu cho chúng ta v́ một đàng chúng ta không quen với lối văn khải huyền rất thông dụng đối với người Do-thái, đàng khác có tới bốn tư tưởng liên hệ với nhau. Dầu vậy chúng ta cố gắng lượm lặt ư nghĩa bài học Chúa muốn dậy.Chúa phán những lời này nhân dịp chiêm ngưỡng vẻ, lộng lẫy của Đền Thờ. Trong Đền Thờ, các cột trụ của cổng và hành lang đều toàn bằng cẩm thạch trắng,cao hơn mươi hai mét, mỗi cột làm bằng đá nguyên khối. Về trang trí th́ nổi tiếng nhất là cây nho lớn là cây nho lớn bằng vàng ṛng, mỗi chùm nho cao bằng một người. Sử gia Do- thái Josephus mô tả Đền Thờ vào thời Chúa Giê-su: “Mặt tiền của Đền Thờ có đủ vẻ huy hoàng khiến cho mắt và trí loài người phải ngạc nhiên, bởi v́ nó phủ bằng tấm vàng lá rất dày và nặng, khi mặt trời mọc lên, nó phản chiếu một sự rực rỡ chói ḷa, khiến ai muốn nh́n cũng phải quay đi, khác nào nh́n vào chính mặt trời vậy. Nhưng cả Đền Thờ hiện ra như một trái núi phủ tuyết đối với những khách lạ khi c̣n ở đàng xa, bởi các phần khác của Đền Thờ không phủ bằng vàng th́ có màu trắng toát.” Đối với người Do-thái, sự vinh hiển dường ấy của Đền Thờ mà bị tan thành tro bụi là điều không thể tưởng tượng nổi. Qua đoạn Kinh Thánh này ta học được mấy điều về Chúa Giê-su và về đời sống Ki-tô hữu.

1 . Chúa Giê-su có thể đọc được những dấu hiệu của lịch sử.

Các kẻ khác có thể mù ḷa đối với tai họa sắp đến, nhưng Ngài thấy rơ trái núi sắp đổ xuống. Chỉ khi nào con người nh́n xem mọi sự bằng con mắt của Thiên Chúa, bấy giờ mới thấy rơ ràng.

2. Chúa Giê-su rất thành thật.

Ngài phán với các môn đệ: “Đó là điều các ngươi phải gặp nếu muốn theo ta.” Chẳng những lần này mà nhiều lần khác: trong bữa tiệc chia tay Ngài nhắc lại lời cảnh báo: “Tôi tớ không trọng hơn chủ, nếu họ đă bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ các con.”(Ga 15,20). Đó là điều không tránh được: “Vả lại, những ai muốn sống đạo đức trong Đức Ki-tô Giê-su, đều sẽ bị bắt bớ.”(2 Tm 3,12). Tuy nhiên, bách hại xảy ra không ngoài kế hoạch của Thiên Chúa, Chúa cho phép xảy ra, để đem lại lợi ích lớn lao hơn. Đó là cơ hội để làm chứng cho Chúa Ki-tô.

Lần kia, giữa trận quyết liệt cho công lư, một thủ lănh anh hùng đă viết cho người bạn rằng: “Những đầu người đang rụng xuống trên băi cát, hăy đến và thêm vào đó đầu của bạn nữa!” Chúa Giê-su tín nhiệm con người đến với Ngài chỉ cho họ không phải v́ một con đường dễ dăi, song là con đường của một vĩ nhân anh hùng.

3. Chúa Giê-su hứa rằng các môn đệ của Ngài sẽ không bao giờ chịu khổ một ḿnh.

Lịch sử chứng thực rằng trong khi thân xác bị cực h́nh và chờ đợi giờ chết, các Ki-tô hữu chân chính đă bao lần viết lên những giờ phút thân mật thiết tha với Chúa Giê-su. Ngục tù có thể như một cung điện, đoạn đầu đài như một ngai vàng, cơn băo táp của đời người giống như cảnh êm đềm khi có Chúa Giê-su ở với chúng ta.

4. Chúa Giê-su đă nói về sự an toàn vượt quá mọi đe dọa của thế gian

Ngài phán: “Dù một sợi tóc trên đầu cũng không mất.” Trong những ngày đại chiến 1914-1918, bởi niềm tin và lư tưởng của ḿnh, Brooke đă viết: “Chúng ta đă nắm được một sự b́nh an mà muôn đời không bị lay chuyển bởi đau khổ.” Người nào bước đi với Chúa Cứu Thế có thể mất mạng sống, nhưng không mất linh hồn.

 
 

7. Ngày tận cùng

Trong cuộc thế giới đại chiến lần thứ hai vừa qua, nhiều thành phố đă bị đổ nát dưới những trận mưa bom. Chỉ trong một vài tiếng đồng hồ, tất cả đều bị phá hủy, chỉ c̣n lại những đống gạch vụn. C̣n những người thân yêu, kẻ th́ bị ngă gục ngoài chiến trường, kẻ th́ bị chôn vùi dưới đống gạch vụn. Quả thực đó là một kinh nghiệm đắt giá, một bài học chua cay về chiến tranh.

Thế nhưng, chỉ mấy năm sau, những đống gạch vụn ấy không c̣n nữa. Người ta đă xây dựng lại tất cả từ những chỗ đổ nát ấy, để rồi đă mọc lên những nhà máy, những cao ốc và dân chúng đă có được một nếp sống sung túc.

Thế nhưng, cùng với những sự giàu sang và xa hoa, chúng ta lại phải chứng kiến một cảnh tượng đau thương và bi đát khác. Con người dần dần đánh mất đi những cái hay, những cái đẹp. Họ đă đảo lộn bậc thang giá trị. Và rồi âm thầm từng bước một, họ đă xa ĺa Thiên Chúa, Đấng là trọng tâm mà đáng lẽ cuộc đời họ phải t́m về.

Dĩ nhiên, người ta không chối bỏ Thiên Chúa hay giơ những nắm tay lên trời để nguyền rủa Ngài, nhưng người ta đă âm thần loại trừ Ngài ra khỏi cuộc sống và quên đi sự hiện diện của Ngài.

Từ đó, tất cả lại trở nên một đống gạch vụn, mặc dù bên ngoài đầy vẻ tráng lệ và tiến bộ. Cũng giống như một trái cây, bên ngoài vẫn c̣n tốt, vẫn c̣n đẹp, nhưng bên trong đă bắt đầu rữa thối.

Con người cô độc ngồi trên đống đổ nát, không biết ḿnh từ đâu mà đến, để rồi sẽ lại đi về đâu. Người ta sẽ t́m ở đâu cho ra niềm an ủi và khích lệ giữa những khổ đau và bất hạnh gặp phải? Người ta không đi t́m nơi kinh nguyện, nơi ṭa giải tội, hay nói cách khác nơi chính Thiên Chúa. Trái lại, người ta đi t́m nơi quán nhậu, nơi rượu chè, nơi cờ bạc và nơi những hưởng thụ khác nữa.

Nói thế không có nghĩa là chúng ta chống lại những tiến bộ và những tiện nghi vật chất. Tất cả những phương tiện ấy đều tốt và chúng ta được phép sử dụng. Tuy nhiên, chúng ta phải ư thức rằng: bao lâu xua đuổi Thiên Chúa, th́ cuộc đời chúng ta sẽ đi vào ngơ cụt và những tiến bộ cũng chỉ là một đống gạch vụn không hơn không kém. Thay v́ phụng sự con người, th́ chúng lại trở nên một thứ vũ khí nguy hiểm, giết hại con người.

Bao lâu con người chỉ biết quyến luyến với vật chất và chỉ biết có vật chất mà thôi, th́ con người sẽ cảm thấy cuộc đời thật vô nghĩa và thế giới là như một thùng rác. Tuy nhiên, chúng ta cũng đừng quá bi quan. Tiện nghi vật chất một khi đă lên tới cao điểm của nó, th́ người ta sẽ nhận ra những giới hạn của nó. Và lúc bấy giờ, phải chăng con người sẽ nhận biết thời gian ơn sủng của Thiên Chúa.

Bởi đó, trong bầu khí những ngày cuối của năm phụng vụ, Giáo Hội báo trước cho chúng ta hay sẽ tới một ngày tất cả những ǵ chúng ta đă cố gắng gầy dựng sẽ bị sụp đổ. Tất cả cuộc đời chúng ta trở nên như một đống gạch vụn.

Trong ngày đó, chỉ c̣n lại những ǵ chúng ta đă xây dựng trong đức tin và trong t́nh mến. Chính trong đức tin và trong t́nh mến, chúng ta làm cho cuộc đời chúng ta có được một giá trị vượt thời gian.

Bởi v́ chính trong ngày đó, Thiên Chúa sẽ tạo dựng cho chúng ta một trời mới và một đất mới. Ngài sẽ đem lại cho chúng ta một cuộc sống hạnh phúc và vĩnh cửu.

 
 

8. Hy vọng

Chúa nhật hôm nay là Chúa nhật áp chót của năm Phụng vụ, chúng ta đang sống trong những năm đầu của thiên niên kỷ mới, những năm có quá nhiều những xáo trộn, biến động trên thế giới và trong Giáo Hội. Đặc biệt chúng ta dừng lại một ít sự kiện và biến động trên thế giới có liên quan đến Tin Mừng chúng ta vừa nghe: chẳng hạn như các vụ động đất, lụt lội, hạn hán ở An độ, Nhật bản, và ngay cả ở miền Trung Việt Nam vừa qua; biến động ở Trung đông vẫn tiếp diễn giữa người Palestine và người Israel…

Chúng ta cũng dừng lại ít giây để ngẫm nghĩ về một sự kiện quan trọng nào đó xảy ra nơi chính bản thân hay trong gia đ́nh, chẳng hạn trong gia đ́nh có một người thân qua đời.

Tin Mừng chúng ta vừa nghe, tŕnh thuật những viễn cảnh về “Thời cánh chung” với ngôn ngữ Khải huyền. Sách Khải huyền là dấu chỉ của Niềm Hy Vọng. Thiên Chúa nói: “Các con hăy tin vào Ta”. Dù cho các ngôi sao rơi rụng, dù cho các ngôn sứ suy sụp, dù cho mọi sự nhân loại sụp đổ, vẫn c̣n có thể có một tương lai… Dù khi cái chết diễn ra vẫn c̣n hy vọng triệt để, tuyệt đối… không dựa trên con người nhưng dựa trên Thiên Chúa.

Tin Mừng đă gởi cho chúng ta một sứ điệp hợp thời về ngày tận thế. Chúa Giêsu nói với chúng ta rằng không ai biết khi nào ngày tận thế sẽ đến, ngoại trừ Cha trên trời. C̣n về vấn đề đó chúng ta nên hy vọng hơn là sợ hăi. Thiên Chúa tạo dựng chúng ta là để cứu độ chúng ta chứ không luận phạt. V́ thế, niềm hy vọng duy nhất của chúng ta là chính Đức Giêsu Kitô: “Đức Giêsu Kitô, Đấng cứu độ duy nhất hôm qua, hôm nay và măi măi”. Bởi vậy, Đức Giêsu đă tuyên bố: “Thầy là Đường, là sự Thật và là sự Sống”. Đức Giêsu là con đường, bởi v́ Người là sự thật và là sự sống. Đức Giêsu là Sự Thật, bởi v́ Người mặc khải về mầu nhiệm Thiên Chúa, về Chúa Cha; Người chỉ đường cho chúng ta tới gặp Chúa Cha, Người cho thấy phải sống thế nào cho hợp ư Thiên Chúa. Đức Giêsu c̣n mặc khải về chính ḿnh và sứ mạng của Người đối với nhân loại. Chúng ta đến với Đức Giêsu, lănh nhận Lời của Người, nhận lấy giáo huấn của Người, rồi được thúc đẩy và được hướng dẫn đến với Chúa Cha. Đức Giêsu là con đường duy nhất dẫn tới Chúa Cha, bởi v́ Người là sự sống. Đường của Người là dẫn tới mục tiêu cuối cùng là sự sống sung măn với Chúa Cha. Chúa Cha đă ban sự sống cho Đức Giêsu, và chỉ có Đức Giêsu mới có thể ban sự sống vĩnh cửu ngay ở đời này cho những ai tin vào Người.

Niềm tin giúp chúng ta xác tín rằng thế giới này sẽ không kết thúc, thảm họa không thể đảo ngược. Hoặc nếu có kết thúc th́ chỉ là một sự hoàn tất. Nhờ sự Phục sinh của Chúa Giêsu, Người đă thắng sự dữ và cái chết. Chúng ta nên lo lắng hơn về giờ chết của chúng ta, nó chắc chắn sẽ đến, hơn là về ngày tận thế, v́ nó ở ngoài khả năng hiểu biết của chúng ta.

Qua hơn 2000 năm, lịch sử vẫn tiếp diễn với bao nhiêu người đă trở nên chứng nhân của niềm hy vọng. Đó chính là các vị thánh, chứng nhân của Đức Kitô, niềm hy vọng duy nhất của chúng ta; Người chính là Vua vũ trụ mà Giáo Hội sẽ mừng trọng thể vào Chúa nhật cuối của năm phụng vụ. Ngoài Đức Kitô ra, không có một vị vua nào trên trần gian này được nhân loại chọn làm trọng tâm của lịch sử. Đúng vậy, lịch sử Giáo Hội đă chứng minh điều này, nó được thể hiện qua các thánh là những chứng nhân cho niềm tin vào thập giá và Phục sinh của Đức Kitô. Bởi v́ các thánh đă kính chào thập giá Đức Kitô là niềm hy vọng duy nhất của các ngài; chính thập giá Đức Kitô cũng là ơn cứu độ và là vinh quang của thế giới! Trong lịch sử nhân loại đă có biết bao nhiêu vị thánh trở nên chứng nhân của niềm hy vọng. Từ các thánh tông đồ cho đến ngày nay đă có hàng hàng lớp lớp người là chứng nhân của cuộc Phục sinh của Đức Kitô. Phải một đoàn lũ các chứng nhân hy vọng: chứng nhân v́ đức khiết tịnh, chứng nhân cho công lư; các chứng nhân đó gồm đủ mọi thành phần trong xă hội của mọi dân tộc (nam, phụ, lăo, ấu…). Đó là cả một bức tranh của một nhân loại Kitô hữu hiền lành, khiêm nhường, không bạo lực, chống trả lại sự dữ, yếu đuối nhưng đồng thời cũng mạnh mẽ trong đức tin, đă yêu và tin cho tới bên kia cái chết.

Đặc biệt, các thánh Tử Đạo Việt Nam, mà Giáo Hội mừng kính vào ngày 24 tháng 11; đó chính là những chứng nhân của niềm hy vọng mà chúng ta đáng tự hào. Đúng vậy, các thánh Tử Đạo Việt Nam là gia sản cho chúng ta, những người Kitô hữu của thế kỷ 21. Chúng ta phải ôm ấp và lựa chọn niềm hy vọng quí báu này trong cuộc sống mỗi ngày, trong các khó khăn bé nhỏ cũng như lớn lao, trong sự lột bỏ mọi gây hấn, hận thù và bạo lực. Gia sản của các ngài, những chứng nhân của niềm hy vọng phải được tiếp nhận mỗi ngày qua một cuộc sống đầy yêu thương, hiền lành và trung tín.

Năm phụng vụ sắp kết thúc, chúng ta có thể nói như Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II rằng: “Nỗi vui mừng của chúng ta là Chúa Kitô, nhưng Người cũng là hoan lạc của chúng ta”. Từ hơn 2000 năm nay, Hội thánh sống bằng sự hiện diện và niềm hy vọng ấy. Muốn được như vậy hai phương thế rất hiệu nghiệm cho cuộc sống Kitô hữu, đó là:

. Thứ nhất, hăy nên có đời sống thánh thiện.

. Thứ hai, hăy nên có tinh thần cầu nguyện.

Để bổ túc cho hai phương thế này, chúng ta cần có một đức tính căn bản đó là kiên tŕ. V́ như Chúa Giêsu nói trong Tin Mừng ở câu kết rằng: “Có kiên tŕ, anh em mới giữ được mạng sống ḿnh”.

Sau hết, xin được mượn lại lời của vị cha chung gởi cho tất cả chúng ta, nhân ngày Quốc Tế giới trẻ lần thứ 16, như mời gọi chúng ta quyết tâm sống niềm hy vọng:

“Hỡi các bạn trẻ, hăy mở mắt và quan sát thật kỹ: đó không phải là con đường dẫn đến sự sống đích thực, nhưng là con đường nhận ch́m cho chết. Đức Giêsu đă nói: “Quả vậy ai muốn cứu mạng sống ḿnh, th́ sẽ mất, c̣n ai liều mất mạng sống ḿnh v́ Tôi, th́ sẽ cứu được mạng sống ấy”. Đức Giêsu không bỏ mặc chúng ta trong ảo tưởng: “Được cả thế gian mà phải đánh mất chính ḿnh hay là thiệt thân, th́ nào có ích lợi ǵ?” Bằng chân lư của những lời cứng cỏi nhưng chất chứa b́nh an này, Đức Giêsu mặc khải cho ta bí quyết của cuộc sống đích thực (x. Bài nói chuyện với giới trẻ Rôma 2.4.1998).

Vậy đừng sợ đi trên con đường Chúa đă đi. Với tuổi trẻ, chúng con hăy ghi dấu ấn của niềm hy vọng và ḷng nhiệt thành vốn là đặc trưng của tuổi chúng con trên ngàn năm thứ ba. Nếu chúng con để cho ân sủng tác động trên chúng con, và hoàn thành cách nghiêm túc lời cam kết này hằng ngày, th́ chúng con sẽ biến thế kỷ mới này thành một thời gian tốt đẹp hơn cho mọi người”.

Cầu chúc các bạn nên chứng nhân niềm hy vọng nơi Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.

 
 

9. Đức tin

Đức Giêsu đă không giấu giếm điều ǵ với các môn đệ. Người nói với họ những sự việc rồi sẽ gặp khó khăn. Khi Người nói về thế gian. Người rất thực tế. Người nói về chiến tranh và cách mạng, động đất, dịch bệnh và nạn đói, về sự bách hại và cầm tù, phản bội, thù ghét và giết chóc.

Người nói với họ những điều xảy ra ấy sẽ đem đến cho họ một cơ hội để làm chứng cho Người và cho Tin Mừng. Chính trong những thời kỳ đen tối, cần có ánh sáng. Chính trong những thời kỳ giả dối, cần có sự thật. Chính trong những thời kỳ chiến tranh, cần có ḥa b́nh. Và chính trong những thời kỳ khó khăn, cần có chứng nhân Kitô giáo.

Bằng việc báo cho họ biết trước, Đức Giêsu trang bị cho họ. Người nói: Anh em cần sự khôn ngoan – đừng thất vọng. Anh em cần ḷng can đảm – đừng sợ hăi. Anh em cần chống đỡ quyền lực và có sức chịu đựng – đừng bỏ cuộc. Người sẽ làm cho họ chiến thắng trong thời kỳ sau cùng miễn là họ phải luôn kiên tŕ.

