|| Trang Chủ || Chia sẻ || Tập san || Thông hiệp ||

 

SUY NIỆM CHÚA NHẬT 28 THƯỜNG NIÊN - Năm C

Lời Chúa: 2V 5,14-17; 2Tm 2,8-13; Lc 17,11-19

 

MỤC LỤC

1. Biết ơn.

2. Đón nhận ơn cứu độ – ĐTGM. Ngô Quang Kiệt.

3. Chín người kia đâu?.

4. Ưu tiên cho việc tạ ơn - Achille Degeest

5. Hăy dâng lời ngợi khen và tạ ơn Thiên Chúa.

6. Tất cả là hồng ân.

7. Mười người phong hủi - McCarthy.

8. Suy niệm của William Barclay.

9. Chú giải mục vụ của Hugues Cousin.

10. Chú giải của Noel Quesson.

11. Đức tin đích thực - R. Gutzwiller

12. Chú giải của Fiches Dominicales.

13. Đức tin của con đă cứu con.

14. Đức tin của con đă cứu con.

15. Ḍng suối ân t́nh.

16. Ḷng biết ơn.

17. Biết ơn.

18. Cám ơn.

19. Niềm tin.

20. Suy niệm của JKN

 

1. Biết ơn

Trong cuốn "Nói với chính ḿnh" Đức Cha Bùi Tuần có viết: Tôi rất thích chó v́ chó biết ơn. Dầu chỉ nhận được một cục xương, chó cũng tỏ vẻ biết ơn. Chủ đi đâu về, chó cũng vẫy đuôi mừng rỡ. Trong khi đó, con người vô ơn lăi là chuyện b́nh thường.

Một sự kiện khác cũng khiến chúng ta phải ngạc nhiên không ít: một số người Việt Nam từ hải ngoại trở về thăm quê hương đă đưa ra nhận xét như sau: Dầu cố gắng che giấu đến đâu cái tông tích Việt kiều của ḿnh, th́ cái tông tích ấy vẫn cứ bị lộ ra. Và oái oăm thay, cái tông tích ấy được thể hiện không phải qua cách mua sắm tiêu xài hay qua cách phục sức, mà gắn liền với một chi tiết rất tầm thường. Người ta nhận ra họ bởi v́ họ là những người luôn miệng nói lên hai tiếng "cám ơn". Nếu quả thực hai tiếng cám ơn đă trở thành quư hiếm trên môi miệng người Việt Nam hiện nay, th́ điều này hẳn phải là một báo động đáng lo ngại. Đó có thể là dấu hiệu của sự khô cạn t́nh người trong xă hội chúng ta đang sống.

Thực vậy, khi ơn nghĩa đă bị chối bỏ, th́ dĩ nhiên sự ràng buộc và t́nh liên đới cũng trở thành mong manh. Một khi t́nh người bị chối bỏ, th́ tất nhiên niềm tin tôn giáo cũng sẽ chỉ là chuyện thừa thăi mà thôi.

Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta đào sâu ư nghĩa của ḷng biết ơn trong cuộc sống con người. Trong số mười người được chữa lành, th́ chỉ có một người quay lại ngợi khen Thiên Chúa, rồi đến sấp ḿnh dưới chân Chúa Giêsu mà tạ ơn Ngài. Chúa Giêsu hẳn đă chua xót trước sự vô ơn của con người khi thốt lên: Chớ th́ không phải cả mười người được lành sạch sao? C̣n chín người kia đâu sao không thấy ai trở lại tôn vinh Thiên Chúa mà chỉ có người ngoại này mà thôi. Tỷ lệ quá thấp, chỉ có một phần mười. Và một phần mười ấy theo Chúa Giêsu nhận xét lại là thành phần ngoại giáo. Mặc dù là goại giáo theo nghĩa tôn giáo, nhưng lại rất có đạo theo nghĩa đạo làm người. Mà bởi đạo làm người cũng là thể hiện của đạo Chúa, cho nên người ngoại giáo Samaria này, theo cái nh́n của Chúa Giêsu, hẳn phải là người có đạo hơn chín người Do Thái kia, bởi v́ người này đă thực thi cái nhân đức cao quư nhất của con người là ḷng biết ơn.

Con người không thể là người một cách sung măn mà không cần đến người khác. Nói lên hai tiếng cám ơn là nói lên t́nh liên đới thâm sâu giữa người với người. Tôi không thể là tôi nếu không có người khác. Tôi cần có người khác để sống hoàn thiện, để được hạnh phúc. Từ cha mẹ tôi, gia đ́nh tôi, những người thân thích của tôi cho đến cả những kẻ thù của tôi...Tất cả đều đă đóng góp vào sự trưởng thành của tôi. Không ai nghèo đến độ không có ǵ để trao tặng. Cuộc đời là một chuỗi những lănh nhận, từ sự sống cho đến những thành đạt. Không có ǵ chúng ta đang có mà không do lănh nhận từ người khác. Do đó biết ơn là một đ̣i hỏi thiết yếu nhất của trái tim con người. Không có lời rủa sả nào thậm tệ bằng ba tiếng: Đồ vô ơn. Hơn nữa, ḷng biết ơn c̣n là con đường dẫn chúng ta đến gặp gỡ Thiên Chúa, Đấng là cội nguồn mọi ơn huệ.