Thời đại chúng ta đem đến nhiều cơ hội để làm chứng cho Đức Giêsu và Vương Quốc của Người. Nhiều bi kịch và tai họa xảy ra trong thế giới chúng ta có thể dễ dàng dẫn chúng ta đến chỗ tuyệt vọng và làm cho chúng ta tin rằng chúng ta là những nạn nhân đáng buồn của hoàn cảnh. Nhưng Đức Giêsu không nh́n các biến cố như thế. Người gọi các biến cố là các cơ hội.

Đức tin dường như phát triển trong nghịch cảnh. Dĩ nhiên, một đôi khi đức tin được sinh ra v́ nghịch cảnh. Trong khía cạnh này, nó giống với một số loài hoa dại: Khi trồng nó trong vườn, nó sẽ cho hạt; nhưng khi trồng chúng trên sườn núi, chúng sẽ nở hoa.

Trong chế độ cộng sản ở nước Nga, có một bé gái mười tuổi mà cả gia đ́nh bị phân tán trong những trại lao động cách xa nhau vởi v́ đức tin của họ vào Thiên Chúa. Cô bé trước tiên được đưa đến một cô nhi viện. Ở đây cô từ chối tháo bỏ cây Thánh giá mà mẹ cô đă đeo quanh cổ cô trước khi chia tay. Cô đă cột một cái nút để người ta không thể cởi khi cô đang ngủ. Cuộc chiến đấu tiếp tục nhưng đă không tốt đẹp. Cô không rời bỏ cây thánh giá. Cô cũng đă từ chối để ḿnh bị cải tạo, cô không học những bài học tuyên truyền của Đảng. Trong viện cô nhi, cô bị buộc sống với những thiếu niên cặn bă của xă hội Nga. Tuy nhiên, cô từ chối chửi lộn và ăn cắp. Người ta không bao giờ khuất phục được cô. Cô đă kết thúc đời ḿnh sau mười năm trong một trại lao động.

Trong một thế giới với rất nhiều sự biến động xă hội và chính trị, người có đức tin thường bị coi là ngây thơ, vô tích sự và không thích hợp. Tuy nhiên, chúng ta không nên sợ hăi thái độ hoài nghi và vô liêm sỉ, nhưng tin rằng. Thiên Chúa sẽ cho chúng ta sức mạnh để giữ vững lập trường.

Điều nâng đỡ chúng ta là niềm tin rằng sau cùng cái thiện sẽ thắng cái ác. V́ thế, dù ở giữa biến động, chúng ta cũng vui mừng bởi lẽ chúng ta biết rằng Thiên Chúa ở với chúng ta. Nhận thức ấy cho chúng ta sức mạnh để sống qua bi kịch cuộc đời với tinh thần không bị khuất phục của chúng ta.

Đức Giêsu nói về việc Đền thờ bị tàn phá. Điều này đă đến và làm cho mọi người Do thái tan tác. Thế hệ chúng ta đă chứng kiến những thay đổi to lớn. Không phải một công tŕnh mà cả một thế giới đă qua đi. Điều duy nhất tồn tại là sự trung tín của Thiên Chúa. Điều duy nhất không thay đổi là t́nh yêu Thiên Chúa đối với chúng ta.

Đức tin không phải là một phương thế để ước muốn sự việc khác đi. Không ai giúp đỡ cho người đă khước từ. Đức tin cho chúng ta sức mạnh để đương đầu với thực tại vốn như thế. Thiên Chúa không tránh cho chúng ta sự đau khổ, nhưng cứu giúp chúng ta khỏi sự tuyệt vọng.

 
 

10. Suy niệm của JKN

Câu hỏi gợi ư:

1. Có ǵ trên đời tồn tại măi, không có ngày cùng tận không?

2. Trong bản thân ta, trong cuộc đời ta, những ǵ sẽ chóng qua và những ǵ tồn tại lâu dài? Giữa hai thứ ấy, người khôn ngoan nên quan tâm tới thứ nào? Bản thân ta thường quan tâm đến thứ nào?

3. Thế giới này có tồn tại vĩnh viễn không? Có những dấu hiệu nào báo trước ngày cùng tận của nó không? Thời của chúng ta đă có những dấu hiệu ấy chưa? Nếu có th́ chúng ta nên có thái độ nào?

Suy tư gợi ư:

1. Mọi sự trên đời đều chóng qua, đều có ngày cùng tận

Chúng ta đang sống trong một thế giới vô thường, tạm bợ, mọi sự đều thay đổi, mọi sự đều qua đi (x. 1 Cr 7,31b; 1 Ga 2,17). Không một điều ǵ sự ǵ thuộc thế giới này tồn tại măi, cho dù hiện tại chúng có vẻ kiên cố vững chắc tới đâu đi nữa. Đức Giê-su đă nói lên chân lư ấy trong bài Tin Mừng hôm nay: «Nhân có mấy người nói về Đền Thờ được trang hoàng bằng những viên đá đẹp và những đồ dâng cúng, Đức Giê-su bảo: "Những ǵ anh em đang chiêm ngưỡng đó sẽ có ngày bị tàn phá hết, không c̣n tảng đá nào trên tảng đá nào"». Lúc ấy, người Do Thái không thể nào tưởng tưởng được Đền Thờ Giê-ru-sa-lem đẹp và quí giá như thế, kiên cố và vĩ đại như thế, chỉ 40 năm sau (từc năm 70), lại có thể trở thành b́nh địa. Đây là chân lư quan trọng mà chúng ta cần phải suy gẫm để sống cho phù hợp và khôn ngoan.

«Đời sống con người chóng qua như cỏ, như bông hoa nở trong cánh đồng, một cơn gió thoảng đủ làm nó biến đi, nơi nó mọc cũng không c̣n mang vết tích» (Tv 103,15-16). Đời sống chóng qua như thế, nếu ta cứ t́m và thu gom cho ḿnh những thứ vô thường tạm bợ, th́ khi đời sống này qua đi, ta sẽ hoàn toàn trắng tay khi bước vào đời sống vĩnh cửu. Coi chừng kẻo ta chỉ được giàu có trong chốc lát để rồi muôn đời phải nghèo khổ! C̣n ǵ dại dột bằng? Người khôn ngoan biết dùng những thứ chóng qua này để làm cho ḿnh giàu có trong đời sống vĩnh cửu (xem dụ ngôn người quản lư bất trung, Lc 16,1-13). Đừng vội chóa mắt v́ sự vinh quang hay hạnh phúc mà những cái chóng qua này đem lại. Vinh quang hay hạnh phúc ấy cũng rất chóng qua! Hăy suy nghĩ: «nếu cái chóng qua mà c̣n được vinh quang như thế, th́ cái tồn tại măi măi lại chẳng vinh quang hơn sao?» (2 Cr 3,11).

2. Cái ǵ trong ta và trong cuộc đời ta tồn tại vĩnh cửu?

Chỉ những ǵ thuộc về thế giới vĩnh cửu mới tồn tại. Cái vĩnh cửu ấy đă được gieo mầm trong tâm hồn chúng ta từ khi chúng ta bắt đầu hiện hữu. Đó là bản tính thần linh và thứ t́nh yêu phù hợp với bản tính ấy: «Thiên Chúa đă ban tặng chúng ta những ǵ rất quư báu và trọng đại Người đă hứa, để nhờ đó, anh em được thông phần bản tính Thiên Chúa» (2 Pr 1,4). Trong thế giới vô thường này chúng ta có thể vun trồng và làm cho bản tính thần linh và t́nh yêu cao cả ấy lớn lên bằng những tư tưởng, lời nói và việc làm cụ thể phù hợp với bản tính và t́nh yêu ấy. Nói cách khác, bằng cách làm theo ư của Thiên Chúa: «C̣n hễ ai giữ lời Người dạy, nơi kẻ ấy t́nh yêu Thiên Chúa đă thực sự nên hoàn hảo. Căn cứ vào đó, chúng ta biết được ḿnh đang ở trong Thiên Chúa» (1 Ga 2,5). Bản tính hay t́nh yêu thần linh ấy sẽ mất đi nếu ta cứ hành động ngược lại những ǵ mà bản tính hay t́nh yêu ấy đ̣i hỏi: «Nếu ai có của cải thế gian và thấy anh em ḿnh lâm cảnh túng thiếu, mà chẳng động ḷng thương, th́ làm sao t́nh yêu Thiên Chúa ở lại trong người ấy được?» (1 Ga 3,17).

3. Chúng ta đang hành động thế nào? kiểu khôn hay kiểu dại?

Người khôn th́ nhắm lợi ích lâu dài, c̣n kẻ dại chỉ nhắm lợi ích trước mắt. Nguyên tắc ấy ai cũng biết, nhưng trong thực tế người ta vẫn sống ngược lại nguyên tắc khôn ngoan ấy do bị lóa mắt v́ những lợi ích trước mắt. Chẳng hạn, ai cũng biết câu: «Quan nhất thời, dân vạn đại». Nhưng trong xă hội, biết bao kẻ sẵn sàng luồn cúi, nịnh bợ những ông tham quan, những thủ trưởng bất tài thất đức vốn chỉ tại chức một thời gian nào đó, chỉ để họ ban phát cho ḿnh chút ân huệ mà sẵn sàng làm hại anh em, bạn bè ḿnh, bất chấp ḿnh phải sống cả đời giữa những người thân yêu ấy. Biết bao kẻ sẵn sàng ca tụng, nịnh hót những ông vua, những chế độ bạo tàn, chỉ v́ chút quyền lợi nay c̣n mai mất của ḿnh, bất chấp sự nịnh hót đó bất lợi cho toàn dân, trong đó có biết bao người thân ḿnh đang phải sống với, phải gặp mặt hằng ngày, và sẽ có lúc trong đời ḿnh phải cần tới họ, phải nhờ họ cưu mang! Những kẻ dại dột ấy sợ bị thất sủng trong hiện tại trước mặt kẻ quyền thế hơn sợ bị miệng đời nguyền rủa măi măi! Kinh nghiệm cuộc đời cho thấy những kẻ sẵn sàng bán đứng anh em ḿnh, những kẻ sống không có hậu ấy thường kết thúc cuộc đời trong đau khổ, cô đơn, và nhục nhă!

Cũng vậy, thật dại dột những người chỉ biết có lợi ích chóng qua đời này, không nghĩ ǵ đến hạnh phúc lâu dài đời sau! Của cải, quyền lực, địa vị, danh vọng… tất cả đều sẽ qua đi như lời Thánh Gio-an: «Thế gian đang qua đi cùng với những dục vọng của nó. Chỉ những ai thi hành ư muốn của Thiên Chúa mới tồn tại măi măi» (1 Ga 2,17). Chỉ những ǵ vĩnh cửu mới tồn tại lâu dài!

4. Ngày cùng tận của thế gian

Mọi sự trong thế gian đều có ngày cùng tận, và ngay cả chính thế gian cũng có ngày cùng tận của nó. Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su nói về ngày cùng tận của thế gian và những điềm báo trước ngày ấy. Điềm Ngài nói tới trước hết là các ngôn sứ giả đội lốt chiên (x. Mt 7,15) mạo danh người của Thiên Chúa (x. Lc 21,8) để lường gạt nhiều người (Mt 21,11), nhờ thế họ được thế gian trọng vọng và ưu đăi (x. Lc 6,26). Điềm kế tiếp là chiến tranh giữa các dân tộc, giữa các quốc gia, cùng với các thiên tai (động đất, băo lụt, dịch tễ, đói kém…). Trong thời gian ấy, những người công chính hay các ngôn sứ thật bị bắt bớ, ngược đăi, bách hại, cầm tù, hăm hại… Theo lời Đức Giê-su, thời này là một cơ hội tốt để người Ki-tô hữu làm chứng cho Thiên Chúa, cụ thể là làm chứng cho công lư và t́nh yêu của Ngài. Chính v́ làm chứng như thế mà họ «bị chính cha mẹ, anh chị em, bà con và bạn hữu bắt nộp», kết án, làm mặt lạ, «bị mọi người thù ghét», bỏ rơi, thậm chí bị giết. Nhưng không một sự ǵ xảy ra ngoài thánh ư Thiên Chúa: «dù chỉ một sợi tóc trên đầu anh em cũng không bị mất đâu!». Hăy tự hỏi ta có quan tâm đến việc làm chứng cho Ngài, cho công lư và t́nh thương không?

Cứ xem thời điềm th́ biết được thời đó sắp đến hay chưa. Người khôn ngoan th́ luôn tỉnh thức v́ biết rằng «ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm ban đêm» (1 Tx 5,2). Do đó, «hăy sống như giữa ban ngày» (Rm 13,13), «sống trong ánh sáng» (1 Ga 1,7), «không sống trong bóng tối kẻo ngày ấy như kẻ trộm đến bất chợt không hay biết» (1 Tx 5,4). «Hăy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người» (Lc 21,36). «Ai bền chí đến cùng, người ấy sẽ được cứu thoát» (Mt 10,22; 24,13; Mc 13,13).

Cầu nguyện

Lạy Cha, biết bao điềm mà Đức Giê-su nói về ngày cùng tận của thế gian đang xảy ra trước mắt con, nhưng dường như chúng không ảnh hưởng ǵ đến thái độ nội tâm của con và của bao người chung quanh con. Con vẫn sống như thể con sẽ tồn tại măi, như thể địa vị và hoàn cảnh tốt đẹp của con sẽ tồn tại măi, như thể thế gian và mọi sự trong đó sẽ tồn tại măi! Xin cho con ư thức được thái độ như thế thật là ngu xuẩn. Xin cho con biết tỉnh thức như Đức Giê-su đă cảnh báo, để khi ngày cùng tận ấy xảy đến, con vẫn luôn đứng vững trước mặt Cha. Amen.

 
 

11. Ngày tận thế

Vũ trụ vật chất này cũng như cuộc đời chúng ta đă có một khởi đầu, th́ cũng sẽ có một kết thúc và qua đoạn Tin Mừng sáng hôm nay, Chúa Giêsu mô tả một cách cụ thể sự hủy diệt Giêrusalem và đền thờ. Đối với người Do Thái, sự hủy diệt hai nơi này đồng nghĩa với ngày tận thế. V́ vậy, Giáo Hội muốn chúng ta dừng lại để suy nghĩ vê sự kiện này trong những tuần lễ cuối cùng của năm phụng vụ.

Khi ngày trọng đại ấy xảy đến, chúng ta sẽ bị xét xử về t́nh yêu. Vậy th́ ngay từ bây giờ, cuộc sống của chúng ta, từ tư tưởng, lời nói đến việc làm có thấm nhuần t́nh yêu hay không? Bởi v́ tương lai th́ bắt đầu từ ngày hôm nay. Và cuộc sống vĩnh cửu nảy mầm từ cuộc sống hiện tại. Chúng ta hăy hồi tâm xét ḿnh, kiểm điểm lại cuộc sống xem chúng ta đă thực thi giới luật yêu thương của Chúa như thế nào?

Trước hết là trong tư tưởng. Chúng ta thường bảo: ḷng đầy th́ mới tràn ra ngoài, tư tưởng th́ hướng dẫn hành động. Vậy th́ trong cơi ḷng, chúng ta có nuôi dưỡng sự hận thù ghen ghét hay không? Chúng ta có muốn đặt ḿnh lên trên người khác để rồi soi mói, bắt lỗi họ hay không?

Tiếp đến là trong lời nói. Chúng ta thường bảo: người là một con vật có ngôn ngữ, có tiếng nói. Ngôn ngữ và tiếng nói là điều Chúa trao ban để chúng ta chuyển thông tư tưởng hầu tạo được một sự ḥa thuận, cảm thông. Thế nhưng chúng ta có biết cẩn thận, đắn đo trong lời nói. Có biết ngoáy lưỡi bảy lần trước khi nói, để tránh đi những lời nói nóng nảy, chửi bới cộc cằn, cũng như những lời nói dèm pha hạ nhục uy tín người khác hay không? Bởi v́ lời nói chẳng mất tiền mua, liệu lời mà nói cho vừa ḷng nhau.

Có ba vị lănh đạo tôn giáo, quyết định tĩnh tâm chung với nhau. Trong giờ chia sẻ kinh nghiệm sống, họ nói với nhau về những thiếu sót thường vấp phải. Vị linh mục Công giáo thú nhận: Tôi hơi chè chén một chút. Vị giáo sĩ Do Thái th́ nói: mới đây, tôi có bài bạc gian tham đôi lần. C̣n vị mục sư Tin lành th́ bảo: thú thực với hai vị, tôi chả giữ kín được điều ǵ cả. Tôi có tật ham nói này nói nọ mà không tài nào sửa được. Câu chuyện trên khiến chúng ta tự hỏi: tôi đă sử dụng lời nói như thế nào.

Sau cùng là trong việc làm, chúng ta đă thực sự giúp đỡ anh em, nhất là những kẻ túng thiếu bất hạnh hay chưa?

Cách đây nhiều năm, có chín người tàn tật đă thành công trong việc leo lên một ngọn núi cao 4000 mét. Chín người ấy gồm một người què, một người mắc bệnh kinh phong, hai người điếc và năm người mù. Được hỏi là đă leo lên đỉnh núi như thế nào, th́ một người trong nhóm đă trả lời một cách đơn sơ:

- Chúng tôi đă nhận được rất nhiều sự trợ giúp của nhau.

Câu chuyện trên khiến chúng ta tự hỏi: chúng ta đă thực sự giúp đỡ lẫn nhau hay chưa. Chúng ta có biết nương tựa vào nhau trên bước đường tiến lên núi thánh, là quê hương Nước Trời hay chưa?

Tóm lại, chúng ta có thực thi giới luật yêu thương th́ chúng ta mới được Chúa đón nhận vào quê hương nước trời trong ngày sau hết, bởi v́ tương lai th́ đang bắt đầu từ ngày hôm nay và cuộc sống vĩnh cửu được bắt đầu từ những tháng năm hiện tại.

  
 

* CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM

1. Các Thánh Tử Đạo Việt Nam

Từ ngàn xưa và cho đến ngày hôm nay, Giáo Hội luôn duy tŕ một thủ tục khắt khe để phong thánh hầu tránh đi mọi lạm dụng có thể xảy ra. Khởi đầu th́ bất cứ người giáo dân nào cũng có quyền làm đơn xin Giáo Hội xúc tiến thủ tục điều tra để phong thánh cho một hay nhiều Kitô hữu. Đó là những người công giáo đă qua đời, mà c̣n để lại những mẫu gương thánh thiện cao độ, nhất là khi họ chết v́ đạo với những bằng chứng rơ rệt v́ đức tin.

Tất cả 117 vị tử đạo Việt Nam mà chúng ta mừng kính hôm nay đều có đủ bằng chứng đích thực về cái chết anh hùng đó. Qua thủ tục điều tra từ hơn một thế kỷ nay, các vị ấy đă lần lượt được Giáo Hội nh́n nhận là Đấng đáng kính, v́ đă nêu gương thánh thiện cho các Kitô hữu. Tiếp đến là nâng lên hàng Chân phước, tức là các vị ấy được nh́n nhận là đang được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu bên Chúa. Tuy việc tôn kính c̣n giới hạn chưa phổ quát khắp nơi trên thế giới. Cuối cùng là được phong lên bậc thánh nhân, tức là được tôn vinh hiển thánh với lễ kính có thể được cử hành ở khắp mọi nơi.

Nh́n vào con số 117 vị tử đạo Việt Nam, chúng ta nhận thấy các ngài là những bậc cha ông của chúng ta, trong đó gồm đủ mọi thành phần: 8 giám mục, 50 linh mục, 16 thầy giảng, 1 chủng sinh và 42 giáo dân.

Ngoài các giám mục và các linh mục là những người lo đáp ứng những nhu cầu thiêng liêng, chúng ta thấy các ngài thuộc đủ mọi giai cấp xă hội. Thánh Hồ Đ́nh Hy là quan thái bộc, đặc trách ngành dệt tơ lụa vải vóc trong cả nước. Thánh Phạm Trọng Khảm là quan án. Thánh Vinhsơn Tường làm chánh tổng. Thánh Nguyễn Huy Mỹ làm lư trưởng. Các thánh Đạt, Huy, Thể là quân nhân. Có người làm thầy thuốc, làm nhà buôn, làm thợ mộc, thợ may, có người làm ngư phủ hay nông dân.

Mừng lễ các thánh tử đạo Việt Nam, chúng ta hăy chiêm ngưỡng những mẫu gương thánh thiện các ngài để lại. Nhưng chiêm ngưỡng mà thôi chưa đủ, chúng ta c̣n phải cố gắng noi theo và bắt chước, v́ con nhà tông không giống lông cũng giống cánh.

Là những thanh thiếu niên, chúng ta hăy chiêm ngưỡng và bắt chước một chàng trai tuấn tú 18 tuổi đă trả lời quan toà: Tôi chỉ mong chức quyền trên trời chứ không màng danh vọng trần thế. Chàng trai tuấn tú ấy là thánh Tôma Thiện.

Là những người đang sống trong bậc vợ chồng, chúng ta hăy khắc ghi lời bà lư Mỹ: Gia đ́nh tôi luôn sống trong hoà thuật và yêu thương, nhà tôi chuyên chăm đạo đức, tham dự thánh lễ hằng ngày. Nếu vợ con hay người giúp việc v́ bận rộn không đi lễ được, ông bắt phải đọc kinh chung và nghe sách thiêng liêng để suy niệm. Ông xưng tội nhiều lần trong năm. Ông không đánh bạc, không uống rượu hay to tiếng với ai bao giờ. Bà lư Mỹ đă nói như vậy về chồng bà là thánh Nguyễn Huy Mỹ.

Cụ Hoàng Lương Cảnh làm cho quan quân phá lên cười khi họ yêu cầu cụ đọc kinh, th́ cụ lớn tiếng: Lạy Chúa Giêsu, xin giúp các quan trị nước cho yên, càng ngày càng thịnh. Tại pháp trường, khi chịu xử tử, thánh Lê Văn Phụng c̣n nhắn nhủ người con trai của ḿnh: Con ơi, hăy tha thứ, đừng báo thù kẻ tố giác ba nhé. Là con cháu của các bậc anh hùng tử đạo chúng ta đă làm được những ǵ để tuyên xưng đức tin của ḿnh?

  
 

2. Không thuộc về thế gian

Suy Niệm

"Tâu bệ hạ, đă 30 năm phục vụ dưới ba triều vua, lúc nào hạ thần cũng là người hết ḷng yêu nước. Nay hạ thần cam chịu mọi cực h́nh để nên giống Đức Kitô." Đó là câu trả lời của ông Micae Hồ Đ́nh Hy khi vua Tự Đức mời ông giả vờ bước qua thánh giá.

Ông là người thanh liêm, được nhà vua hết sức tín cẩn, cho phụ trách ngành dệt trong cả nước. Nhưng ông cũng là một Kitô hữu xông xáo làm việc tông đồ.

Ông không thấy có ǵ xung khắc giữa việc phục vụ đất nước với việc phục vụ Giáo Hội.

Khi quân Pháp bắn phá cảng Đà Nẵng th́ ông bị bắt, bị kết án là khinh luật nước, chống lại triều đ́nh.

Ông Hy đă chấp nhận cái chết một cách b́nh thản. Trước khi chịu chém, ông c̣n xin hút một điếu thuốc, hương vị cuối cùng của trần gian mà ông muốn nếm trước khi nếm hương vị của thiên đàng vĩnh cửu.

Cuộc sống và cái chết của thánh Micae Hy soi sáng cho đoạn Lời Chúa hôm nay.

Người Kitô hữu có hai đầu dây cần phải giữ. "Như Cha đă sai Con đến trong thế gian, Con cũng sai họ đến trong thế gian" (Ga 17,18).

Thế gian là nơi thánh Hy đă sống cho đến chết. Thế gian là đất nước, là vua quan, là thứ dân... Ngài đă yêu mến và sống tận t́nh cho thế gian đó.

Thế gian đă trở nên như máu thịt của người Kitô hữu v́ đó là nơi họ được Chúa sai đến để phục vụ, và là nơi họ trở thành người Kitô hữu trọn vẹn.

"Họ không thuộc về thế gian, cũng như Con không thuộc về thế gian" (Ga 17,16).

Ở trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian, nghĩa là không hoàn toàn nghĩ và sống như thế gian.

Người Kitô hữu không coi thường mọi giá trị của xă hội, nhưng họ có một thang giá trị riêng.

Họ biết đâu là những giá trị mà họ phải tôn trọng. Nếu hy sinh những giá trị đó, họ sẽ đánh mất chính ḿnh và chẳng đóng góp được ǵ cho bộ mặt thế giới.

Họ là nhúm men vùi trong đống bột. Men không được tách khỏi bột, và men cũng không được biến chất thành bột. Trong cả hai trường hợp, men đều trở nên vô ích.

Chúng ta vẫn bị cám dỗ buông một trong hai đầu dây. Bỏ một trong hai đều làm mất căn tính của người Kitô hữu.

Ơn gọi Kitô hữu đặt ta vào một thế đứng chênh vênh, thế đứng dễ ghét, thế đứng đ̣i phải trả giá.

Tử Đạo là cách làm chứng tuyệt vời trong thời bách hại.

Trong thời kinh tế thị trường, cần có những cách làm chứng khác. Người Kitô hữu vẫn bị cám dỗ bước qua lương tâm ḿnh để mua lấy chút địa vị, lợi nhuận, an toàn, thoải mái...

Thế gian không ở ngoài ta, thế gian ở ngay trong ḷng ta.

Ước ǵ chúng ta dám chấp nhận thiệt tḥi, phiền hà, mất mát, khi can đảm làm chứng cho ḷng tin và t́nh yêu.

Gợi Ư Chia Sẻ

Kitô hữu vừa phải đồng hành với thế gian, vừa có lúc phải lội ngược ḍng với thế gian. Bạn thấy điều đó có quá khó không? Làm sao thực hiện được lư tưởng đó?

Thời nào, nơi nào, làm chứng cho Chúa cũng có cái khó riêng. Đâu là cái khó khi bạn phải làm chứng cho Chúa trong một xă hội chạy theo tiền bạc và hưởng thụ?

Cầu Nguyện

Lạy Chúa Giêsu, vị tử đạo tuyệt vời,

Chúa đưa chúng con vào thế giằng co liên tục. Chúa vừa chọn chúng con ra khỏi thế gian, lại vừa sai chúng con vào trong thế gian đó.

Thế gian này vàng thau lẫn lộn. Có khi vàng chỉ là lớp mạ bên ngoài.

Xin cho chúng con giữ được bản lănh của ḿnh, giữ được vị mặn của muối, và sức tác động của men, để đem đến cho thế gian một linh hồn, một sức sống.

Chúng con chẳng sợ ḿnh bỏ đạo, chỉ sợ ḿnh bỏ sống đạo v́ bị quyến rũ bởi bao thú vui trần thế.

Xin cho chúng con đừng bao giờ quên rằng chúng con mang ḍng máu của các vị tử đạo, những người đă đặt Chúa lên trên mạng sống.

Lạy Chúa Giêsu, nếu thế gian ghét chúng con, th́ xin cho chúng con cảm thấy niềm vui của người được diễm phúc nên giống Chúa. Amen.

 
 

3. Anh em làm chứng cho Thầy

Suy Niệm

Trong số 117 vị Tử Đạo Việt Nam, được phong thánh năm 1988, có một phụ nữ duy nhất, mẹ của 6 người con. Đó là bà Anê Lê Thị Thành, c̣n gọi là bà Đê.

Trước khi là một anh hùng tử đạo, bà đă là một người mẹ hiền gương mẫu. "Thân mẫu chúng tôi rất chăm lo việc giáo dục các con. Chính người dạy chúng tôi đọc chữ và học giáo lư, sau lại dạy cách dự thánh lễ và xưng tội rước lễ." Đó là lời khai của cô con gái út trước giáo quyền.

Nhà bà Đê là nơi các linh mục trú ẩn. Buổi sáng lễ Phục Sinh năm 1861, quan Tổng Đốc Nam Định cho quân bao vây làng của bà. Bà Đê bị bắt lúc đă 60 tuổi. Bà bị đánh đập tra tấn, bị ép phải chối đạo, bị lôi qua Thánh Giá, bị bỏ rắn độc vào người. Khi con gái đến thăm bà trong nhà giam, đau đớn v́ thấy quần áo mẹ loang đầy vết máu, bà đă an ủi con với một niềm lạc quan lạ lùng: "Con đừng khóc, mẹ mặc áo hoa hồng đấy, mẹ vui ḷng chịu khổ v́ Chúa Giêsu, sao con lại khóc?" Sau ba tháng chịu đủ mọi cực h́nh, người phụ nữ ấy đă hiến đời ḿnh cho Chúa.

Cuộc đời của vị thánh nữ tiên khởi của Việt Nam là một sức nâng đỡ lớn cho chúng ta. Thiên Chúa đă làm điều phi thường nơi một người phụ nữ già nua, yếu đuối. Quan "Hùm Xám" tỉnh Nam Định cũng phải bó tay trước sự yếu đuối kiên vững của bà.

Khôn ngoan và đơn sơ, can đảm chịu đau khổ, bà thánh Đê đă phó mặc cho Chúa đời ḿnh. Bà chẳng lo phải nói ǵ, phải làm ǵ trước ṭa án, v́ sức mạnh của Thánh Thần ở với bà.

Hội Thánh thời nào cũng cần những người dám sống v́ đức tin, dám làm chứng cho Chúa trước mặt người đời.

Sống đức tin là một loại tử đạo không đổ máu, không đ̣i hy sinh mạng sống, nhưng lại đ̣i hy sinh cả tương lai vững vàng ổn định.

Mỗi ngày, chúng ta thường bị đặt trước những chọn lựa, trước thập giá của Đức Giêsu, y hệt như các vị tử đạo ngày xưa.

Có khi chúng ta đă bước qua thập giá, khi chọn ḿnh, đă chối Chúa bằng chính cuộc sống.

Càng có tự do, ta lại càng dễ sa sút đức tin. Tiền bạc, tiện nghi, khoái lạc vẫn là những thụ tạo gây ra những cuộc bách hại êm ả và khủng khiếp mà cuối cùng chúng ta cũng phải đối diện.

Ước ǵ chúng ta không để mất đức tin được mua bằng giá máu của bao vị tử đạo, và ước ǵ chúng ta không ngừng chuyển giao đức tin ấy cho hơn 70 triệu đồng bào trên quê hương.

Gợi Ư Chia Sẻ

Các vị tử đạo làm chứng cho Chúa bằng cách hy sinh tính mạng. Theo ư bạn, trong thời đại đất nước mở cửa, đâu là cách thức làm chứng của người kitô hữu? (làm chứng ở trường, ở nơi làm việc, ở các chỗ giải trí vui chơi... )

Theo ư bạn, xă hội hôm nay dễ nhạy cảm với cách làm chứng nào của người kitô hữu? Phải sống như thê nào để người ta dễ có cảm t́nh với Đức Giêsu?

Cầu Nguyện

Lạy các thánh tử đạo Việt Nam, các ngài đă dám sống đến cùng ơn gọi Kitô hữu trong một hoàn cảnh khó khăn nguy hiểm. Sự hy sinh của các ngài cho thấy t́nh yêu mạnh hơn sự chết và chết là cửa mở vào cơi sống bất diệt. Dù mang phận người yếu đuối, nhưng nhờ ơn Chúa đỡ nâng, các ngài đă chiến thắng khải hoàn. Xin cầu cho chúng con là con cháu các ngài biết can trường sống đức tin của bậc cha anh trong một thế giới vắng bóng Thiên Chúa, biết nhiệt thành làm chứng về t́nh yêu bằng một đời hiến thân phục vụ. Ước ǵ ngọn lửa đức tin mà các ngài đă thắp lên bằng cuộc sống và cái chết, được bừng tỏa trên Tổ quốc Việt Nam. Ước ǵ máu thắm của các ngài thấm vào mảnh đất quê hương để công cuộc truyền giáo sinh nhiều hoa trái.

 
 

4. Sống chứng nhân Tin Mừng – ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

Hôm nay Giáo Hội Việt Nam hân hoan và hănh diện mừng kính các Thánh Tử Đạo Việt Nam v́ 3 lư do:

- Hân hoan và hănh diện v́ các thánh là người Việt Nam, không ǵ vui mừng và hănh diện, tự hào hơn, khi đất nước ta có những vị thánh góp mặt với Giáo Hội toàn cầu.

- Hân hoan và hănh diện v́ số lượng đông đảo các Thánh Việt Nam. Với 117 vị Thánh. Giáo Hội Việt Nam được xếp nhất nh́ trong Giáo Hội hoàn vũ về số lượng các Thánh.

- Hân hoan và hănh diện v́ các Ngài là những chứng nhân anh hùng quả cảm.

Đọc lại tiểu sử các Ngài ta không khỏi cảm phục đức tin kiên cường của các Ngài. V́ trung thành với Chúa, các Ngài đă cam chịu thiệt tḥi trong đời sống, mất hết chức quyền danh vọng và nhất là phải chịu muôn ngàn khổ h́nh, chịu mất mạng sống v́ đức tin.

Có những vị như thánh Hồ đ́nh Hy, làm quan lớn trong triều đ́nh. Quan Án Phạm trọng Khảm, là những vị có chức có quyền trong xă hội đă thà mất chức quyền, mất danh vọng hơn mất đức tin. V́ Chúa, các Ngài không những đă sẵn sàng từ bỏ mọi quyền lợi trong xă hội mà c̣n sẵn sàng chịu mất mạng sống.

Có những vị như thánh Lê thị Thành, thân phận phụ nữ yếu ớt, gánh nặng gia đ́nh, nhưng cũng đă sẵn sàng chịu mọi cực h́nh để minh chứng t́nh yêu đối với Đức Giêsu Kitô.

Có những vị đầu xanh tuổi trẻ như Tôma Thiện, Phaolô Bột, mười mấy tuổi đầu, tương lai c̣n dài, đường đời c̣n nhiều hứa hẹn. Nhưng các Ngài đă cương quyết khước từ tất cả, dâng hiến tuổi thanh xuân cho đức tin chân chính.

Là người Công Giáo Việt Nam. Chắc chắn mỗi khi đọc lại tiểu sử các Ngài, ta cảm thấy một ḍng máu hào hùng trào dâng trong huyết quản. Bị cuốn hút bởi cuộc sống và cái chết cao đẹp, anh dũng của các Ngài, có lẽ ta cũng có đôi lần ao ước được như các Ngài: Sống cao đẹp, chết anh dũng.

Làm sao ta có thể có được cái chết cao đẹp như các Ngài. Ngày nay đâu c̣n cảnh cấm đạo, bắt đạo, giết người có đạo như thời vua quan ngày xưa. Ngày nay ta không c̣n hy vọng chết v́ đạo. Ta chỉ c̣n một cách bắt chước, noi gương các vị tiền nhân anh hùng, đó là sống v́ đạo.

Ngày nay, ta ít gặp những khốn khó như bị bắt bớ giam cầm, giết chết v́ đạo. Nhưng để sống đạo trong xă hội hôm nay, ta gặp không ít khó khăn. Xin kể ra 2 khó khăn tiêu biểu.

Khó khăn thứ nhất đó là chủ nghĩa cá nhân ngày càng phát triển. Ai cũng muốn thăng tiến bản thân và gia đ́nh của ḿnh. Ai cũng lo làm ăn. Học hành, xây dựng cho bản thân. Cuộc cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Những nhu cầu của bản thân ngày càng nhiều. Rơ ràng là ngày nay người ta kiếm được nhiều tiền hơn trước, có nhiều tiện nghi hơn trước, xe cộ tốt hơn, nhà cửa đẹp hơn. Nhưng chưa bao giờ người ta thấy thỏa măn, đầy đủ. V́ thế càng ngày người ta càng đóng kín vào bản thân, không có thời giờ nghĩ đến người khác. Trong khi đó những người nghèo th́ càng nghèo hơn, những người yếu càng mệt hơn, những người bệnh càng khổ hơn. Họ không đủ sức chạy theo cuộc tranh đua quyết liệt của chủ nghĩa cá nhân. Họ bị đẩy lùi ra phía sau. Họ bị gạt ra ngoài lề xă hội. Để lựa chọn sống theo Phúc Âm, để trung thành với Lời Chúa dạy, ta phải bỏ quên một phần thân ḿnh, gia đ́nh ḿnh để nghĩ đến, giúp đỡ, vực dậy những anh em kém may mắn. Đó là điều không dễ.

Khó khăn thứ hai là kinh tế thị trường ngày càng phát triển. Đồng tiền đang trở thành một thước đo gía trị con người. Đồng tiền đang trở thành một quyền lực chi phối toàn bộ đời sống con người. Ai cũng muốn có nhiều tiền, và để có nhiều tiền, nhiều người đă không từ chối một phương cách nào: lường gạt, lừa đảo, làm hàng gỉa, buôn thuốc phiện, tham nhũng, hối lộ. Tiền bạc quả là một cơn cám dỗ đang làm chao đảo thế giới, tàn phá những giá trị, biến chất con người.

Đứng trước nhu cầu và ham mê tiền bạc, người Công Giáo muốn trung thành với Phúc Âm, muốn sống trọn vẹn đức tin, bắt buộc phải có sự lựa chọn. Thà cam chịu nghèo khổ c̣n hơn nhận những đồng tiền phi nhân bất nghĩa. Thà cam chịu thiếu thốn c̣n hơn đánh mất đức tin. Thà lao động cực khổ để kiếm miếng cơm manh áo chân chính hơn là chạy theo những đồng tiền dễ dăi để chối từ Phúc Âm và Luật Chúa.