Người Samaria được chữa lành, đă ngợi khen Thiên Chúa và sấp ḿnh dưới chân Chúa Giêsu mà tạ ơn Ngài. Như vậy, ḷng biết ơn chính là nẻo đường dẫn anh đến gặp gỡ với Thiên Chúa. Sống cho ra người, sống cho có t́nh nghĩa, đó là con đường bảo đảm nhất dẫn chúng ta đến cùng Thiên Chúa. Vô thần, xét cho cùng, cũng chỉ là vô ơn, bởi v́ kẻ chối bỏ Thiên Chúa th́ dĩ nhiên cũng sẽ chối bỏ người đồng loại của ḿnh.

 
 

2. Đón nhận ơn cứu độ – ĐTGM. Ngô Quang Kiệt.

Chúa Giêsu đang trên đường lên Giêrusalem để chịu khổ h́nh, hoàn thành việc cứu độ. Chính lúc đi ngang qua Samaria, nhất là qua việc cứu chữa mười bệnh nhân phong, Chúa cho thấy một vài đặc điểm của ơn cứu độ.

Ơn cứu độ là phổ quát.

Chúa muốn cứu độ hết mọi người không loại trừ ai. Nên Chúa đi qua Samaria. Samaria là vùng đất cấm kỵ đối với người Do Thái. Đó là vùng đất ngoại đạo. Đó là vùng đất ô uế. Người Do Thái và người Samaria không giao thiệp với nhau. Nhưng Chúa đă vượt qua ranh giới cấm kỵ đó. Chúa muốn đem ơn cứu độ đến cho mọi người. Tại Samaria Chúa c̣n gặp gỡ mười người phong cùi. Lại một cấm kỵ nữa. Người phong cùi vốn bị coi là hạng người tội lỗi, ô uế. Ai gặp họ đều trở nên ô uế. Họ bị loại trừ ra khỏi đời sống xă hội. Tại Samaria, những người phong cùi là những người ở tầng lớp cuối cùng của xă hội. Chúa đem ơn cứu độ cho mọi người, kể cả những người bị khinh miệt nhất, bị quên lăng nhất, bị hất hủi nhất. Ơn cứu độ Chúa ban cho tất cả mọi người. Trước mặt Chúa mọi người đều b́nh đẳng.

Ơn cứu độ là nhưng không.

Không ai dám nghĩ đến việc mời Chúa xuống trần gian. Không ai có công trạng ǵ khiến Chúa phải xuống trần gian để tưởng thưởng hay để đền đáp. Chúa xuống trần gian hoàn toàn do ḷng nhân từ yêu thương của Chúa. Cũng thế, người Samaria hoàn toàn bất ngờ khi Chúa đến miền đất của họ. Những người phong cùi lại càng không bao giờ dám mơ tưởng tới. Bản thân họ đă bị lên án, bị loại trừ rồi. Ngay việc gặp một người b́nh thường đă không được phép, huống chi là gặp gỡ Chúa. Nhưng Chúa đă đến gặp gỡ họ, ban ơn cứu chữa họ. Hoàn toàn nhưng không. Họ chẳng có công ǵ. Họ chẳng có quyền đ̣i hỏi ǵ. Họ chỉ có nỗi đau khổ tột cùng. Chính nỗi đau khổ đó đă khơi dậy ḷng yêu thương của Chúa. V́ Chúa là t́nh yêu thương.

Ơn cứu độ phải được đón nhận với niềm tin.

Tuy ơn cứu độ được ban rộng răi và nhưng không, nhưng để đón nhận đ̣i phải có niềm tin. Những người phong cùi hôm nay đă bày tỏ niềm tin qua hai thái độ. Thái độ thứ nhất là đồng thanh lớn tiếng kêu cầu danh Chúa Giêsu: “Lạy Thày Giêsu, xin cứu chúng tôi”. Danh Thánh Giêsu có nghĩa là Thiên Chúa cứu. Từ cùng tận nỗi đau khổ, những người phong cùi đă kêu van bằng tất cả tấm ḷng tha thiết và với niềm tin vững chắc. Chỉ có Chúa mới thương xót họ. Chỉ có Chúa mới đủ quyền năng cứu chữa họ. Thái độ thứ hai là đi tŕnh diện với thày tư tế. Chúa không chữa họ ngay nhưng bảo họ đi tŕnh diện với thày tư tế. Dù chưa được khỏi, nhưng họ vẫn tin tưởng lên đường. Đang khi đi đường th́ họ được khỏi. Đức tin đă chữa họ.

Ơn cứu độ phải được đón nhận với niềm vui.