Quả thực xă hội mới, đang tạo ra những cơn bắt bớ mới. Để trung thành với Chúa, với Phúc Âm ta cũng phải lực chọn quyết liệt. Những chọn lựa đó làm cho chúng ta đau đớn không kém ǵ những khổ h́nh. Những hy sinh v́ Phúc Âm đó cũng khiến ḷng ta rỉ máu không kém ǵ chịu tử h́nh. Các Thánh tử đạo chỉ chọn lựa một lần. C̣n chúng ta chết ṃn mỏi mỗi ngày trong những chiến đấu, những từ bỏ đớn đau. Sống Phúc Âm trong thời đại mới đúng là một cuộc tử đạo liên tục.

Sống v́ đạo như thế cũng cao đẹp và anh hùng không kém ǵ chết v́ đạo. Sống v́ đạo như thế, ta cũng góp phần làm chứng nhân cho Chúa, cho Phúc Âm không kém ǵ chết v́ đạo.

Lạy các Thánh Tử Đạo Việt Nam, xưa các Ngài đă anh dũng hy sinh cuộc đời, dâng hiến máu đào làm chứng cho Phúc Âm. Xin giúp chúng con hôm nay cũng biết can đảm, hy sinh sống theo Phúc Âm để làm chứng cho Chúa trong đời sống hằng ngày. Amen.

 
 

5. Chứng nhân t́nh yêu – ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

Thánh lễ hôm nay đỏ một mầu máu. Máu của hơn 100 ngàn anh hùng tử đạo. Máu của 117 vị đă được tôn phong lên hàng hiển thánh. Máu ngập tràn chảy suốt hơn 3 thế kỷ truyền giáo tại Việt Nam.

Có điều máu lênh láng nhưng không tanh tưởi bởi không phải là thứ máu oan khốc nơi chiến trường tuôn chảy trong hờn căm oán ghét. Máu đẹp như những cánh hoa v́ phát xuất từ t́nh yêu cao quí. Máu dường như toả hương thơm bởi khơi nguồn từ những trái tim chan chứa yêu thương. Máu không gây ghê tởm nhưng gợi ḷng kính trọng. Máu không tạo oán thù nhưng vực dậy yêu thương. Đó là những ḍng máu làm chứng cho t́nh yêu.

T́nh yêu Thiên Chúa.

Các thánh Tử Đạo Việt Nam có ḷng tin mạnh mẽ. Ḷng tin của các ngài không biểu lộ trong những hành vi cuồng tín, nhưng diễn tả trong thái độ chan chứa yêu thương. Đă nhận biết Chúa, các ngài yêu mến Chúa tha thiết. Đă cảm nhận được t́nh yêu của Chúa các ngài mong muốn được đáp đền t́nh yêu đó.

T́nh yêu của các ngài là t́nh yêu hy sinh. Nên các ngài đă từ bỏ tất cả: cuộc sống yên ổn, danh vọng tiền tài, kể cả mạng sống v́ Chúa. Thánh Hồ đ́nh Hy sẵn sàng chịu mất chức trong triều đ́nh. Thánh Tôma Thiện vui ḷng dâng hiến tuổi xuân xanh với những lời hứa hẹn chức quyền của vua quan. Thánh nữ Anê Lê thị Thành mạnh dạn từ bỏ gia đ́nh êm ấm với những người con ngoan ngoăn dễ thương. Tất cả v́ t́nh yêu Chúa.

T́nh yêu của các ngài là t́nh yêu chung thuỷ. Các ngài yêu mến Chúa khi b́nh an, các ngài càng yêu mến Chúa trong những gian nan thử thách. Các ngài đă thực hiện lời thánh Phao-lô: Tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có ǵ tách được chúng ta ra khỏi t́nh yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Ki-tô Giê-su, Chúa chúng ta (Rm 8,35-39).

T́nh yêu của các ngài là t́nh yêu cao quí. Đáp lại t́nh yêu của Đức Giêsu Kitô đă hiến thân v́ các ngài, các ngài cũng hiến dâng mạng sống để minh chứng t́nh yêu với Chúa. Đúng như lời Chúa nói: Không có t́nh thương nào cao cả hơn t́nh thương của người đă hy sinh tính mạng v́ bạn hữu của ḿnh (Ga 15,13).

T́nh yêu cuộc sống.

Các ngài là những người yêu mến cuộc sống. Không phải một cuộc sống tầm thường nhưng là cuộc sống với tất cả những chiều kích cao đẹp của nó. Cuộc sống với những giá trị thiêng liêng như lư tưởng, như t́nh yêu, ḷng trung tín. Một cuộc sống không nô lệ cho vật chất. Một cuộc sống trung thực không giả dối. Một cuộc sống không bị đóng khung trong thế giới hữu hạn mau tàn nhưng mở ra đến vĩnh cửu. Một cuộc sống không hạ con người xuống nhưng nâng con người lên ngang với các thần thánh. Thật sự yêu mến cuộc sống nên các ngài sẵn sàng hy sinh tính mạng để làm chứng, để bảo vệ và xây dựng.

T́nh yêu nhân loại.

Cái chết của các ngài minh chứng một t́nh yêu vô biên đối với nhân loại. Các ngài không chỉ yêu mến Chúa mà c̣n yêu mến gia đ́nh. Hăy nh́n cảnh thánh Lê văn Phụng hoặc thánh nữ Lê thị Thành an ủi con cháu trước khi ra pháp trường. T́nh yêu thương của các ngài lan cả tới lính gác, cai tù và lư h́nh. Thánh Lê văn Phụng chữa bệnh cho người cai tù của ḿnh. Tất cả các thánh vui vẻ ra đi chịu chết. Không có ai tỏ ḷng oán hận. Và nhất là không có vị nào thù ghét các lư h́nh.

T́nh yêu của các ngài phát xuất từ t́nh yêu Chúa nên rộng răi toả lan tới mọi người, mọi nơi các ngài sinh sống. T́nh yêu ấy là t́nh yêu nguyên tuyền nên không biết đến sự thù ghét, nên sẵn sàng tha thứ cho kẻ làm hại ḿnh. T́nh yêu ấy như bông hoa vẫn toả hương trong tay kẻ ṿ nát nó. T́nh yêu ấy giống như loài gỗ quí vẫn phả hương thơm cả đến chiếc ŕu bổ vào nó (Fulton Sheen).

Động lực hướng dẫn cuộc đời các ngài là t́nh yêu. Cái chết của các ngài làm chứng cho t́nh yêu. Đó chính là điều mà ta có thể bắt chước các ngài. Trong hoàn cảnh hiện nay, ta không có hy vọng được phúc tử đạo, nhưng ta vẫn có thể noi gương các thánh Việt Nam làm chứng cho đạo Chúa. Nếu ta không được chết cho t́nh yêu, ta vẫn có thể sống cho t́nh yêu. Có lẽ ngày nay Chúa cũng không mong ta chết v́ đạo mà mong ta hăy sống v́ đạo.

Lạy các thánh Tử Đạo Việt Nam, xin chúc lành cho quê hương và Giáo Hội Việt Nam. Amen

 
 

6. Các thánh Tử Đạo Việt Nam

Mừng kính các thánh Tử Đạo Việt Nam, chúng ta cũng kỷ niệm việc thiết lập hàng giáo phẩm đến nay được 50 năm. V́ thế trong một vài phút ngắn ngủi này chúng ta cùng ôn lại đôi ḍng lịch sử.

Kể từ khi cha Buzomi, vị thừa sai đầu tiên đặt chân lên đất nước này vào năm 1615, cho tới khi hàng giáo phẩm được thiết lập vào năm 1960, thời gian kéo dài là ba thế kỷ rưỡi. Trong khoảng thời gian này, những thành phần nhân sự dần dần được thiết lập để xây dựng cho Giáo Hội Việt Nam.

Trước hết là cha Đắc Lộ đă khai sinh ra hồi Thày giảng năm 1650. Chín năm sau, tức là năm 1659, Ṭa Thánh thiết lập hai Giáo phận Đàng Trong và Đàng Ngoài, đặt dưới quyền quản trị của hai vị Tân Giám mục là Lambert de la Motte và Francois Pallu, thuộc hồi thừa sai hải ngoại Paris. Chính Đức cha Lambert de la Motte trong ba năm, từ năm 1668-1670 đă truyền chức linh mục cho chín người Việt Nam đầu tiên xuất thân từ hội Thày giảng.

Chín linh mục này làm nên hàng giáo sĩ Việt Nam đầu tiên. Từ việc phong chức linh mục đầu tiên này tới cuộc tấn phong Giám mục cho Đức cha Nguyễn Bá Ṭng năm 1933, thời gian kéo dài gần hai thế kỷ rưỡi. Rồi từ khi có giám mục Việt Nam cho tới khi hàng giáo phẩm được thiết lập, thời gian chỉ có 37 năm. Về nhân sự của Giáo Hội địa phương, kế tiếp việc thiết lập hàng giáo sĩ Việt Nam là việc thiết lập ḍng nữ Mến Thánh Giá tại Kiên Lao (Nam Định) và Băi Vàng (Hà Nam) do Đức cha Lambert de la Motte, vào năm 1670.

Cũng trong khoảng thời gian ấy, trải dài hơn ba thế kỷ, Giáo Hội Việt Nam đă gặp phải những cuộc bách hại và cấm cách đẫm máu, khiến cho hàng vạn người đă bị mất mát tài sản, hàng ngàn người đă ngă gục ngoài pháp trường, trong đó có 117 vị đă được tôn lên hàng hiển thánh, gồm tám giám mục, năm mươi linh mục và 59 giáo dân. Chính các ngài đă trở thành những hạt giống đức tin, đem lại cho Giáo Hội Việt Nam một vụ mùa bội thu.

Mừng kính các Thánh Tử Đạo Việt Nam, cũng như kỷ niệm ngày thành lập hàng giáo phẩm, mỗi người chúng ta hăy hồi tâm xét ḿnh, kiểm điểm lại cuộc sống xem chúng ta đă thực sự thuộc về Đức Kitô hay chưa? Bởi v́ tinh thần của Chúa và tinh thần của thế gian là hai cái ǵ đối kháng, cho nên chúng ta không được phép bắt cá hai tay, hay lửng lơ con cá vàng, như lời Chúa đă nói: không nóng không lạnh, chỉ dở dở ương ương th́ Ta sẽ mửa mi ra.

Hơn nữa, Chúa cũng đ̣i chúng ta phải dứt khoát lập trường và dành cho Ngài địa vị số một trong cuộc đời chúng ta, v́ ai đă cầm cày mà c̣n ngoái lại đằng sau th́ không xứng đáng với Nước Trời. Tuy nhiên chọn lựa Chúa mà thôi chưa đủ, chúng ta c̣n phải thể hiện sự lựa chọn ấy trong cuộc sống thường ngày bằng cách thực thi những điều Ngài truyền dạy. Bởi v́ có thực thi những điều Ngài truyền dạy, chúng ta mới thực sự trở nên là những môn đệ và chứng nhân của Ngài. Mỗi hy sinh chúng ta chấp nhận để chu toàn Lời Chúa, sẽ là một giọt máu tử đạo chúng ta đổ ra từng giây từng phút để làm chứng cho Chúa.

 
 

7. Chúa Thánh Thần sẽ soi sáng cho biết phải nói ǵ

(Mt 10, 17-22)

Qua những lời Chúa Giêsu loan báo cho các môn đệ về những bách hại gặp phải và thái độ phải có khi đối diện với những bách hại này. "Đừng lo sợ phải nói ǵ và nói thế nào, v́ Chúa Thánh Thần sẽ soi sáng cho biết phải nói ǵ". Sự bách hại là số phận không thể tránh được của người đồ đệ, bởi v́ nếp sống và sứ điệp của người đồ đệ của Chúa phơi bày những tật xấu của thế gian.

Tác giả Phúc Âm theo thánh Gioan viết rơ ra lư do của sự thù nghịch giữa thế gian và người đồ đệ như sau:

"Nếu thế gian ghét các con, các con nên nhận biết rằng thế gian đă ghét Thầy trước các con. Nếu các con thuộc về thế gian th́ thế gian sẽ yêu những ǵ thuộc về nó, nhưng v́ các con không thuộc về thế gian và v́ Thầy đă chọn các con và tách các con ra khỏi thế gian, nên thế gian ghét các con. Các con hăy nhớ lời Thầy dạy bảo: "Tôi tớ không trọng hơn chủ". Nếu họ đă bắt bớ Thầy, chắc chắn họ sẽ bắt bớ các con".

Người đồ đệ được đồng hóa với Chúa Giêsu và chia sẻ số phận của Ngài, nhưng người đồ đệ cảm thấy ḿnh như là yếu đuối, không sức mạnh để tự ḿnh chống lại những bách hại. Sự yếu hèn của môn đệ là sức mạnh của Thiên Chúa. V́ biết ḿnh yếu đuối, người đồ đệ hết ḷng tin tưởng vào Chúa, sống gắn bó với Người.

Phúc Âm theo thánh Mátthêu đă được viết ra sau cuộc bách hại đầu tiên mà cộng đoàn Giáo Hội đầu tiên đă trải qua, như cuộc bách hại và tử đạo của thầy Stephano tại Giêrusalem. Các tông đồ cũng đă từng bị tù rồi chịu chết v́ đạo. Phản ứng tự nhiên của con người trước những khó khăn, những bách hại là lo sợ. Và Chúa Giêsu tiếp tục khuyên các tông đồ hăy can đảm làm chứng cho Ngài. Người đồ đệ của Chúa cần sẵn sàng cho mọi nghịch cảnh xảy ra.

Trong đoạn Phúc Âm chúng ta đọc trên đây, chúng ta có thể ghi nhận là Chúa Giêsu đă kêu gọi "đừng sợ" đến ba lần:

- "Các con đừng sợ những kẻ vu oan v́ không có ǵ ẩn khuất mà không bị lộ, v́ sự thật luôn là sự thật".

Trung thành với sự thật đôi khi làm ta phải trả một giá rất đắt và có khi phải trả cả bằng chính mạng sống ḿnh.

- Lần thứ hai Chúa Giêsu nhắc: "Các con đừng sợ và đừng sợ những kẻ có thể làm hại thân xác, làm thiệt tḥi cho phần vật chất, nhưng không thể nào giết được linh hồn".

Lư do sâu xa của ḷng can đảm Phúc Âm mà Chúa muốn cho các đồ đệ là quan niệm đích thực về con người, bao gồm thể xác và linh hồn. Thể xác, vật chất có thể bị thiệt tḥi, nhưng linh hồn, tinh thần của con người sẽ không hề hấn ǵ nếu người đó vững ḷng tin tưởng vào Chúa.

- Lần thứ ba Chúa Giêsu nhắc: "Các con đừng sợ v́ lư do các con quí trọng hơn chim sẻ nhiều. Thiên Chúa quan pḥng chăm sóc mọi sự, Ngài chăm lo cho chim sẻ ngoài đồng th́ huống hồ là con người cao trọng hơn mà không được Thiên Chúa chăm sóc cho hay sao".

Đó là ba lư do để đừng lo sợ và hăy tin tưởng vào Thiên Chúa quan pḥng. Ư thức ḿnh được Thiên Chúa yêu thương chăm sóc, người đồ đệ sẽ nhất quyết dấn thân nhiều hơn, dấn thân làm chứng cho Chúa.

"Ai nh́n nhận Thầy trước mặt mọi người, th́ Thầy cũng nh́n nhận người ấy trước mặt Cha Thầy ở trên trời". Đó là những lời dạy của Chúa Giêsu cho những đồ đệ đầu tiên ngày xưa, những vẫn luôn c̣n giá trị cho những đồ đệ của Chúa ngày hôm nay. Đừng sợ gian nan thử thách để theo Chúa, đó là sự can đảm của người Kitô qua mọi thời đại.

Lạy Chúa,

Xin giúp con mở rộng mọi cửa nẻo tâm hồn để đón nhận Chúa đến sống với chúng con, để ban sức mạnh cho chúng con. Xin v́ công nghiệp các thánh Tử Đạo Việt Nam, xin Chúa ban cho mỗi người chúng con được trở thành những chứng nhân trung thành của Chúa trong mọi hoàn cảnh.

  
 

8. Tử đạo

Trước khi ra đi chịu chết, Chúa Giêsu đă tiên báo cho các môn đệ:

- Người ta sẽ ghét bỏ các con, sẽ bắt bớ và xua đuổi các con ra khỏi nhà hội. Sẽ đánh đập và nhốt các con vào ngục tù, và sau cùng họ giết các con v́ môn đệ không trọng hơn thày.

Lời tiên báo của Chúa Giêsu đă được thực hiện, trải qua ḍng thời gian, hằng triệu các tín hữu đă đi vào dấu chân của các tông đồ, chấp nhận hy sinh mạng sống để làm chứng cho Tin Mừng Phúc âm.

Có thể nói được rằng Kitô giáo đă lớn lên trong máu và nước mắt. Ở mọi nơi và trong mọi lúc, Giáo Hội đều gặp phải những bắt bớ và cấm cách, từ những thế kỷ đầu khi Giáo Hội c̣n phôi thai, cho đến tận ngày hôm nay khi Giáo Hội đă có mặt ở tận cùng bờ cơi trái đất.

Nào là những cuộc bách hại đẫm máu ở Đại Hàn, Nhật Bản, Phi Châu và ngay cả trên đất nước Việt Nam thân yêu, suốt ba thế kỷ, từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 19, biết bao nhiêu bắt bớ cũng đă xảy ra. Thực vậy, Tin mừng được chính thức loan truyền trên quê hương Việt Nam vào thời Hậu Lê thuộc thế kỷ 16. Thế nhưng, ngày từ lúc c̣n phôi thai Giáo Hội Việt Nam đă gặp phải những cấm cách đúng như lời Chúa đă phán: Nếu họ đă bắt bớ Thày, th́ họ cũng sẽ bắt bớ các con. Cuộc bách hại khởi đầu từ thời Hậu Lê, qua nhà Tây sơn, rồi tới triều Nguyễn và đặc biệt trở nên gắt gao dưới thời Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức. Suốt ba trăm năm, biết bao nhiêu người đă phải rời bỏ làng mạc thân yêu trốn chạy vào những nơi rừng thiêng nước độc, cốt bảo toàn đức tin của ḿnh. Hơn 130 ngàn người đă ngă gục dưới những cực h́nh dă man, để trờ thành những chứng nhân bất khuất cho Đức Kitô. Trong đó 117 vị đă vị đă được tôn phong lên hàng hiển thánh, gồn 8 giám mục, 50 linh mục, 16 thày giảng, 1 chủng sinh và 42 giáo dân.