Đây là niềm vui trong mối tương giao giữa Thiên Chúa với con người. Cốt lơi của ơn cứu độ là thiết lập mối tương giao, cho con người được trở nên con cái Thiên Chúa, đồng hưởng hạnh phúc với Chúa. Đó là cội rễ của niềm vui, niềm hạnh phúc. Chín người bệnh không trở lại chỉ có niềm vui được khỏi bệnh, nhưng không có niềm vui trong mối tương giao với Thiên Chúa. Họ có đức tin cầu xin nhưng thiếu đức tin gặp gỡ với Thiên Chúa. Niềm vui được khỏi bệnh rồi cũng sẽ nhạt phai. Chỉ có một người trở lại tạ ơn. Anh trở lại v́ mối tương giao. Anh nhận biết nguồn gốc niềm vui của ḿnh. Anh sụp lạy Chúa v́ biết nguồn gốc hiện hữu của ḿnh. Anh đă t́m thấy nguồn cội ư nghĩa đời ḿnh. Niềm vui của anh sẽ c̣n măi măi. Đời anh sẽ là một đời tạ ơn không ngừng.

Lạy Chúa, xin cho con biết t́m đến gặp gỡ Chúa để tạ ơn Chúa. Chính niềm vui tạ ơn này đem đến cho con hạnh phúc suốt đời con. Amen.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

1) V́ sao Chúa ban ơn cứu độ cho ta và ta phải đón nhận với thái độ thế nào?

2) Đức tin cầu xin và đức tin gặp gỡ Chúa khác nhau thế nào? Bạn đă tiến đến đâu trong đời sống đức tin?

3) Có những miền đất, những con người nào mà bạn coi là cấm kỵ khiến bạn chưa dám tiếp cận không? Với gương Chúa Giêsu hôm nay, bạn sẽ làm ǵ?

4) Biết ơn rất cần trong đời sống tự nhiên. Bạn có biết ơn trong đời sống siêu nhiên không?

 
 

3. Chín người kia đâu?

Suy Niệm

Mười người phong đón gặp Đức Giêsu. Họ chỉ dám đứng xa, nài xin Ngài thương xót. Đức Giêsu không chữa cho họ ngay, Ngài muốn thử thách ḷng tin của họ. Ngài bảo họ hăy đi tŕnh diện với các tư tế như thể họ đă được khỏi bệnh rồi. Mười người phong đă vâng phục lên đường, và chính trên đường đi, tất cả được khỏi bệnh.

Niềm vui bất ngờ ùa vào ḷng mọi người. Cả nhóm tiếp tục cuộc hành tŕnh, trừ một người phong ở vùng Samari.

Ḷng biết ơn đối với Đức Giêsu khiến anh quay lại, sấp ḿnh dưới chân Ngài mà tạ ơn.

Chín người kia đâu?

Đức Giêsu ngạc nhiên đặt câu hỏi.

Chắc họ đă đi tŕnh diện các tư tế như lời Đức Giêsu, nhưng họ quên Đấng mới ban ơn cho họ.

Họ vui mừng ngừng lại ở quà tặng, nhưng không vươn tới người tặng quà.

Họ đă có ḷng tin nên được khỏi bệnh, nhưng họ lại thiếu ḷng biết ơn cần thiết.

Ḷng biết ơn khiến ḷng tin trở nên sâu xa hơn, v́ là gặp lại chính Đấng đă ban tặng.

Chín người kia đâu?

Đức Giêsu không làm phép lạ để được biết ơn. Ngài mong những người kia trở lại để gặp họ, và trao cho họ chính con người Ngài. Điều này c̣n quư hơn cả ơn được khỏi bệnh.

Ơn lành bệnh chỉ là nhịp cầu để ta gặp gỡ Đấng ban ơn, và lớn lên trong niềm tin cậy mến.

Chín người kia đâu?

Có khi tôi thường thuộc về nhóm chín người. Tôi quá quen với những ơn Chúa ban, đến độ thấy đó là chuyện b́nh thường, đến độ không thấy cần phải tỏ ḷng biết ơn.

Thật ra, biết ơn phải là tâm t́nh chủ yếu chi phối lời cầu nguyện và cuộc sống của tôi.

Toàn bộ đời tôi là một hồng ân, một quà tặng. Tôi muốn sống đời tôi như một lời tạ ơn không ngừng.

Tạ ơn là măn nguyện về những ǵ đă lănh nhận, là thấy ḿnh được bao bọc bởi T́nh Yêu, và muốn làm mọi sự để đáp lại T́nh Yêu đó.

Người phong vùng Samari đă trở lại tôn vinh Thiên Chúa, v́ Ngài đă chữa anh lành bệnh qua Đức Giêsu.

Chúng ta cũng đă nhận được biết bao ơn Chúa từ tay những người xa lạ hay thân quen.

Xin cám ơn cuộc đời, cám on mọi người.

Đời tôi là quà tặng của Chúa cho tôi. Ước ǵ nó thành quà tặng của tôi cho mọi người.

Gợi Ư Chia Sẻ

Ngày nay người ta nói nhiều về ḷng biết ơn đối với thầy cô, cha mẹ. Theo bạn, tại sao nhiều bạn trẻ vẫn sống một cách lănh đạm, vô ơn?

Có khi nào bạn tạ ơn Chúa v́ những khó khăn và vấp ngă trong cuộc sống không? Bạn có thấy những mảng tối trong đời bạn cũng có thể là một ơn không?

Cầu Nguyện

Con tạ ơn Cha v́ những ơn Cha đă ban cho con, những ơn con thấy được, và những ơn con không nhận là ơn.