Thế gian thù ghét Chúa Giêsu và Giáo Hội, Sự thù ghét ấy vẫn c̣n đó, cho dù con người hôm nay đă bước vào thời đại văn minh và tiến bộ. Thực vậy, Ngày hôm nay trên thế giới vẫn c̣n có biết bao nhiêu Giám mục, Linh mục và giáo dân bị tù tội, bị áp bức chỉ v́ một lư do duy nhất đó là đă tin theo Đức Kitô.

Thế nhưng như người ta vẫn thường bảo:

- Cái đe làm cho chiếc búa bị hỏng.

Thế gian nhục mạ, bắt bớ Giáo Hội và rồi họ đă chết, c̣n Giáo Hội th́ vẫn đứng vững, vẫn giữ được vẻ tươi trẻ và sức sống của ḿnh. Chúng ta thử nhớ lại ảnh hưởng to lớn mà Đức Thánh Cha Gioan XXIII đă tạo được trên thế giới và cái chết của ngài đă gây ra một sự mất mát đớn đau. Rồi những t́nh cảm nồng hậu người ta đă dành cho Đức Phaolô VI, cũng như Đức Gioan-Phaolô II trong những chuyến công du.

Từ đó chúng ta nhận thấy gian nguy và thử thách là một cái ǵ gắn liền với thân phận của Giáo Hội, hay nói cách khác, là một phần của đời sống Giáo Hội, bởi v́ không một vị thánh nào mà không bị khổ đau, mà không bị đổ máu.

Thế nhưng chấp nhận cái chết trong phút chốc có thể là một việc dễ dàng. Nhưng từng giây từng phút, từ bỏ những ước muốn riêng tư để làm vui ḷng Chúa, chu toàn mọi bổn phận nhỏ bé không tên, tha thứ mọi lỗi lầm, mọi vấp phạm, mọi va chạm, đó có thể là một việc khó, đ̣i phải có một đức tính kiên nhẫn và một ḷng mến chân thành. Việc làm đó không hào quang, không rực rỡ, không một ai biết đến trừ ra chính Thiên Chúa.

Đôi lúc đau khổ và thử thách c̣n là một phần của đời sống người Kitô hữu: Nào cám dỗ, nào bệnh tật, nào khó khăn, nào chết chóc. Dĩ nhiên chúng ta phải làm việc, để tạo dựng một cuộc sống ấm no hạnh phúc và tiện nghi. Thế nhưng chúng ta phải nhớ rằng: Sống đạo và chạy theo vui thú là hai việc làm không thể đội trời chung với nhau. Bởi v́ đời sống người Kitô hữu là một cuộc chiến đấu không ngừng chống lại sự bành trướng của tinh thần thế gian. Hay như lời thánh Phaolô đă nói:

- Những người thuộc về Đức Kitô th́ đóng đinh xác thịt ḿnh cùng với mọi đam mê dục vọng vào thập giá.

Chính những đau khổ và thử thách sẽ giúp chúng ta vượt lên trên tinh thần thế tục, thanh tẩy chúng ta và đền bù tội lỗi chúng ta.

Bởi đó đừng nguyền rủa phẫn uất nhưng hăy biết đón nhận v́ ḷng yêu mến Chúa, để góp phần vào thập giá của Ngài. Trong những giờ phút đen tối, hăy ngước nh́n thập giá và sẽ t́m được niềm an ủi và khích lệ v́ chính Chúa cũng đă đau khổ trước chúng ta và hơn chúng ta bội phần.

Cuộc đời th́ ngắn ngủi, đừng lăng phí và làm cho nó bị hư đi, v́ sau cơn mưa trời lại sáng, sau thập giá là vinh quang phục sinh.

  
 

9. Làm chứng

Hôm nay Giáo Hội cho phép chúng ta mừng kính chung toàn thể các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Đây thực là một ngày giỗ tổ làm cho mọi tâm hồn con dân đất Việt phấn khởi vui mừng. Chúng ta đều biết từ khi đạo Chúa chính thức bắt rễ vào đất nước chúng ta cho đến cuối thế kỷ XIX, nghĩa là từ khoảng năm 1638 đến năm 1886, gần 300 năm, lịch sử Giáo Hội Việt Nam là cả một cuộc tử đạo kéo dài gần như liên tục năm này qua năm khác, không mấy khi ngừng, mà nếu có ngừng th́ chỉ tạm ngừng để chuẩn bị tiến sang một giai đoạn chịu bách hại khác dữ dội hơn và đẫm máu hơn.

Trong suốt ba thế kỷ bị bách hại, tính ra có trên 130 ngàn anh hùng tử đạo, và như thế nước Việt Nam chúng ta, tuy nhỏ hẹp và nghèo khổ nhưng rất hào hùng. Nước nhỏ hẹp nhưng danh tiếng vang lừng quốc tế. Chúng ta đă đóng góp cho gia sản của Giáo Hội một sự nghiệp đức tin to lớn. Tuy nhiên, trong số đó mới chỉ có 117 vị được phong chân phước. Và ngày 19.06.1988, cả 117 vị này đă được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II suy tôn lên bậc hiển thánh. Các ngài được suy tôn hiển thánh để cho toàn thể thế giới tôn kính và noi gương anh dũng của các ngài. Đồng thời để cho chúng ta, những người Công giáo Việt Nam, là con cháu các ngài, biết nối gót cha ông, dù sống trong hoàn cảnh nào cũng luôn trung thành với Chúa, với Giáo Hội, với Tin Mừng giữa ḷng dân tộc.

Các vị tử đạo cũng là những con người mang thân xác gịn mỏng như chúng ta, cũng biết rung cảm, cũng biết ham sống sợ chết như chúng ta. Nhưng giờ phút hy sinh đến, các ngài sẵn sàng tiến lên dâng hiến cuộc đời cho Thiên Chúa. Do đó cái chết của các ngài có một ư hướng nhất định: các ngài là những nhân chứng cho đạo Chúa. Đúng thế, danh từ “Tử Đạo” có nghĩa là kẻ làm chứng, và dùng đau khổ, tử h́nh để bảo đảm cho lời chứng. Mỗi vị tử đạo chết bằng nhiều h́nh khổ khác nhau, nhưng tất cả các ngài đều hiên ngang dùng lời nói và mạng sống ḿnh để giảng đạo, bênh vực chân lư và tuyên xưng đức tin. Tóm lại, tất cả các ngài đều là những nhân chứng bằng chính đời sống của ḿnh. Và cái chết của các ngài là một câu trả lời hùng hồn, quyết liệt cho những ai c̣n nghi ngờ tôn giáo của các ngài.

Người ta thường nói: “An quả nhớ kẻ trồng cây” hay “uống nước nhớ nguồn”. Chúng ta là con cháu các vị tử đạo, chúng ta được thừa hưởng một di sản đức tin phong phú, được chiêm ngưỡng một Giáo Hội phát triển tốt đẹp như ngày nay, chúng ta không thể quên đó là kết quả của những ḍng máu cha ông đă đổ ra. Bởi vậy, chúng ta phải tưởng niệm đến công lao to lớn của tiền nhân mà đáp đền cho xứng đáng và ra công phát huy di sản quí báu cha ông đă để lại. Nhưng nếu chỉ có những cảm t́nh hân hoan phấn khởi và biết ơn mà thôi th́ chưa đủ, chúng ta c̣n phải chú ư lắng nghe tiếng gọi tha thiết của ḍng máu tử đạo và khám phá ra những bài học cao quí để áp dụng vào đời sống. Vậy máu tử đạo nói ǵ với chúng ta?

Trước hết, máu tử đạo nói lên niềm tin mănh liệt, sâu xa và ḷng trung thành sắt son của cha ông đối với đạo thánh Chúa. Đức tin đă thấm nhập và đâm rễ sâu vào tâm hồn các ngài đến nỗi không một sức mạnh trần gian nào có thể lay chuyển được. Đối với các vị tử đạo, đức tin là một cái ǵ cao quí vô cùng, phải bảo vệ bằng mọi giá. Dầu bị đe dọa, tra tấn với muôn khổ h́nh dă man ghê rợn, dầu phải đổ đến giọt máu cuối cùng, các ngài cũng cam chịu, miễn sao bảo tồn được đức tin nguyên vẹn.

Đàng khác, được hấp thụ tinh thần nho giáo, các ngài đặt chữ “trung” lên trên hết. Không những trung thành với vua chúa trần gian, với quê hương tổ quốc, mà nhất là trung thành với vua chúa trên các vua, chúa trên các chúa, trung thành với quê hương tổ quốc siêu nhiên là Giáo Hội. Đó là tấm gương sán lạn cha ông để lại cho chúng ta.

Thứ hai, máu tử đạo cũng nói lên đức hy sinh can đảm phi thường của tiền nhân. Người ta ai mà không sợ đau khổ, ai mà không tham danh tranh lợi, ham sống sợ chết. Nhưng với ơn Chúa, các vị tử đạo đă thướng vượt mọi trở lực, dầu khó khăn đến đâu, để duy tŕ đức tin. Ai kể được những khổ h́nh dă man các ngài đă phải chịu: ḱm kẹp, xiềng xích, voi giày, thiêu sinh, trầm hà, trảm quyết, lăng tŕ, bá đao… Nhưng các ngài can đảm chịu đựng, các ngài đă thắng tất cả: thắng vũ lực, thắng quyền bính vua chúa trần gian, thắng ma quỉ, và thắng chính ḿnh.

Các vị tử đạo đă chết để nêu cao ḷng hiếu trung. Các ngài đă từ bỏ tất cả, nhận lấy cái chết, không chút oán giận những kẻ giết ḿnh. Các ngài đă hy sinh đời sống để theo một tôn giáo, minh chứng cho mọi người biết tôn giáo đó là từ trời ban xuống và đạo Chúa Kitô là đạo thật. Các ngài chết nhưng luôn sống trong kư ức chúng ta. Các ngài là những hạt giống tốt đă được gieo để đem lại hoa trái phong phú cho chúng ta. Chúng ta đang thừa hưởng gia sản của các ngài, chúng ta hăy sống tốt đẹp, xứng đáng với những hy sinh của các ngài.

Chúng ta hăy nhớ rằng: tử đạo là một ân huệ đặc biệt Chúa ban cho ai tùy ư Ngài muốn, nhưng nỗ lực làm chứng cho Chúa th́ không dành riêng cho ai cả. Là Kitô hữu là có nhiệm vụ làm chứng: làm chứng bằng lời nói, bằng hành động và bằng cả cuộc đời cụ thể của ḿnh. Nói rơ hơn, cách làm chứng tốt nhất cho Chúa, cho đạo là sống bác ái yêu thương. Chúng ta cần phải thuyết phục những người chưa có đạo, những người không hiểu về chính nghĩa của đạo chúng ta bằng cách sống trọn vẹn, quyết liệt, dứt khoát tinh thần bác ái yêu thương đối với nhau và đối với những người chung quanh.

 
 

10. Tử đạo hay sống đạo?

Nếu như anh chị chúng ta là những người giàu có và thành công trên đường đời, hẳn chúng ta sẽ lấy làm hănh diện. Nếu cha mẹ chúng ta là những người tốt lành và thánh thiện, hẳn chúng ta cũng sẽ rất lấy làm hănh diện. Cũng thế, hôm nay khi mừng kính các thánh Tử Đạo Việt Nam, chúng ta càng phải hănh diện hơn nữa v́ các ngài những bậc cha ông của chúng ta đă lấy mạng sống cùng với những giọt máu đào để làm chứng cho Chúa.

Thực vậy, Giáo Hội Việt Nam đă góp phần vào tiến tŕnh chung của Hội Thánh Công giáo những trang sử hào hùng và dũng cảm.

Bên Âu Châu, thời kỳ đen tốt nhất Giáo Hội đă phải trải qua chính là thời kỳ Giáo Hội c̣n phôi thai, trải dài từ cuối thế kỷ thứ nhất đến đầu thế kỷ thứ tư, từ triều Nêron đến triều Maximinus. Suốt trong khoảng thời gian này, Giáo Hội đă bị bắt bớ và cấm cách. Biết bao nhiêu người đă chết hay đă ngă gục trên pháp trường. Những người muốn sống sót đều phải chui rúc dưới những hang, được gọi là hang toại đạo., hiện nay vẫn c̣n t́m thấy tại Roma. Các sử gia đă gọi đó là thời kỳ Giáo Hội sống dưới hầm. Nhưng sau cùng, Giáo Hội đă chiến thắng với biến cố hoàng đế Constantinô trở lại và ngọn cờ thập giá được tung bay trên toàn đế quốc La mă.

Nếu so sánh, chúng ta thấy Giáo Hội Việt Nam cũng có những điểm thật giống với Giáo Hội Rôma. Đó là ngay sau khi hạt giống Tin mừng được gieo văi trên đất nước này, th́ lập tức gông băo đă nổi lên. Từ thời vua Lê chúa Trịnh cho tới những triều đại nhà Nguyễn, trải dài gần ba trăm năm. Trong suốt thời gian này, biết bao nhiêu người đă bị nhà tan cửa nát, phải di tản vào những nơi rừng thiêng nước độc, như các giáo dân vùng La Vang, Quảng Trị. Biết bao nhiêu người đă phải chịu những cực h́nh khủng khiếp. Trong số đó, có 117 vị đă được nâng lên hàng hiểm thánh. Ai cũng tưởng rằng ngọn lửa Phúc âm sẽ bị dập tắt. Thế nhưng, máu các thánh tử đạo là hạt giống nảy sinh các tín hữu. V́ thế, Giáo Hội Việt Nam đă lớn lên và trưởng thành trên nền móng vững chắc ấy, xứng đáng được gọi là trưởng nữ của các Giáo Hội tại Á châu.

Tuy nhiên, hănh diện mà thôi chưa đủ, chúng ta c̣n phải noi gương bắt chước các ngài, bởi v́ con nhà tông không giống lông cũng giống cánh. Đừng v́ một con sâu mà làm rầu nồi canh, đừng v́ cuộc sống tội lỗi của chúng ta mà làm nhơ bẩn khuôn mặt Giáo Hội Việt Nam. Hăy sống thế nào để xứng đáng là con cháu của những bậc anh hùng tử đạo.

Hồi c̣n bé, tôi rất thích đọc hạnh các thánh tử đạo và thầm mong một ngày nào đó, tôi cũng đưa cổ cho lư h́nh chém một nhát và thế là nghiễm nhiên trở thành thánh tử đạo. Thế nhưng, lớn lên tôi mới nghiệm ra rằng: mơ ước như vậy chỉ là một sự hăo huyền, bởi v́ không phải thời buổi nào cũng có những cấm cách. Hơn thế nữa, hành động chịu chết v́ đạo là một hành động cao cả và tuyệt vời nhất, như lời Chúa Giêsu đă xác quyết:

- Không ai yêu hơn người hiến mạng sống ḿnh v́ bạn hữu.

Hành động cao cả và tuyệt vời này phải là kết quả của những tháng ngày sống niềm tin yêu và thấm nhuần đạo đức. Không phải một sớm một chiều mà một thằng quỷ có thể trở nên một vị thánh. Không phải hễ có bắt bớ là mọi người đều có thể tử đạo, bởi v́ sống sao chết vậy, cây xiêu chiều nào sẽ đổ theo chiều ấy.

Kinh nghiệm cho hay mổi khi có những khó khăn xảy ra, th́ rất nhiều kẻ đă trở cờ, chối bỏ Chúa. Họ chối bỏ Chúa chỉ v́ chén cơm manh áo, họ chối bỏ Chúa chỉ v́ một chút địa vị xă hội, họ chối bỏ Chúa chỉ v́ muốn chạy theo những dục vọng thấp hèn. Thế nhưng, lư do chính yếu, là như phần ch́m của tảng băng, đó là họ đă không thực sự sống đạo, đă không thực sự sống niềm tin của ḿnh. Cũng giống như khi xây nhà, nếu không đổ nền đổ móng cho vững chắc, th́ chẳng bao lâu căn nhà sẽ bị sụp đổ.

V́ thế, chúng ta nên hiểu tử đạo theo một nghĩa rộng, đó là làm chứng cho Chúa. Chúng ta có thể làm chứng cho Chúa bằng hành động, bằng việc làm, bằng chính cuộc sống đạo đức và thánh thiện, bác ái và yêu thương của chúng ta. Đó chính là cái nền tảng vũng chắc để xây dựng ṭa nhà đức tin. Chính trong ư nghĩa này mà Mẹ Maria đă được gọi là Nữ vương các thánh tử đạo, mặc dù Mẹ đă không đổ máu để làm chứng cho đức tin của ḿnh.

Hăy tập sống tinh thần tử đạo bằng cách thực hiện những điều tốt lành, bởi v́ mỗi khi hành động như vậy là chúng ta đă tuyên xưng niềm tin của chúng ta. Hơn thế nữa, mỗi hy sinh chúng ta chịu trong khi phục vụ và giúp đỡ người khác sẽ là như một giọt máu tử đạo chúng ta đổ ra từng giây và từng phút để làm chứng cho Chúa.

Hăy sống đạo, sống niềm tin của ḿnh. Nếu cha ông chúng ta đă tuyên xưng niềm tin bằng cái chết anh hùng, th́ khi sống đạo, chúng ta cũng tuyên xưng niềm tin của chúng ta bằng chính cuộc sống ngập tràn t́nh bác ái yêu thương của chúng ta.

 
 

11. Suy niệm của Lm. Phạm Thanh Liêm

Ngày 24 tháng 11, là ngày lễ thánh linh mục tử đạo Anrê Dũng Lạc. Giáo Hội Việt Nam đă xin Giáo Hội hoàn vũ để mừng lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam vào ngày này, và nhận Các Thánh Tử Đạo Việt Nam là bổn mạng Giáo Hội Việt Nam. V́ là bổn mạng của Giáo Hội Việt Nam, nên lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam là lễ trọng và được dời vào ngày Chúa Nhật. Chúa Nhật cuối cùng của năm phụng vụ là lễ Kitô Vua, nên lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam được mừng vào Chúa Nhật trước lễ Kitô Vua.

Các thánh tử đạo là những người dám chết để làm chứng Thiên Chúa yêu thương con người. Các ngài là dấu chỉ cho thấy Thiên Chúa đang làm những điều kỳ diệu nơi những con người yếu đuối mỏng ḍn.

Đời sống trong sáng đáng quư như châu ngọc

Bài đọc thứ nhất trong sách Maccabêô quyển thứ hai, thuật chuyện một người đáng kính, từ chối không ăn thịt heo cho dù phải chết. Ông được nhiều người quư mến nên đổi thịt heo thành thịt mà luật cho phép ăn, rồi đề nghị ông giả vờ ăn thịt heo để thoát chết. Êlêazarô từ chối mánh khóe để được sống này, v́ khi làm như vậy gây gương xấu cho thế hệ tương lai. Thế hệ trẻ đâu biết đó không phải là thịt heo, nên tưởng rằng Êlêazarô tham sống sợ chết mà vi phạm luật Chúa.

Thái độ sống của Êlêazarô rất trong sáng, rất tự do ngay cả đối với cái chết. Ông cũng là người cho thấy t́nh yêu và trách nhiệm đối với thế hệ tương lai. Nơi con người mỏng ḍn, Thiên Chúa đă và đang làm những điều tuyệt vời. Các thánh tử đạo Việt Nam cũng là những người sống thái độ tự do và yêu mến như vậy. Các ngài là những người cha, người mẹ, người chồng, người vợ, người con hiếu thảo và tốt lành; tuy vậy các ngài sẵn sàng chấp nhận cái chết v́ yêu mến Thiên Chúa, yêu mến con người và những người thân.

Cái chết của các ngài, làm rạng danh gia tộc, giúp cho những người con người chồng người vợ nh́n lên tấm gương của những bậc cha anh thân yêu mà phấn đấu sống cho nên người và nên người con ngoan của Chúa. Các thánh tử đạo là những người ảnh hưởng rất lớn trên thế hệ tương lai mà nhiều người không thấy rơ điều này, khi cho rằng các ngài chết th́ đâu có dạy dỗ hoặc ảnh hưởng ǵ được trên ai. Nơi các anh hùng tử đạo, lời dạy không bằng ngôn từ nhưng bằng chính cuộc sống. Và chúng ta biết, lời bằng hành động hay cuộc sống th́ có sức thuyết phục hơn lời nói nhiều.

Không có ǵ tách tôi ra khỏi t́nh yêu của Thiên Chúa

Bài đọc thứ hai trong thư của thánh Phaolô gởi tín hữu Roma, cho thấy xác tín của thánh nhân. Thiên Chúa yêu thương chúng ta vô cùng, và không có ǵ có thể tách chúng ta ra khỏi t́nh yêu của Thiên Chúa trong Đức Giêsu. Bằng cớ cho thấy Thiên Chúa yêu thương chúng ta vô cùng, đó là Ngài đă ban chính Con Một Ngài cho chúng ta. Nếu Thiên Chúa ban chính Con Một Ngài cho chúng ta, th́ Ngài c̣n tiếc ǵ với chúng ta nữa?

Không có ǵ tách chúng ta ra khỏi t́nh yêu của Thiên Chúa. Không phải v́ chúng ta yêu Thiên Chúa đến độ không có ǵ tách chúng ta khỏi t́nh yêu của Thiên Chúa, nhưng v́ Thiên Chúa yêu thương chúng ta, Thiên Chúa giữ chúng ta trong t́nh yêu của Ngài. Nếu chính Thiên Chúa giữ, th́ ai giựt chúng ta ra khỏi tay Thiên Chúa được? Nếu chỉ là bản thân con người gh́ chặt Thiên Chúa, th́ người mạnh hơn có thể giựt họ ra được, nhưng đây chính Thiên Chúa giữ. “Không ai có thể tách chúng ta ra khỏi t́nh yêu của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô”. Không ai, cho dù đó là thiên thần hay quỷ dữ, bất cứ quyền lực nào cũng không thể làm điều này, v́ Thiên Chúa là Đấng vô cùng mạnh.

V́ tin vào Thiên Chúa yêu thương tôi, nên tôi vững dạ an tâm, nên tôi ung dung thư thái bất chấp tất cả. “Nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của tôi, chính là Chúa”. “Đức Chúa là ánh sáng và Đấng cứu độ tôi, tôi c̣n sợ chi ai, tôi c̣n kinh khiếp chi ai”! Chính Thiên Chúa làm cho các thánh tử đạo trung thành với Ngài, cho dù “kiếm sắc, đầu rơi, gươm đao, xá ǵ”. Thiên Chúa là Đấng trung thành, Ngài sẽ hoàn tất những ǵ Ngài đă khởi sự nơi chúng ta.

Vác thập giá hằng ngày mà theo Ta

Đức Giêsu nói trong tin mừng theo thánh Luca: “ai muốn theo Ta, phải bỏ ḿnh, vác thập giá hằng ngày mà theo Ta”. Theo Đức Giêsu, là một thái độ sống liên lỉ chứ không chỉ là một hành vi riêng lẻ một lần cho tất cả. Để có thể có hành vi dám chết cho t́nh yêu, các anh hùng tử đạo đă luôn chết cho chính ḿnh trong cuộc sống hằng ngày để sống cho Chúa trong từng hành vi sống của ḿnh.

“Được lời lăi cả thế gian, mà phải mất mạng sống ḿnh, th́ ích ǵ?” Điều quan trọng là phải sống. Nhưng nếu chỉ sống một trăm năm, mà phải khổ nhục vĩnh viễn th́ ích lợi ǵ? Sự khôn ngoan đi kèm với hành vi anh hùng nơi các thánh tử đạo. Các thánh tử đạo, là những người khôn ngoan, anh hùng và đức hạnh. Các ngài là những người dám sống và dám chết cho t́nh yêu. Các ngài chọn đời sống vĩnh cửu hơn đời sống chóng qua này.

Câu hỏi gợi ư chia sẻ:

1. Tại sao các vị tử đạo dám chết? Những người thân của họ được ǵ?

2. Có người nói: “sống tốt cuộc sống này, đă là tử đạo rồi”. Bạn có đồng ư không? Tại sao?

3. Để giúp nhau hiểu thêm về lịch sử Giáo Hội Việt Nam và gương anh dũng của các bậc cha anh, xin bạn kể tiểu sử một vị thánh tử đạo Việt Nam!

 
 

12. Sống đạo và chết v́ đạo

Theo truyện kể, th́ thánh Giuse Xuyên Giám mục địa phận Trung Đàng ngoài, đă được phúc tử v́ đạo ngày 28.10.1858, ngài đă bị xử án lăng tŕ, nghĩa là bị chặt chân chặt tay và bị cắt thịt ra từng mảnh. Tương truyền rằng khi thọ án ngài đă có những lời ta thán những kẻ hành h́nh ngài là độc ác. Nên v́ câu nói ấy mà măi tới ngày 29.04.1951 ngài mới được tôn lên bậc chân phước.

Truyền thuyết trên đây có thể không đúng với sự thật, nhưng dù sao nó cũng nhắc nhở chúng ta về điều này: Người tử đạo không phải là một anh hùng theo kiểu các anh hùng khác của nhân loại.

Thật vậy, các vị tử đạo không phải là những anh hùng ngă gục trên chiến trường với vũ khí trong tay, trong một cuộc chiến chống lại quân thù. Các ngài là những con người không biết thù ghét, mà cũng không được thù ghét bất cứ ai, trái lại luôn luôn tuân giữ mệnh lệnh Chúa Kitô truyền là “Yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đăi ḿnh”. Nếu các ngài có phải chiến đấu, th́ đó là chiến đấu chống lại sự hèn nhát, khiếp sợ của chính ḿnh.

V́ thế, nếu có một người nào bị giết, tuy trên danh nghĩa v́ đạo, nhưng lại căm thù những kẻ bách hại ḿnh, hay kiêu hănh tự phụ v́ tính anh hùng của ḿnh, th́ người đó không thể nào là thánh được, mà cùng lắm chỉ có thể được coi như một anh hùng thôi. Cũng v́ lư do đó mà Giáo Hội Công giáo không bao giờ chấp nhận các tín hữu của ḿnh tự sát, ngay cả trong trường hợp gọi là để bảo vệ đức tin hay Giáo Hội.

Nói cách khác, người Kitô hữu được mời gọi trước hết để sống đạo, chứ không phải chết v́ đạo, bởi v́ Thiên Chúa là Chúa của sự sống, chứ không phải là Chúa của sự chết. Đàng khác, nếu chúng ta sống đạo đúng theo đ̣i hỏi của Tin Mừng, nghĩa là sống trọn t́nh bác ái đối với tất cả mọi người, th́ cái chết chúng ta cũng có ư nghĩa là một cái chết v́ đạo. Bởi lẽ chết v́ đạo, trước hết phải là chết v́ ḷng yêu mến.

Các thánh Tử Đạo Việt Nam xứng danh là những vị tử đạo theo cả hai nghĩa: Các ngài đă chết để tỏ ḷng trung thành với Chúa, với Giáo Hội, nhưng các ngài cũng chết cũng chết v́ t́nh yêu mến, yêu Chúa, yêu Giáo Hội, và yêu cả những người bắt bớ và làm khốn ḿnh. Các ngài đă không thù ghét, không nguyền rủa, mà có khi c̣n tỏ ḷng biết ơn v́ vô t́nh họ đă trở thành những người Thiên Chúa dùng để ban phúc tử đạo cho các ngài.

Vua quan phong kiến có thể coi các ngài như những kẻ phản bội tổ quốc v́ theo tả đạo, nhưng các ngài thực sự là những người yêu nước, yêu đồng bào, nên có vị tuy ước ao được phúc tử v́ đạo, nhưng lại chấp nhận một cuộc sống chui nhủi, nay trốn chỗ này, mai trốn chỗ khác, đói khát, hiểm nguy không ngại, chỉ muốn tiếp tục được phục vụ anh em tín hữu của ḿnh. Rồi một khi bị bắt, không một vị nào đă t́m cách chống cự, hay tỏ vẻ thù nghịch với vua quan lính tráng, trái lại vui vẻ chấp nhận cái chết như một cách tỏ ḷng trung thành với Chúa và tổ quốc.

Thật vậy, nếu không v́ muốn trung thành với tổ quốc, th́ các ngài đă có thể phản đối hay chống cự, hoặc lên án những kẻ cầm quyền đă bách hại ḿnh, nhưng các ngài đă cam tâm và b́nh thản chấp nhận cái chết mà không hề oán hận và hối tiếc. Trường hợp của thánh Phanxicô Trần văn Trung, cai đội, càng chứng tỏ là người Kitô hữu này chẳng hề muốn phản bội tổ quốc, v́ ngài đă t́nh nguyện xin đi đánh giặc, nhưng vua quan từ chối, v́ ngài không chịu bỏ đạo.

Noi gương ông cha ḿnh, người Việt Nam Công giáo chúng ta hôm nay cũng phải gắn bó đời sống đức tin của ḿnh với những đ̣i hỏi của đời sống con người trong xă hội, và trong cộng đồng dân tộc. Chẳng có ǵ mâu thuẫn giữa đức tin và ḷng yêu nước. Nếu các vua chúa thời trước tôn trọng tự do tín ngưỡng, th́ nhiều vị tử đạo thay v́ phải chết v́ đạo, đă có thể sống đạo mà phục vụ tổ quốc và dân tộc một cách hữu hiệu và tốt đẹp biết bao.

  
 

13. Niềm tin

Một viên sĩ quan trẻ trong quân đội Nga xin được nói chuyện riêng với vị mục sư người Hungary. Khi hai người ở trong một căn pḥng đă đóng kín cửa, viên sĩ quan hung hăn chỉ lên cây thánh giá treo trên tường và nói với vị mục sư rằng:

- Ông biết không, cái đó là sự dối trá cho các ông bày đặt ra để làm mê hoặc dân chúng. Ở đây bây giờ chỉ có tôi và ông. Ông hăy thú nhận rằng: Ông không hề bao giờ tin rằng ông Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa.

Vị mục sư cười và trả lời:

- Này anh bạn ơi, tôi tin thật đấy, v́ đó là sự thật.

Viên sĩ quan hét lên:

- Ông đừng có lừa dối tôi, đừng diễu cợt tôi.

Rồi anh rút ra một khẩu súng lục, chĩa vào vị mục sư và hăm dọa:

- Nếu ông không nhận rằng đó là một sự dối trá th́ tôi sẽ nổ súng.

Vị mục sư điềm tĩnh trả lời:

- Dù anh giết tôi, tôi cũng không thể nói điều anh muốn tôi nói. Đối với tôi, Đức Giêsu Kitô thật sự là Con Thiên Chúa.

Cũng như vị mục sư kia, các thánh Tử Đạo đă kiên cường giữ vững đức tin trước mọi thử thách, mọi gian lao, mọi giông tố của cuộc đời. Các ngài đă dám đánh đổi điều cao quí nhất là mạng sống của ḿnh để làm chứng cho niềm tin vào Thiên Chúa mà các ngài tôn thờ. Chúng ta có thể kể ra đây một vài khuôn mặt của những vị thánh giáo dân như những chứng từ cho điều chúng ta vừa nói:

- Thánh Luca Th́n, 39 tuổi, cai tổng. Người đă viết khi bị bắt bước qua thánh giá: “Tôi là một Kitô hữu. Tôi sẵn sàng chấp nhận mọi cực h́nh, thậm chí cả cái chết đau đớn nhất, hơn là vi phạm một lỗi dù rất nhỏ trong đạo tôi thờ”.

- Thánh Giuse Lựu, trùm họ Mặc Bắc (Vĩnh Long) đă tâm sự với một linh mục bạn tù rằng: “Xin cha cầu Chúa ban sức mạnh và ḷng can đảm cho con. Con sắp phải đi đày. Con xin trao cho Chúa tất cả mọi sự thuộc về con. Con bằng ḷng dâng cho Người hy sinh lớn lao hơn hết là gia đ́nh, vợ con của con”.

- Thánh Matthêu Gẫm, 34 tuổi, một thương gia giầu có, dù bị hành hạ, bị gông xiềng nhưng người luôn b́nh tĩnh vui tươi. Người nói: “Tôi có ăn trộm, ăn cướp ǵ đâu mà buồn. Được chết v́ đạo là điều tốt lắm”.

- Thánh Laurensô Ngôn, 22 tuổi, một nông dân, đă trả lời khi các quan bắt người bước qua thánh giá: “Tôi giữ đạo tôn thờ Chúa tể trời đất. Thánh giá là phương thế Chúa dùng để cứu độ nhân loại. Tôi chỉ có thể tôn kính chứ không bao giờ chà đạp. Tôi sẵn ḷng chịu chết v́ đức tin vào Thiên Chúa của tôi”.

- Thánh Matthêu Phượng, trùm họ, đă nói với các con ḿnh rằng: “Các con của cha ơi! Đừng khóc, đừng buồn làm chi v́ cha đang gặp được vận hội may mắn”.

- Thánh Đaminh Ninh, 21 tuổi, nông dân, đă hiên ngang phát biểu: “Nếu làm con cái không được phép sỉ nhục cha mẹ ḿnh, th́ làm sao người Kitô hữu lại có thể chà đạp h́nh ảnh của Đấng tạo thành trời đất? Xin các quan thi hành điều các quan muốn. C̣n tôi không bao giờ xúc phạm thập giá Chúa tôi đâu”.

- Thánh Phêrô Dũng yên ủi vợ: “Hăy vui mừng v́ tôi được hy sinh mạng sống cho Chúa Kitô”.

- Thánh Anê Thành, một người mẹ của 6 người con. Trong cơn đau đớn v́ bị tra tấn đă nhắn nhủ cô con gái đến thăm người trong tù rằng: “Con chuyển lời mẹ nói với các anh chị em con: Hăy coi sóc việc nhà, giữ đạo sốt sắng, đọc kinh sáng tối, dâng lễ mỗi ngày, cầu nguyện cho mẹ vác thánh giá Chúa đến cùng. Chẳng bao lâu mẹ con ta sẽ đoàn tụ trên Nước Thiên đàng”.

- Thánh Emmanuel Phụng, trùm họ, trước khi bị siết cổ đă trao cho con gái một ảnh thánh giá và nói: “Con hăy nhận lấy kỷ vật của cha. Đây là ảnh Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Anh này quí giá hơn vàng bạc bội phần. Con hăy luôn mang nơi cổ và trung thành cầu nguyện sớm chiều con nhé”.

Chúng ta không thể kể ra đây hết những h́nh khổ các thánh Tử Đạo đă phải chịu. Chúng ta cũng không thể nói hết ở đây những lời di chúc quí báu của các ngài. Đối với các ngài, Thiên Chúa là trên hết. Thiên Chúa là tất cả. Lập trường của các ngài là: “Thà chết chứ không thà bỏ đạo, bỏ Chúa”. Có lẽ ngày hôm nay chúng ta không c̣n được diễm phúc đổ máu và hy sinh mạng sống để làm chứng cho Chúa nữa. Nhưng nếu phải hy sinh một món lợi vật chất, nếu phải đánh đổi một chức vụ trong xă hội, nếu phải từ bỏ một thú vui tội lỗi v́ Chúa, v́ luật lệ, và v́ Tin Mừng của Người, chúng ta có dám không, thưa quí ông bà và anh chị em? Phải chăng lập trường của chúng ta vẫn là: “Thà bỏ đạo, bỏ Chúa chứ không bỏ những thứ đó”?

 
 

14. Tử đạo, một chọn lựa của ḷng tin

Hôm nay, chúng ta hân hoan cùng với toàn thể Giáo Hội Việt Nam mừng kính trọng thể lễ các thánh Tử Đạo tại Việt Nam. Đây là một ngày vui mừng chung của tất cả chúng ta, những kitô hữu mang trong ḿnh ḍng máu con Rồng, cháu Tiên. Cách đây gần 400 năm, hay đúng hơn từ lễ Phục sinh năm 1615, khi cha Bugiơmi, ḍng Tên, người Ư dâng thánh lễ đầu tiên tại Hội An, Đà Nẵng bây giơ, đạo Công giáo đă được chính thức khai nguyên và lập cơ sở ở Việt Nam. Hạt giống Tin mừng đă được gieo văi trên mảnh đất h́nh chữ “S” thân yêu này. Cha ông chúng ta những con người có tâm hồn hiền hậu, chất phác đă đón nhận và sẵn sàng dùng chính mạng sống ḿnh để làm chứng cho Tin mừng đó.

Thật vậy, “Tử Đạo” theo nguyên ngữ là “Martyr” có nghĩa là “làm chứng”. Vậy th́ việc cha ông chúng ta, từng lớp lớp người sẵn sàng bỏ tất cả vinh hoa, phú quư, vợ con để chết đi làm chứng điều ǵ? Chắc chắn việc các ngài sẵn sàng chết không phải v́ các ngài không muốn sống, nhưng là để làm chứng rằng, sự sống nơi trần thế này không phải là tuyệt đối, và mọi vinh dự ở đời này không phải là vĩnh cửu. Với cái chết của ḿnh, cha ông chúng ta đă cho thấy rằng: chết chưa phải là hết, nhưng là cửa ngơ để đi vào một đời sống vĩnh cửu đúng như tâm thức từ bao đời nay trong ḷng người dân Việt: “sống gởi, thác về”. Và chính ḍng máu nóng của các ngài đổ ra trên mảnh đất này, đă làm phát sinh một Giáo Hội Việt Nam hôm nay, như lời Đức Kitô: “Nếu hạt lúa gieo vào ḷng đất không chết đi, th́ nó vẫn trơ trọi một ḿnh, c̣n nếu nó chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác”.