Con biết rằng con đă nhận được nhiều ơn hơn con tưởng, biết bao ơn mà con nghĩ là chuyện tự nhiên.

Con thường đau khổ v́ những ǵ Cha không ban cho con, và quên rằng đời con được bao bọc bằng ân sủng.

Tạ ơn Cha v́ những ǵ Cha cương quyết không ban bởi lẽ điều đó có hại cho con, hay v́ Cha muốn ban cho con một ơn lớn hơn.

Xin cho con vững tin vào t́nh yêu Cha dù con không hiểu hết những ǵ Cha làm cho đời con.

 
 

4. Ưu tiên cho việc tạ ơn - Achille Degeest

Theo lề luật Do thái, bệnh phong hủi phải được một tư tế kiểm chứng và kẻ bất hạnh bị tuyên bố là ‘ô uế’, bị gạt ra ngoài lề xă hội, nói với ai phải đứng đàng xa. Tên bệnh ấy thời xưa chỉ nhiều chứng bệnh ngoài da. Lâu lâu có người khỏi bệnh, họ cũng phải được một tư tế kiểm chứng, sau đó được trở về sinh hoạt b́nh thường. Như vậy, chúng ta hiểu tại sao Đức Giêsu dạy mười kẻ tật phong hăy đi tŕnh diện các tư tế để được nh́n nhận lành bệnh. Trong số mười bệnh nhân, chỉ có mỗi một kẻ trở lại tạ ơn Thiên Chúa. Sau khi nêu rơ sự vô ơn của chín bệnh nhân kia, Chúa nhấn vào ba điểm: Kẻ biết ơn quê xứ Samaria, nghĩa là một kẻ ngoại giáo đối với người Do thái –kẻ ấy công khai tôn vinh Thiên Chúa– và được chữa lành v́ có đức tin. Một số người nghĩ rằng, Chúa giải thích như vậy, phải chăng Người muốn gián tiếp xác nhận thần tính của Người. Dẫu sao chúng ta có thể nêu ra hiểm họa tội vô ơn nấp trong ḷng người ta, nó là h́nh thức gớm ghiếc nhất của tính ích kỷ. Chúng ta cũng nhấn thêm vào bổn phận cảm tạ Thiên Chúa.

1) Tại sao chín kẻ phong hủi không nghĩ đến việc phải làm trước hết là trở lại tạ ơn Đức Giêsu?

Chắc hẳn họ hấp tấp muốn được xác nhận khỏi bệnh thật sự để sớm trở về trong xă hội. Họ quan tâm trước nhất đến việc đó, họ chỉ biết nghe theo tư lợi mà quên bẵng việc tạ ơn, hoặc giả nghĩ rằng tạ ơn sau cũng được, nghĩa là sẽ tạ ơn vào lúc quá muộn. Giữa một bên là quyền lợi về mặt xă hội v́ khỏi bệnh, bên kia là tâm t́nh muốn tạ ơn tức khắc, họ đặt ưu tiên cho quyền lợi của họ. Đức Giêsu tỏ thái độ bằng cách lên án chủ nghĩa h́nh thức, nó bóp nghẹt tâm hồn. Chúa c̣n lên án như vậy nhiều lần nữa, nhất là khi nói đến ngày Hưu lễ. Không bao giờ Chúa coi rẻ Lề Luật, nhưng Người cho biết tín hữu nào tuân thủ Lề Luật mà thiếu đức tin sống động th́ chẳng c̣n giữ được t́nh nghĩa con người. Chúng ta kết luận: Nếu v́ tuân thủ Lề Luật, dẫu là Lề Luật Kitô giáo, mà quên mất những đức tính tự nhiên hoặc không nhớ đến sự khẩn thiết trước tiên của đời sống nội tâm –con người lúc đó không c̣n giữ được tinh thần tuân thủ đích thực.

2) Bổn phận tạ ơn.

Theo định nghĩa tôn giáo; tạ ơn là tâm t́nh biết ơn, thán phục, tôn vinh, sùng kính, dâng lên Thiên Chúa. Phúc Âm và Tân Ước tŕnh bày Đức Giêsu là hiện thân của sự tạ ơn. Phúc Âm cho thấy con người ít có xu hướng tạ ơn không vị lợi, trong khi Đức Giêsu th́ thường xuyên trong trạng thái tạ ơn Cha Người. Theo lời khuyên của thánh Phaolô, thái độ gương mẫu của Đức Giêsu phải là thái độ tất nhiên của người Kitô hữu. “Anh em hăy để cho ḷng chan chứa niềm tri ân cảm tạ” (Cl 2,7) – v́ nhiều lẽ: v́ ân huệ đức tin, v́ ơn cứu chuộc, v́ đức ái của Đức Kitô tràn đầy tâm hồn, v́ Thánh Thần ngự trong Kitô hữu. Sống kết hợp với Đức Kitô là sống trong niềm tạ ơn Thiên Chúa.

 
 

5. Hăy dâng lời ngợi khen và tạ ơn Thiên Chúa

(Trích trong ‘Mở Ra Những Kho Tàng’ - Charles E. Miller)

Thánh Lễ lớn lao là hành động trung tâm tôn giáo của chúng ta là những người Công giáo. Bởi v́ Thánh Lễ là hành động của Đức Kitô Thượng Tế và Thân Thể Ngài là Giáo Hội, đó là một tác động thánh vượt trên hết cả mọi cái khác. Không có ǵ có thể ngang với sức mạnh quyền năng của Thánh Lễ, có thể thay thế sự quan trọng của Thánh Lễ (x. Hiến chế về phụng vụ, đoạn 7).

Thánh Lễ th́ giàu có phong phú mà chúng ta không có thể nào lưu lại hoặc nghĩ về trong một dấu hiệu đơn độc. Thánh Lễ là một hy tế không đổ máu của thánh giá, đó là bữa ăn tối của chúng ta, đó là việc tưởng nhớ sống động về mầu nhiệm Vượt Qua, và bí tích của sự chết và sự sống lại của Đức Kitô, đó là Thân Ḿnh thật của Ngài đă được tuôn đổ v́ chúng ta, đó là bữa tiệc thánh mà trong đó Đức Kitô đă tiêu hủy Ḿnh hoàn toàn, đó là những lời nài xin và lời hứa từ sự Phục Sinh và cuộc sống đời đời. Giữa những chỉ định rực rỡ này của Thánh Lễ, nhiều vị tư tế và dân chúng kể từ Công đồng Vatican II đă thường sử dụng một từ, từ đó là”hy tế Thánh Thể, Euchris”.

Euchris là một từ Hy lạp được dùng trong Tân Ước mà chúng ta đă chuyển dịch sang là: “Dâng lời tạ ơn”. Dâng lời tạ ơn có liên quan đến sự biết ơn mà chúng ta mắc nợ trong thời gian nơi bạn bè, cũng như nơi liên hệ của chúng ta với Thiên Chúa; v́ lư do này vị linh mục đọc: “Hăy để chúng ta dâng lời tạ ơn Chúa là Thiên Chúa chúng ta”. Đáp lại: “Thật chính đáng để dâng lên Ngài lời tạ ơn và ngợi khen” và thêm lời”ngợi khen” là để chúng ta biết ḿnh phải dâng lời tạ ơn lên Thiên Chúa. Chúng ta nhận biết rằng quan hệ của chúng ta với Cha trên trời, Đấng là Chúa và là Thiên Chúa chúng ta.

Hăy nhớ dâng lời tạ ơn là việc tốt đẹp, đừng để cho việc đó trở nên xấu xa. Khi một người trong mười người bị bệnh hủi đă được chữa lành trở lại ngợi khen Thiên Chúa, Chúa Giêsu đă hỏi: “C̣n chín người kia đâu?”. Chúng ta hầu như có thể nghe lại câu hỏi thất vọng của Ngài. Chúng ta cũng không cần làm thất vọng Chúa Giêsu và Cha của Người. Hăy nhớ rằng Thánh Lễ là hy tế tạ ơn của chúng ta là lời tạ ơn của chúng ta dâng cho Thiên Chúa.

Tất cả chúng ta đều có lư do để dâng lời tạ ơn Thiên Chúa trong Thánh Lễ. Hôm nay chúng ta có thể ước ao cám ơn Chúa v́ đặc ân sự sống nơi một em bé sơ sinh, hoặc chúc sức khỏe đă được phục hồi nơi một người già lăo bệnh hoạn. Chúng ta cũng có thể dâng lời tạ ơn Thiên Chúa về công việc sau một thời gian dài thất nghiệp, cho một giải pháp nơi một gia đ́nh đang tranh căi, hoặc cho một sự độ lượng của một người bạn tốt. Mỗi Chúa Nhật chúng ta cần hồi tâm lại về những động lực cá nhân của chúng ta để dâng lời cám ơn. Tiếp đó, chúng ta hăy nhớ rằng luôn luôn ở mọi nơi, mọi lúc là phải tạ ơn Thiên Chúa, đơn giản bởi v́ Chúa là Thiên Chúa của chúng ta. Dâng lời tạ ơn diễn tả quan hệ của chúng ta với Thiên Chúa.

Tạ ơn là một điều mà Naaman người Syria đă muốn dâng lên Thiên Chúa. Ông đă được tẩy sạch bệnh phong cùi sau khi đă tắm bảy lần trong ḍng nước của sông Giođan. Ông đă yêu cầu lấy hai thúng đất của Israel để xây nên một Đền Thờ trên Syria, nơi quê hương của ông, để từ nơi đó ông có thể dâng lời tạ ơn với Thiên Chúa. Kinh nghiệm của ông như là một dấu hiệu của phép rửa chúng ta. Chúng ta đă rửa sạch trong phép rửa và đă được thông dự vào chức tư tế của Đức Kitô. Phép rửa kêu gọi chúng ta trở thành một dân thờ lạy Thiên Chúa, dâng cho Ngài lời tạ ơn và ngợi khen. Nhưng chúng ta không cần đất đặc biệt, không cần một vị trí đặc biệt, để dâng lời tạ ơn cho Thiên Chúa. Bất cứ khi nào Thánh Lễ cử hành, đó là lễ dâng đẹp nhất của lời cám ơn và ngợi khen Thiên Chúa. Đối với chúng ta luôn luôn mọi nơi và mọi lúc đều có thể dâng lời cám ơn Thiên Chúa và chúng ta làm điều đó khi cử hành hy tế Thánh Thể.