1. Chọn lựa của dân Do thái:

Tuy nhiên, để có thể sẵn sàng đổ máu để làm chứng cho Tin mừng, cha ông chúng ta đă phải làm một cuộc chọn lựa thật quyết liệt trong tâm hồn. Bởi v́, trong thực tế, hạnh phúc đời sau th́ bây giờ chúng ta không thấy, c̣n tiền của, danh vọng cùng với những vinh hoa phú quư của nó, th́ lại nằm ngay trước mắt. Chính dân Do Thái khi bước vào được Đất Hứa, sau cuộc hành tŕnh 40 năm trong sa mạc, cũng đă phải làm một cuộc chọn lựa cơ bản này. Ông Môisê đă nói với họ: “Coi đây, hôm nay tôi đưa ra cho anh em chọn: hoặc là được sống, được hạnh phúc, hoặc là bị chết, bị tai hoạ”. Khi dân Do thái chọn lựa “yêu mến Đức Chúa,… và gắn bó với Người”, th́ không phải v́ trước mắt họ nhận được một cuộc sống sung sướng, dễ dăi. Họ chọn lựa Thiên Chúa chỉ v́ họ tin tưởng vào t́nh yêu của Giavê Thiên Chúa, Đấng đă từng giải thoát họ thoát ách nô lệ Ai Cập, kết ước với họ, để họ được làm dân của Ngài. Đồng thời, c̣n ban cho họ Đất Hứa làm gia nghiệp.

2. Chọn lựa của cha ông chúng ta:

“Trung thành với Thiên Chúa” cũng chính là chọn lựa, mà cha ông chúng ta ngay từ những ngày đầu đón nhận Tin mừng đă quyết định. Một cuộc chọn lựa nh́n bên ngoài có vẻ đơn giản: đó là bước qua thập giá hay không bước qua. Bước qua th́ có ngay tiền bạc, vinh hoa phú quư, c̣n như không bước qua th́ có thể lập tức lănh lấy cái chết. Đứng trước thập giá, đă có người bước qua, nhưng cũng đă có nhiều người không bước qua, không quá khoá. Đă có người được khiêng qua thánh giá, nhưng đă co chân lên như thánh Antôn Nguyễn Đích. Đă có người bước qua thánh giá, nhưng sau lại hối hận: đó là trường hợp của ba vị thánh Augustin Phan Viết Huy, Nicôla Bùi Đức Thể, và Đaminh Đinh Đạt. Vua quan đă bày ra trước mặt các ông mười nén vàng, một tượng Chịu Nạn và một thanh gươm rồi nói: “Cho bay tự ư chọn, bước qua tượng th́ được vàng, bằng không th́ gươm sẽ chặt đôi người bay ra, xác sẽ bị bỏ trôi ngoài biển.”

Đúng đây là một chọn lựa nghiêm chỉnh, chọn lựa này đụng đến tương lai và sinh mạng của chính ḿnh. Chọn lựa này bày tỏ thái độ của bản thân tôi đối với Đức Giêsu. Tôi chọn Ngài hay tôi chọn tôi. Thánh Anrê Kim Thông nói với quan tỉnh: “Thánh giá tôi kính thờ, tôi giẫm lên sao được”. C̣n Thánh Têphanô Ven, một linh mục trẻ, chỉ mới 31 tuổi, thuộc Hội Thừa Sai Paris đă bày tỏ chọn lựa của ḿnh một cách thật dứt khoát, khi trả lời cho viên quan bảo ngài bước qua Thánh giá: “Tôi đă suốt đời thuyết giảng về đạo thập giá, nay tôi lại đạp lên thập giá thế nào được? Tôi thiết nghĩ sự sống đời này đâu quí hoá đến độ tôi phải bỏ đạo mà mua!”. Một chọn lựa có thể nói là đầy bấp bênh theo cái nh́n tự nhiên của con người. Chính v́ bấp bênh như thế mà những chọn lựa này trở nên có giá trị, v́ nó đúng là một chọn lựa của ḷng tin.

Vâng, mỗi người chúng ta chỉ nhờ có ḷng tin chứ không phải nhờ bất cứ điều ǵ khác, mới có thể giúp mỗi người chúng ta lănh nhận ơn cứu độ. Ư thức điều đó, thánh Phaolô mời gọi tín hữu thành Côlôsê và cũng là lời nhắc nhở từng người chúng ta: “Anh em chỉ cần giữ vững đức tin, cần được xây dựng vững chắc kiên quyết, và đừng v́ nao núng mà ĺa bỏ niềm hy vọng anh em đă nhận được khi nghe loan báo Tin mừng”. Đức tin này mỗi người chúng ta đă được lănh nhận khi chịu phép Rửa, nhưng như thế th́ chưa đủ. Đức tin đó c̣n phải được minh chứng bằng chính cuộc sống hàng ngày của mỗi người chúng ta. Nhiều vị tử đạo đă được mời giả vờ bước qua thánh giá, để quan có cớ mà tha, c̣n đức tin bên trong th́ quan không đụng đến. Đây là một cám dỗ khá tinh vi và hấp dẫn, có vẻ như được cả hai, đời này và đời sau. Nhưng liệu tôi có thể bên ngoài chà đạp một Đấng mà bên trong tôi tôn thờ không? Đứng trước thánh giá là đứng trước một chọn lựa dứt khoát, không có giải pháp dung hoà hay lập lờ. Không ai có thể làm tôi hai chủ (x. Mt 6, 24), điều này vẫn đúng cho những chọn lựa mỗi ngày của các Kitô hữu chúng ta qua mọi thời đại.

3. Chọn lựa của chúng ta hôm nay:

Mừng lễ các thánh Tử Đạo tại Việt Nam hôm nay, lời Chúa một lần nữa mời gọi mỗi người chúng ta xét lại chọn lựa của ḿnh. Chọn lựa này không phải chỉ một lần là xong, nhưng cần đựơc lập lại mỗi ngày. Tôi đang chọn Chúa hay tôi chọn tôi? Và nếu tôi chọn Chúa, tôi đă làm ǵ để chứng minh cho lựa chọn của ḿnh? Chọn lựa của chúng ta hôm nay, có thể không đ̣i chúng ta phải đổ máu để làm chứng cho Chúa, nhưng tôi thiết nghĩ, cũng không kém phần gian khó. Đứng trước những bất công, tôi có dám bênh vực, hay tôi sợ phiền hà rồi im lặng? Trước một trận bóng đá, một bộ phim hay, một giấc ngủ ngon, một lời rủ đi chơi của bạn bè và tiếng mời gọi của Chúa nơi ngôi Thánh đường này, tôi chọn điều ǵ?

Chớ ǵ, nhờ lời cầu bầu của các thánh Tử Đạo tại Việt Nam và nhất là sức mạnh của Thánh Thể, quư ông bà anh chị em và tôi đủ sức thực hiện những chọn lựa của ḿnh. Nhờ đó, vào ngày sau hết, tất cả chúng ta sẽ cùng được đoàn tụ với cha ông chúng ta như lời hứa của Đức Giêsu: “Ai phục vụ Thầy, th́ hăy theo Thầy, và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó”. Amen.

 
 

15. Tử đạo

“Tôi thấy một số đông người không thể đếm được thuộc đủ mọi dân tộc, mọi quốc gia và mọi ngôn ngữ. Họ đứng trước ṭa Thiên Chúa và trước Chiên Con, ḿnh mặc áo trắng và trên tay cầm cành lá chiến thắng”.

Đó là lời thánh Gioan diễn tả cảm tưởng đoàn người chiến thắng đứng trước Ngai Thiên Chúa trên trời mà thánh nhân được Chúa cho thị kiến. Tiếp theo thánh Gioan viết trong sách Khải Huyền như sau:

“Những người mặc áo trắng ấy là ai và họ từ đâu tới? Chính vị trưởng lăo cho biết, đó là những người đă qua cơn đại họa, đă giặt áo họ trong Máu Chiên Con và nay trở về. V́ thế họ được hân hạnh đứng trước ṭa Thiên Chúa và phụng thờ Ngài ngày đêm trong đền thờ. Đấng ngự trên ṭa sẽ chở che và phù trợ họ, họ sẽ không c̣n phải đói khát nữa, không c̣n bị mặt trời và nóng bức làm khổ nữa. V́ Chiên Con đứng ở giữa ṭa sẽ chăn dắt họ, sẽ đưa họ đến suối nước thiêng và Thiên Chúa sẽ lau khô nước mắt họ”.

Qua ngày lễ kính các thánh Tử Đạo Việt Nam được toàn thể anh chị em Công giáo khắp Năm Châu mừng hôm nay, Giáo Hội muốn khẳng định cho chúng ta và toàn thể Giáo Hội hoàn vũ. Trong số đoàn người đông đảo đứng trước ngai Thiên Chúa có cả những người thuộc dân tộc Việt Nam, có cả con cháu ḍng giống lạc hồng, các ngài đă trải qua những cơn thử thách gian truân, lấy mạng sống của ḿnh để minh chứng cho niềm tin và nay được trở về với Thiên Chúa.

Các vị tử đạo Việt Nam là ai? Các ngài là những nhà truyền giáo đến từ các nước, là các giám mục, các linh mục người Pháp, Tây Ban Nha, nhưng đa số là những người Việt Nam gồm 37 linh mục, 16 thầy giảng, một chủng sinh và đặc biệt là rất nhiều giáo dân. Số đông đảo giáo dân Việt Nam đă đổ máu đào minh chứng cho niềm tin là điểm son thứ nhất tôi muốn nêu bật trong bài chia sẻ hôm nay.

Điểm son thứ hai tôi muốn lưu ư với anh chị em hôm nay, các thánh Tử Đạo là những công dân hiền ḥa, sống đời gương mẫu, nêu gương lư tưởng trung kiên với Thượng đế, không pḥ vua bách hại, nhưng một ḷng tùng phục quốc gia. Họ bị bắt bớ, tra tấn, ngục tù nhưng không một người nào có ư định cầm khí giới để pḥng thân. Trái lại, họ chỉ cam chịu, chỉ cầu nguyện cho tất cả mọi người, cầu cho quốc thái dân an, cầu cho các quan đă kư sắc lệnh tử h́nh và thật ḷng tha thứ cho những kẻ hành quyết ḿnh. Cử chỉ này không phải là hèn nhát, nhưng xứng đáng đối với những bậc thượng nhân như câu: “Đấng thượng phu đừng thù mới đáng. Đấng anh hùng đừng hoảng mới hay”.

Cuối cùng điểm son thứ ba tôi muốn nêu bật, là những thành tích vẻ vang để chứng tỏ niềm tin sắt đá các thánh Tử Đạo Việt Nam đă ghi vào những trang sử của Giáo Hội, là ḷng tôn kính của các ngài đối với thập giá. Đối với các thánh Tử Đạo Việt Nam, chết tang thương, chết treo trên thập tự để minh chứng t́nh yêu tột đỉnh của ḿnh đối với Thiên Chúa và đối với nhân loại, v́ thế không một khổ h́nh nào có thể di chuyển đôi chân của các ngài tự ư bước qua thập giá. Không bước qua thập giá để không chối bỏ đạo dù phải đ̣n vọt, tra tấn, dù phải chịu tử h́nh, các vị Tử Đạo Việt Nam đă nêu gương yêu mến thập giá để đáp lại t́nh yêu của Đấng đă chết treo trên ấy bằng chính mạng sống của các ngài.

Cùng với anh chị em Công giáo khắp năm châu mừng kính lễ các thánh Tử Đạo Việt Nam hôm nay, chúng ta phải một lần nữa ư thức rằng, cuộc sống và cái chết của các ngài có thể nói được là những ḍng chữ đầu trong các trang sử của Giáo Hội Việt Nam mà mỗi người chúng ta được kêu mời và thách đố. Hăy noi gương các vị tiền nhân anh dũng để chúng ta cùng nhau viết lên thành tích của ḷng trung thành và can đảm sống đạo, sống cuộc sống chứng nhân cho t́nh yêu qua những hành động cụ thể, để tha thứ, ḥa giải và chung tay xây dựng đất nước cũng như chứng nhân cho ư nghĩa thập giá qua nếp sống hằng ngày của ḿnh, mỗi người trong địa vị, mỗi người trong môi trường sống của ḿnh.

Nguyện xin các thánh Tử Đạo Việt Nam cầu bầu cho quê hương đất nước được quốc thái dân an, xin cầu bầu cho Giáo Hội Việt Nam được luôn trung thành với niềm tin, đức cậy và ḷng mến trung thành.

 
 

16. Chứng nhân

Trong những năm giảng dạy, có lần Chúa Giêsu đă nói với các môn đệ: “Các con sẽ làm chứng về Thầy”. Và chứng ấy là “Người ta sẽ hành hạ và giết các con”. Dù không thuộc lịch sử Giáo Hội cho lắm, chúng ta đều biết rằng: Trong ba thế kỷ đầu, Giáo Hội Công giáo đă bị bắt bớ, hành hạ ghê rợn, và không biết bao nhiêu người, từ Giáo hoàng trở xuống, đă đổ máu ra làm chứng đạo Chúa. Rồi lịch sử đạo Công giáo ở Việt Nam cũng thế, dù chúng ta không hiểu biết nhiều lắm, nhưng ai cũng biết rằng: Đây là những trang sử oai hùng, những trang sử mà không một trang nào lại không được tô điểm bằng những nét vàng son chói lọi, và những cái chết anh hùng của tiền nhân chúng ta dưới đủ mọi h́nh thức tàn bạo, ghê gớm.

Quả thực, có thể nói: Đạo Công giáo đă được chính thức khai nguyên và lập cơ sở ở Việt Nam từ lễ Phục sinh năm 1615, khi cha Bu-giơ-mi, ḍng Tên, người Ư dâng thánh lễ đầu tiên tại Hội An, Đà Nẵng bây giờ. Vài chục năm sau, cuộc bắt đạo đầu tiên xảy ra thời chúa thượng Nguyễn Phúc, khiến hai thày Inhaxiô và Âu tinh chịu trảm quyết năm 1645 ở Huế. Kể từ năm 1665, việc cấm đạo xem ra liên tục hơn, lúc căng lúc dùng. Hầu hết các thánh đường bị triệt hạ, đất đai nhà chung bị tịch thu và hàng trăm người được phúc tử đạo vào thời Trịnh Cương và Trịnh Giang. Từ năm 1706 đến 1740. Cuộc bách hại kéo dài khốc liệt và đẫm máu hơn qua thời các vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức đến thời Văn Thân, khiến nhiều thừa sai ngoại quốc và không biết bao nhiêu linh mục và giáo dân Việt Nam đă phải đổ máu để gieo văi hạt giống Tin Mừng.

Suốt ba thế kỷ cấm đạo, dưới sáu triều đại, khi thăng khi trầm, Giáo Hội Việt Nam có được khoảng 100.000 vị tử đạo. Trong số đó có 117 vị được phong thánh Tử Đạo vào ngày 19.6.1988 do Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Hiện nay cũng có mười vị được phong “đáng kính” và 1.000 vị được kể vào bậc “tôi tớ Chúa”. Cái chết của các vị tử đạo nói lên điều ǵ và dạy chúng ta điều ǵ?

Chúng ta không những nh́n nhận mà c̣n xác tín rằng: Những người chết v́ Chúa như thế được gọi là tử đạo, nghĩa là những chứng nhân của đạo Chúa. Tại sao vậy? Bởi v́ khi ấy cũng như ngày nay, Giáo Hội dùng cái chết của các ngài để minh chứng đạo Công giáo là đạo của Chúa. Các ngài lấy máu ḿnh để làm chứng, không phải là làm chứng cho một lư tưởng, nhưng là cho một việc. Chết cho một lư tưởng chưa phải là bằng chứng quyết định cho lư tưởng ấy, v́ người ta có thể tưởng lầm rằng: Lư tưởng ấy là đúng, và chết cho một lư tưởng chỉ minh chứng ḿnh có ḷng ngay, ḿnh thành thực. Nhưng khi người ta chết cho một việc th́ khác, đó chính là cái chết của các vị tử đạo: Trước cái chết, các ngài tỏ ra can đảm, anh hùng, cương quyết, b́nh tĩnh, khiến cho mọi người phải thán phục.Trước cái chết, các ngài không sợ hăi, khuyến khích nhau, tha thứ, cầu nguyện cho kẻ bách hại ḿnh, và vui vẻ tiến lên dâng hiến cuộc đời cho Thiên Chúa. Do đó, cái chết của các ngài có một ư hướng nhất định: Các ngài là những chứng nhân cho đạo Chúa. V́ thế, danh từ “Tử Đạo” có nghĩa là làm chứng, và dùng đau khổ, cái chết để bảo đảm cho lời chứng. Pascan tiên sinh đă nói: “Tôi sẵn sàng tin những truyện mà người thuật lại giơ cổ cho người khác chém để làm chứng”.

Tuy nhiên, chúng ta hăy nhớ: Tử Đạo là một ân huệ đặc biệt Chúa ban cho một số người, nhưng bổn phận làm chứng cho Chúa th́ không dành riêng cho ai cả, là Kitô hữu là có nhiệm vụ làm chứng, và chúng ta đều biết cách làm chứng tốt nhất là bằng chính đời sống tốt đẹp của chúng ta. Chúng ta cần thuyết phục những người chưa có đạo, những người không hiểu về chính nghĩa của đạo bằng chính đời sống tốt đẹp, dù chúng ta không nói hay chưa làm ǵ cả.

Người ta kể rằng: tại Trung Quốc trong những năm trước năm 1950, có nhiều giáo sĩ đă được gửi đến truyền giáo tại nước này. Người ta đă mở những lớp dạy tiếng Trung Hoa cho những giáo sĩ ngoại quốc để có thể tiếp xúc với dân chúng địa phương. tại một lớp nọ có khoảng 70 người theo học, trong buổi học đầu tiên, bà giám đốc của trường bước vào lớp học. Bà ta đi qua từng hàng ghế từ trên xuống dưới rồi từ dưới lên trên, tươi cười nh́n các học viên, rồi cuối cùng đi ra khỏi lớp mà không nói một lời nào. Các học viên đều ngạc nhiên về việc làm của bà giám đốc. Một lát sau, bà ta trở lại lớp và hỏi: “Quí vị đă tiếp thu được điều ǵ hôm nay chưa?”. Mọi người đều ngơ ngác v́ bà đă dạy ǵ đâu? Có một người đứng lên nói: “Chúng tôi chưa nghe bà nói một lời nào. Nhưng chúng tôi chỉ để ư có một điều, khi bà đến lớp này, bà đă xức một loại nước hoa thơm quá”.

Cả lớp phá lên cười. Lúc đó, bà giám đốc tươi cười nói: “Tôi cố ư xức nước hoa thật nhiều để quí vị chú ư đấy. Nếu quí vị đă nhận ra được điều ấy là hôm nay quí vị đă học được một bài rồi. Qua điều ấy tôi muốn nói với quí vị rằng: Quí vị sẽ sống khoảng hai năm ở nước này như những người câm v́ quí vị không nói chuyện được với những người Trung Hoa. Tuy nhiên, quí vị vẫn có thể để lại cho những người chung quanh quí vị một mùi thơm đặc biệt qua nếp sống của quí vị, để dầu không nói một lời nào, nhưng người khác cũng vẫn nhận ra được hương thơm của Chúa qua quí vị”.