 
 

6. Tất cả là hồng ân

(Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’)

Đầu tháng 10 năm 1962, chiếc phi cơ hàng không Panam (Mỹ), chở mấy trăm Giám mục người Mỹ đi họp Công Đồng chung Vatican II. Trong hai cô tiếp viên hàng không phục vụ hành khách, có một cô kiều diễm tuyệt vời. Đức Cha Fulton Sheen, Tổng Giám Mục giáo phận New York đồng thời là một nhà văn và một nhà hùng biện nổi tiếng Nước Mỹ, đă lưu ư đến sắc đẹp của cô tiếp viên nầy.

Thế rồi, khi phi cơ hạ cánh, hai cô đứng bên cửa xuống cầu thang chào từ biệt và hành khách đáp lại hai tiếng cám ơn. Nhưng đến lượt Đức Cha Fulton Sheen, người ta thấy ngài đưa miệng ghé vào tay cô tiếp viên xinh đẹp kia mà nói nhỏ một câu ǵ không ai nghe được.

Bốn tháng sau, khi khóa I Công Đồng chung Vatican II kết thúc, các Giám Mục được về nước nghỉ. Một hôm, cô chiêu đăi viên xinh đẹp nọ t́m đến gặp Đức Cha Fulton Sheen: “Thưa Đức Cha, Đức Cha c̣n nhớ con là ai không?” – “Tôi c̣n nhớ lắm, Đức Cha c̣n đáp. Cô là tiếp viên trên chiếc hàng không đưa chúng tôi đến Rôma”. – “Nhưng Đức Cha c̣n nhớ Đức Cha đă nói ǵ với con không?” – “Tôi đă nói: có khi nào cô đă tạ ơn Chúa v́ Ngài đă ban cho cô sắc đẹp tuyệt vời không?” – “Thưa Đức Cha, chính v́ câu hỏi đó mà hôm nay con đến hầu chuyện Đức Cha, chính v́ câu hỏi đó mà Cha nghĩ con phải làm ǵ để tạ ơn Chúa?”. Trước câu hỏi đột ngột, Đức Cha Fulton Sheen lúng túng không biết trả lời làm sao. Ngài trấn tỉnh, chấp tay lên ngực, rồi ngước mắt lên trời như thể xin ơn soi sáng. Trong chốc lát, ngài nói: “Cha vừa mới được một tin từ Việt Nam: đó là Đức Cha Jean Cassaigne, một người Pháp đang là Giám Mục giáo phận Sài G̣n, đă xin từ chức để đi phục vụ một trại phong cùi ở miền núi Di Linh – Lâm Đồng. Nhưng người phong cùi ở đó khốn khổ lắm con ạ! Họ đang chờ cái chết đến với họ. Vậy theo ư cha, cách tạ ơn Chúa đẹp ḷng Ngài hơn cả và có ư nghĩa hơn cả là con hăy hy sinh một thời gian, đem nụ cười xinh tươi, đem tiếng nói dịu dàng, đem duyên sắc mặn mà của con để an ủi họ”. Mặt cô tiếp viên tái dần đi. Cô đứng lặng yên trong mấy phút. Đột nhiên cô cúi đầu tạm biệt không nói một lời. Rồi từ đó không biết hai người c̣n gặp nhau hay thư từ liên hệ ǵ nữa chăng. Nhưng đầu năm 1963, đài phát thanh cũng như báo chí ở Sài G̣n loan tin: “Một nữ tiếp viên rất xinh đẹp của hăng hàng không Panam t́nh nguyện đến Di Linh – Lâm Đồng để sống với những người phong cùi trong sáu tháng”.

Thưa anh chị em,

Cái nh́n đức tin thúc đẩy chúng ta tạ ơn Chúa là như thế đó. Nhận được ơn th́ phải biết chia sẻ cho người khác, để nói với Thiên Chúa và anh em ḿnh rằng: “Tất cả đều là hồng ân”. Biết bao ơn lành lớn nhỏ Chúa tuôn đổ xuống trên cuộc đời chúng ta. Có bao giờ chúng ta nhận ra những hồng ân ấy để dâng lên những lời cảm tạ mỗi ngày không? Những điều chúng ta đang có tưởng rằng tầm thường, nhưng thật ra lại rất phi thường. Đừng đợi khi mắt mù, tai điếc, cụt tay, què chân chúng ta mới nhận ra có thân thể lành lặn là quư giá vô cùng. Nếu chúng ta biết cám ơn những ǵ ḿnh đang có, chúng ta sẽ biết cám ơn suốt đời v́ tất cả những ǵ Ngài đă ban cho.

Chúa Giêsu đă hỏi: “Không phải cả mười người được khỏi phong cùi sao? Thế th́ chín người kia đâu, sao không trở lại tạ ơn Chúa, mà chỉ có một người ngoại giáo nầy thôi?” Đối với người Do Thái, người bị phong cùi được coi như bị Thiên Chúa chúc dữ và c̣n bị luật coi là người mắc ô uế nhơ bẩn, bị xă hội khai trừ, phải sống biệt lập trong băi tha ma, đi đâu th́ phải lắc chuông lên tiếng báo động cho người ta xa tránh.

Nhưng Chúa Giêsu không xa tránh họ. Họ đă đến với Chúa như Chúa đến với họ. V́ Ngài là t́nh thương cứu chữa. Chỉ có t́nh thương mới t́m đến với những con người bị bỏ rơi, bị loại trừ. Trên đất nước chúng ta có hàng chục trại phong cùi. Một số trại do các tu sĩ, nữ tu đảm nhận điều hành, chăm sóc các bệnh nhân. Nếu ở Việt Nam tên tuổi của Đức Cha Jean Cassaigne gắn liền với trại phong cùi Di Linh th́ danh tiếng của Đức Cha Đamien c̣n vang vọng giữa hải đảo Milokai – Thái B́nh Dương, người mà nhà ái quốc Gandhi đă ca ngợi và nói: “Nên t́m hiểu đâu là nguyên do phát sinh một cuộc sống anh hùng như vậy”. Nguyên do của cuộc đời hy sinh ấy là t́nh yêu mến Chúa như Chúa đă yêu thương chúng ta cho đến tận cùng.

Vậy khi chúng ta được Chúa ban ơn, được mọi ơn lành hồn xác th́ đừng quên cám ơn Chúa và đừng kiêu hănh khinh miệt kẻ khác. Thánh Inhaxiô nói: “Tội lớn lao hơn cả là tội vô ơn”. Trong nhóm 10 người phong cùi được Chúa chữa lành, chỉ có một người đă trở lại cám ơn Chúa và người đó lại là người ngoại giáo. Nhiều khi chúng ta được ơn Chúa, nhưng không biết cám ơn Chúa. Khi hoạn nạn th́ khấn vái bốn phương, khi được như ư th́ quên lời đă nguyện hứa. Tệ hơn nữa, c̣n tự kiêu tự phụ khinh miệt những người xấu số, bệnh tật, nghèo khó, phong cùi.

Cám ơn là dấu chỉ của ḷng tin. Chúa nói với người phong cùi biết ơn đang sụp lạy dưới chân Ngài: “Anh hăy đứng dậy mà về, v́ ḷng tin của anh đă cứu chữa anh”. Chính ḷng tin đă thúc giục người Samari phong cùi trở lại tạ ơn Chúa trước hết, đang khi chín người Do Thái kia lo đi tŕnh diện các tư tế để được xác nhận và được hội nhập vào cộng đoàn. Trong bài đọc I hôm nay, quan Naaman sau khi dược lành sạch phong cùi, cũng v́ ḷng tin đă t́m đến Ngôn sứ Êlizê và tuyên xưng ḷng tin vào Thiên Chúa: “Thật tôi biết, không có Thiên Chúa nào khác trên hoàn vụ ngoài một Thiên Chúa của Israel”.

Anh chị em thân mến,

Tạ ơn Chúa là dấu chỉ của niềm tin. Tạ ơn Chúa không chỉ là chuyện lễ nghĩa, nhưng là nét đặc trưng của những tâm t́nh mà con người phải có trước các ơn thiêng đă lănh nhận từ Thiên Chúa. Việc bẻ bánh ngày xưa cũng như Thánh lễ ngày nay là ǵ? Phải chăng là tâm t́nh tạ ơn mà người Kitô hữu khiêm tốn và hân hoan dâng lên Thiên Chúa là Cha v́ hồng ân Ngài đă ban cho chúng ta trong Đức Giêsu? Phải chăng là phương thế tuyệt hảo để chúng ta nhận thức lại sự phong phú đích thực của ḿnh và t́m lại b́nh an của niềm tin giữa những lắng lo cuộc sống?

Cũng chính trong tâm t́nh tạ ơn đó, chúng ta họp nhau chung quanh Bàn Tiệc Thánh nầy để cử hành Thánh Thể – Bí Tích Tạ Ơn. Ước chi lễ tế tạ ơn nầy đem lại cho chúng ta b́nh an và niềm vui sướng vô hạn. B́nh an và niềm vui của một đức tin đă gặp được Đấng Cứu Độ.

 
 

7. Mười người phong hủi - McCarthy

Suy niệm 1: ĐIỀU ẤY XẢY RA NHƯ THẾ NÀO?

Vào thời đại của Đức Giêsu, bệnh phong hủi không có thuốc chữa. Khi một người mắc phải bệnh ấy, có sống cũng như chết. Thế mà tại sao chín người phong hủi đă không trở lại để cám ơn Đức Giêsu v́ Người đă chữa lành cho họ? Chúng ta không lạm dụng trí tưởng tượng của chúng ta khi vẽ lại những ǵ đă xảy ra. Chúng ta giả sử điều đó xảy ra trong thời đại của ḿnh.