Là con cái của Chúa, chúng ta có thể đem đến cho trần gian, cho những người chung quanh, hương thơm ngào ngạt của Chúa qua nếp sống hàng ngày của chúng ta mà không cần nói một lời nào. Xin các thánh Tử Đạo cầu bầu và trợ giúp để chúng ta luôn sống đúng và sống đầy đủ bổn phận làm chứng của chúng ta.

 
 

17. Các thánh Tử Đạo Việt Nam

Lễ kính các thánh tử đạo là sự tuyên dương những con người đă dám chết.

Tại sao tuyên dương? Thưa v́ người ta thường nghĩ “Không có ǵ quí hơn mạng sống”. Khi mạng sống bị đe dọa th́ bằng bất cứ giá nào, người ta cũng t́m cách để thoát khỏi cái chết và bảo tồn mạng sống của ḿnh. Thí dụ có người khi đói quá đă kiếm cỏ, kiếm vỏ cây để ăn, những thứ mà b́nh thường không bao giờ họ ăn; có người b́nh thường rất tự trọng nhưng khi quá đói đă phải ăn cắp thức ăn của người khác, đă dành ăn với người khác; thậm chí có người c̣n dám ăn thịt người trong lúc không c̣n ǵ ăn để giữ mạng sống. Thực ra những việc làm trên không có ǵ lạ, v́ người ta đă làm theo bản năng, gọi là bản năng sinh tồn.

Tuy nhiên có những người đă không theo bản năng sinh tồn ấy. Những người này không nghĩ rằng mạng sống là giá trị cao quí nhất, mà c̣n có những giá trị không cao hơn nhiều. Thí dụ:

- Trong trận động đất ở nước Nga, một người mẹ bị kẹt trong đống gạch vụn cùng với đứa con của ḿnh. V́ không có ǵ để ăn, hai mẹ con dần dần yếu. Người mẹ nghĩ rằng nếu t́nh h́nh cứ tiếp tục th́ sau cùng cả hai mẹ con đều chết, bởi đó bà đă cắn đầu ngón tay ḿnh, lấy máu cho con uống. Bà dám chết để con bà được sống.

- Hay như các anh hùng liệt sĩ, những người đă can đảm hy sinh mạng sống ḿnh để bảo vệ tổ quốc quê hương. Họ đă coi quê hương đất nước trọng hơn mạng sống bản thân.

- Và các vị thánh Tử Đạo cũng vậy, các ngài coi đức tin trọng hơn mạng sống thể xác.

Tất cả những người vừa kể trên đều đă dám chết, tất cả đều đáng ta kính phục. Riêng các thánh Tử Đạo Việt Nam, chúng ta thấy kính phục đặc biệt v́ các ngài có thể thoát chết cách dễ dàng thế mà các ngài vẫn can đảm chết: chỉ cần nói với quan một câu là “Tôi chịu bỏ đạo” th́ lập tức được thả tự do, hay đơn giản hơn chỉ cần thưa “vâng” khi quan hỏi “có chịu bỏ đạo không?”, hay đơn giản hơn nữa, không cần nói một lời nào cả, chỉ một cái gật đầu hay chỉ để yên cho người ta khiêng ḿnh ngang qua cây thập giá thôi. Thế nhưng các ngài đă không làm như vậy, các ngài dám chịu chết. Cái chết của các ngài gợi lên cho chúng ta nhiều điều suy nghĩ:

Điều thứ nhất cái chết ấy nói lên một quan niệm sống: sống không phải chỉ là tồn tại, tồn tại bằng bất cứ giá nào. Nhưng sống c̣n là sống theo một lư tưởng. Người không sống theo một lư tưởng th́ chỉ sống như một sinh vật, chỉ lo ăn lo uống, lo sinh tồn. C̣n người có lư tưởng và quí chuộng lư tưởng của ḿnh th́ không làm những ǵ nghịch với lư tưởng ấy; nếu bị buộc làm điều nghịch với lư tưởng, hay bị cấm cản không cho sống theo lư tưởng th́ các ngài thà chết để trung thành với lư tưởng cao đẹp của ḿnh.

Một trong những điều tệ hại hiện nay là nhiều người không c̣n lư tưởng sống, nhất là các thanh niên ở các nước giàu bên Âu Mỹ, cả đời họ không biết t́m ǵ khác hơn là kiếm tiền, rồi ăn nhậu, rồi mua sắm, rồi vui chơi. Nhưng cũng như người ta không thể ăn hoài được, khi đă no th́ không thể ăn thêm nữa, các thanh niên ấy ăn uống măi rồi cũng chán, vui chơi măi rồi cũng nhàm, thế là họ nghĩ ra những cách hưởng thụ khác như x́ ke ma túy, nghĩ đến những h́nh thức t́nh dục khác thường… kết quả là bị mắc bệnh Aids. Có lẽ không bao lâu nữa cách sống đó cũng du nhập vào xă hội chúng ta, bởi vậy nhắc lại gương sống của các thánh Tử Đạo là một điều hữu ích: sống không phải chỉ là tồn tại và hưởng thụ, mà c̣n phải là sống theo một lư tưởng cao đẹp.

Điều thứ hai chúng ta kính phục nơi các thánh Tử Đạo là sự trung thực của các ngài: Trung thực là sống đúng theo điều ḿnh tin và nói. Các thánh tử đạo tin rằng và nói rằng có Thiên Chúa, có linh hồn, có đời sau. Vậy khi các ngài dám chết là các ngài đă tỏ ra trung thực với niềm tin ấy, cái chết của các ngài cho người ta thấy rơ là các ngài thực sự tin rằng sau khi chết các ngài sẽ gặp được Chúa, linh hồn các ngài vẫn c̣n sống trong cơi vinh quang hạnh phúc với Chúa. Thực tế ngày nay, nhiều người không c̣n trung thực nữa: họ nói rất hay nhưng họ không làm theo điều họ nói, có khi họ cũng muốn làm nhưng lại không dám làm v́ sợ bị thiệt tḥi…

Và điều thứ ba khiến chúng ta kính phục các thánh tử đạo là các ngài đă mở trí cho chúng ta hiểu rằng đời này không phải là tất cả. Năm 1980 tại câu lạc bộ những nhân vật vị vọng trong xă hội, câu lạc bộ Philadelphia Phillies, người ta đă tổ chức một buổi nói chuyện và người được mời nói chuyện một nhân vật đặc biệt tên là Cordell. Cordell có tật nơi chân nên đi đứng rất khó khăn. Anh lại ngọng nên nói năng cũng khó. Mặt mày anh dị hợm nên nhiều người thấy anh phải quay mặt đi hướng khác. Một người như thế có ǵ để nói với những nhân vật giàu sang danh vọng trong xă hội? Anh mở đầu như sau: “Tôi biết rằng tôi rất là khác biệt với các bạn”, rồi anh kể về cuộc đời ḿnh, một cuộc đời nhiều thất bại, nhiều đau khổ. Sau cùng anh kết luận “Các bạn có thể thành công suốt cả cuộc đời và lănh hàng triệu đôla mỗi năm. Nhưng khi ngày giờ đến, ngày mà người ta đóng nắp quan tài của bạn lại, th́ các bạn sẽ chẳng khác tôi chút nào. Đó là lúc chúng ta đều y như nhau”. Không biết cử tọa của cuộc nói chuyện hôm đó nghĩ ǵ, nhưng tôi th́ nghĩ đến các thánh tử đạo: các ngài khôn hơn nhiều người ở chỗ nhiều người đă dùng cả cuộc đời để kiếm t́m những điều họ sẽ phải bỏ lại hết khi quan tài của họ bị đóng lại, c̣n các ngài th́ dám bỏ tất cả những ǵ quí nhất ở trần gian để đổi lấy cuộc sống vĩnh cửu.

 
 

18. Các Thánh Tử Đạo Việt Nam

Hôm nay chúng ta cùng với toàn thể Giáo Hội Việt Nam vui mừng mừng kính các anh hùng Tử Đạo Việt Nam của chúng ta. Trong bầu khí linh thiêng và cảm động này tôi muốn chia sẻ với anh chị em một vài tâm t́nh của tôi.

1. Tâm t́nh thứ nhất là tâm t́nh tự hào.

Các thánh Tử đạo Việt Nam của chúng ta làm cho chúng ta tự hào.

Chúng ta phải tự hào v́ chúng ta đă có được những vị tổ tiên anh hùng thật xứng đáng. Các Ngài đă được sinh ra, đă làm việc, đă cùng sống với những người Việt Nam chúng ta ngay trên mảnh đất quê hương thân yêu này. Các Ngài đă sống như biết bao nhiêu những con nguời khác đă sống, nhưng các Ngài đă sống hơn hẳn rất nhiều người khác ở chỗ các Ngài đă biết sống anh hùng, không để cho ḿnh bị mua chuộc, không để cho ḿnh bị khuất phục. Tiền bạc không làm cho các Ngài mù tối. Khổ đau không làm cho các ngài chùn bước, nhục h́nh không làm cho các ngài ngă qụy, và cả cái chết cũng không uốn cong được ḷng trung tín của các Ngài.

Chúng ta hăy đọc lại sắc dụ cấm đạo được ban hành ngày 18-9-1855 để chúng ta thấy được một phần nào những h́nh khổ mà các Ngài phải chịu như thế nào: "Các quan theo đạo Giatô tại triều đ́nh Huế hạn cho một tháng phải bỏ đạo. Các quan tỉnh th́ ba tháng. Lính tráng và người dân th́ sáu tháng, bằng không th́ phải kể là trọng phạm.

Các người theo đạo Giatô không được thi cử, không được giữ chức tước ǵ.

Ai đưa đường hay chứa chấp đạo trưởng th́ bị xử tử. Đạo trưởng Tây phương th́ chém đầu vất xác xuống sông. Các giáo đồ giúp các đạo trưởng th́ phải chém đầu.

Các cụ đạo bản quốc cũng phải chém đầu. Các giáo đồ theo các cụ đạo này th́ phải thích chữ vào mặt và phát lưu.

Phải đốt cho sạch các nhà thờ nhà xứ "

Lịch sử c̣n ghi lại những h́nh phạt mà người ta đă nghĩ ra và đă dùng để phạt những người theo đạo như sau:

- Nhẹ nhất là bị gông cùm. Bị xiềng xích, bị nhốt trong cũi, bị đánh đ̣n, bị bỏ đói cho tới chết.

- Nặng hơn một chút th́ bị voi dầy, bị trói ném xuống sông, bị chôn sống, bị đổ dầu vào rốn rồi cho bấc vào mà đốt, bị đóng đinh vào ván rồi đem phơi nắng.

- Quyết liệt hơn một chút th́ bị xử trảm, xử giảo (thắt cổ) và thiêu sống.

- Ác liệt nhất là bị xử lăng tŕ (phân thây ra từng mảnh) hay bá đao (bị xẻo từng mảnh thịt cho tới chết)

Tôi xin trích ra đây một đoạn trong bản báo cáo về việc xử Cha cố Du tại Thợ Đức ngày 30-11-1835:

"Họ cột chân tay Ngài vào một cây cột. Hai bên lính cầm ḱm chờ sẵn. Sau hồi chuông báo hiệu, tên lính cầm ḱm đă được nung đỏ kẹp vào ngực kéo ra hai miếng thịt nơi vú liệng xuống đất. Tên khác cầm dao xẻo thịt phía sau hông - rồi đến dùi th́ chúng lấy ḱm kéo thịt ra rồi dùng lưỡi dao xẻo đứt từng miếng. Cha ngất đi, đầu rũ xuống và Ngài tắt hơi về chầu Chúa lúc 17giờ.

Cha chết rồi, lính chặt đầu Ngài cho vào một chiếc thùng đầy vôi... đoạn họ cởi trói lật úp xác xuống, phân thây ra từng khúc bỏ vào thùng vôi. Tiếp theo họ lấy đầu đầu của ngài treo giữa chợ ba ngày... rồi lấy xuống nghiền nát ra bỏ vào thùng đựng xác rối vất tất cả xuống biển cho mất tích"

Vâng, kính thưa anh chị em,

Gian khổ có cao, h́nh phạt có nặng nhưng ḷng thành của các Ngài c̣n cao hơn. Cái chết của các Ngài thật đáng làm cho chúng ta phải tự hào. Trong sắc phong chân phước cho 64 anh hùng tử đạo Việt Nam ngày 27-5-1900 Chính Đức Thánh Cha Léo XIII đă nói về các Ngài với tất cả ḷng khâm phục như sau: "Đây là những chiến sĩ trung liệt và kiên cường không kém ǵ những chiến sĩ ngày xưa vào những thế kỷ khai nguyênh của Giáo Hội Chúa Kitô".

2. Tâm t́nh thứ hai là ḷng biết ơn.

Việc mừng lễ hôm nay làm tôi nhớ lại những lời rất cảm động sau đây của Chúa Giêsu: "Kẻ gieo người gặt đều vui mừng. Kẻ này gieo, người kia gặt. Thầy sai các con đi gặt những ǵ chúng con không vất vả làm ra. Những kẻ khác đă khó nhọc, c̣n các con thừa hưởng công lao khó nhọc của họ" (Jn 4,36-37).

Sử gia Tertulianô ngày xưa khi nh́n lại những năm trời Giáo Hội bị bách hại và những cuộc trở lại đạo hàng loạt sau đó, ông đă phải viết lên những lởi rất rất đáng cho chúng ta suy nghĩ như thế này: "Những hạt máu của những vị tử đạo là những hạt giống làm nảy sinh ra những người Kitô hữu khác"

Hàng trăm ngàn các anh hùng Tử Đạo Việt Nam của chúng ta đă vất vả khó nhọc gieo văi. Các Ngài đă gieo văi không phải là những hạt giống thông thuờng nhưng bằng những giọt máu của các Ngài. Và chính nhờ những giọt máu này mà chúng ta mới được như ngày hôm nay.

Chúng ta phải tạ ơn Chúa v́ Chúa đă cho chúng ta có được những con người anh hùng như thế. Đồng thời chúng ta cũng phải biết ơn các Ngài v́ chính nhờ các Ngài mà hạt giống đức tin đă nảy mầm và lớn lên trong chúng ta.

3. Tâm t́nh thứ ba là bổn phận phải sống làm sao cho xứng đáng với danh nghĩa con cháu của những anh hùng.

Châm ngôn Việt Nam có câu rất hay: "Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh"

Phải sống xứng đáng để những thế hệ mai sau khi nh́n vào thế hệ này, họ cũng cảm thấy tự hào.

Năm 1934 khi nhắn nhủ một số các em nhỏ đến mừng sinh nhật của ḿnh nhà bác học bổi danh nhất của thế kỷ thứ 20, Albert Einstein đă nói với các cháu những lời cảm động như sau: "Các cháu nên nhớ rằng những điều kỳ diệu các cháu được học ở trường là do công lao của biết bao thế hệ trên khắp thế giới đă hăng hái gắng sức và cặm cụi làm việc không ngừng rồi truyền lại cho các cháu như một di sản để cho các cháu tiếp nhận, tôn trọng, tăng gia thêm và một ngày nào đó các cháu sẽ lại trung thành truyền lại cho con cháu các cháu. Nhờ vậy mà chúng ta, những con người hữu sinh hữu tử mới thành bất tử trong những vật trường tồn mà chúng ta tạo chung với nhau"

Chúng ta đang thừa hưởng một di sản vô cùng quí giá do cha ông chúng ta để lại. Cách trả ơn tốt nhất đối với các Ngài là tiếp nhận và trung thành truyền lại cho các thế hệ mai sau.

Nhưng truyền lại bằng cách nào?

- Thưa bằng chính cuộc sống mà tổ tiên của chúng ta đă sống.

Văn hào Tagore khi bàn về cái chết của Thánh Gandhi, đă nói: "Có lẽ thánh Gandhi không thành công, có lẽ thánh sẽ thất bại như Đức Thích Ca đă thất bại, như Đức Giêsu đă thất bại v́ chưa hủy diệt được ḷng ác độc của loài người. Nhưng loài người luôn nhớ tới thánh v́ thánh đă đem đời ḿnh ra để làm bài học cho muôn thế hệ mai sau"

a- Bài học đầu tiên mà mỗi người chúng ta phải noi gương bắt chước đó là phải trung thành với niềm tin.

Đức tin là ơn nhưng không Thiên Chúa ban cho chúng ta. Hăy bảo vệ lấy, đừng để cho nó bị hao ṃn đi.

Phaolô Mợi bị bắt, bị giải đến quan. Quan dụ:

- Anh đạp ảnh đi, tôi sẽ cho anh một nén bạc.

-... ... ... ... ... ... ... ... ..?

- Vậy một nén vàng!

- Bẩm quan chưa đủ.

- Vậy anh muốn bao nhiêu?

- Bẩm quan lớn, quan lớn muốn cho tôi quá khóa th́ quan phải cho tôi đủ vàng để mua được một linh hồn khác.

Nguyễn văn Lựu: "Đạo đă nhập vào xương tủy tôi, làm sao tôi có thể bỏ được."

b- Bài học thứ hai phải can đảm sống niềm tin đó.

Trong một bài diễn văn đọc cho binh lính trước khi họ lâm trạn. Hitler đă nói: "Thế giới này sẽ thuộc về những kẻ gan dạ"

Victor Hugo: "Đồi Calvario ở đầu đường và hào quang cũng xuất hiện ở đó"

Chúa Giêsu: "Nước Trới phải dùng sức mạnh mà chiếm lấy"

Không có chiến thắng cho những kẻ chưa lâm trận đă đầu hàng.

Không có vinh quang cho những kẻ hèn nhát.

Phần thưởng càng lớn, vinh quang càng cao th́ cái giá phải trả cho nó càng đắt.

Phải xử dụng sức mạnh mới chiếm hữu được Nước Trời.

Lời cuối cùng của tôi. Tôi xin mượn lời của Thánh Phaolô gửi cho tín hữu Roma. Ngài gửi những lời này cho họ vào lúc cơn bắt bớ đạo giáo tại đó bắt đầu trở thành khốc liệt. Ngài muốn dùng những lời này để khích lệ họ, để họ can đảm, để họ tin tưởng vào chiến thắng cuối cùng: "Ai có thế tách chúng ta ra khỏi t́nh yêu của Đức Kitô? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo?

Ngài nói tiếp như một xác tín: “Trong mọi thử thách, chúng ta sẽ toàn thắng nhờ Đấng đă yêu mến chúng ta" Và Ngài kết luận: "Tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, chiều cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thụ tạo nào khác, không có ǵ tách được chúng ta ra khỏi t́nh yêu của Thiên Chúa được thể hiện nơi Đức Kitô Chúa chúng ta" (Rom 8,35-39). Amen.