Người thứ nhất là Miriam, vợ của một người bán hàng. Khi về lại nhà, bà thấy nhà ḿnh bừa băi, lộn xộn. Không phải do lỗi của chồng bà. Ông phải tất bật với công việc. Trở lại gặp Chúa không c̣n là vấn đề nữa – ít ra là trong lúc này.

Người thứ hai là Aaron, một nông dân. Mùa hè này là một mùa tồi tệ, và toàn thể mùa màng có nguy cơ bị mất trắng. May mà dự báo thời tiết đă nói rằng thời tiết tốt, có mưa nhiều đúng vào những ngày ông có thể trở lại.

Người thứ ba là Saul. Khi ông ta trở lại nhà, gia đ́nh ông đă mở tiệc mừng ông. Họ không muốn nghe ông nói đi đến nơi nào đó. Ông đă không xa nhà đủ rồi hay sao? Chính họ đă ngăn cản ông trở lại gặp Chúa.

Martha là người thứ tư. Khi chị trở về nhà th́ chương tŕnh Tivi chị ưa thích vẫn c̣n, trong thời gian sống cách ly v́ bệnh phong hủi, chị luôn thèm khát được xem chương tŕnh đó. Giờ đây chị mải mê với chương tŕnh ấy. Chị muốn ngày mai trở lại gặp Chúa. Nhưng ngày mai không bao giờ đến.

Người thứ năm là Daniel. Trước khi ông bị phong hủi, ông rất thành công trong kinh doanh, khi ông về đến nhà, ông thấy việc kinh doanh hoàn toàn suy sụp. Trở lại gặp Đức Giêsu không nằm trong các ưu tiên của ông. Chẳng bao lâu sau, ông hoàn toàn quên việc đó.

Amos, người thứ sáu không có nhà để về. Anh đă cảm thấy rất cay đắng về căn bệnh phong hủi của ḿnh và về cuộc sống chung. Khi anh trở về, anh gom góp được ít tiền bạc mà người ta cho anh, về đến thành phố, anh uống rượu. Việc trở lại không bao giờ có trong đầu anh.

Peter là người thứ bảy. Khi anh về nhà, anh không có việc làm. V́ thế khi nghe nói về một cuộc phỏng vấn để được nhận vào một chỗ làm tốt, anh đến ngay. Trong lúc này, anh không thể trở lại.

Anna là người thứ tám. Lúc đó nhiên liệu đang bị khan hiếm. Chị hiện đang trên đường về nhà th́ thấy một trạm xăng c̣n mở cửa. Chị phải xếp hàng ba giờ liền để được đổ đầy b́nh xăng. Sau đó chị đi thẳng về nhà. Thật đáng thương khi muốn phung phí xăng cho một cuộc hành tŕnh thật sự không cần thiết.

Người thứ chín là Joseph. Khi ông ta về nhà, ông ta quyết định bán câu chuyện của ông ta cho một tờ báo. Không để mất thời gian. Một người khác có thể có cùng ư tưởng ấy và sẽ phỗng tay trên. Quay lại không có chỗ trong kế hoạch của ông.

Sau cùng, đó là Simon. Ông có mấy lư do để không quay trở lại. Một lư do đặc biệt thuyết phục. Ông là người Samari lại được một người Do Thái chữa lành. Một người Samari cám ơn một người Do Thái không phải là chuyện dễ. Nhưng là một người nhân ái, ông gạt bỏ những lư lẽ ấy và quay lại để cám ơn.

Xin lỗi! Những lư lẽ ấy xem ra nguỵ biện, đê tiện, trơ trẽn và rác rưởi. Nhưng có hiệu lực trong chín trên mười trường hợp. Chúng ngăn cản chín người ấy làm một việc mà có lên trời người ta cũng phải làm.

“Chúng ta viết trên cát những ơn ích mà chúng ta nhận được, nhưng viết trên đá cẩm thạch những tổn thất” (Thomas More).

Chín người phong hủi không thể diễn tả ḷng biết ơn. Sự vô ơn ấy nói với chúng ta điều ǵ? Điều đó nói lên rằng họ chỉ lành lặn ở ngoài da. Bệnh phong hủi đă hết, nhưng không có ǵ khác nơi họ đă thay đổi. Sau kinh nghiệm cay đắng ấy, họ trở về với những thái độ cũ, những tập quán, mục tiêu của họ và sự nông cạn của cuộc đời. Họ đă không học được ǵ từ đau khổ của họ. Đây là một bi kịch thật sự.

Nhưng rơ ràng người Samari đă học được từ kinh nghiệm đau thương của ḿnh. Kể từ đó, ông đă trở thành một con người hoàn toàn đổi khác, như Naaman sau khi được Êlisa chữa lành phần xác. Naaman và người Samari được chữa lành cả xác lẫn hồn.

Trong những lúc tốt đẹp, chúng ta quên mất Thiên Chúa, dù rằng chúng ta vẫn tiếp tục phục vụ Người bằng môi miệng. Nhưng rồi một cơn bệnh đến bắt chúng ta phải quỳ gối xuống, và bất ngờ chúng ta đối diện với sự nghèo nàn, yếu đuối và tính dễ chết của chúng ta. Tuy nhiên, nếu điều ấy đưa chúng ta đến gần Thiên Chúa hơn và làm cho chúng ta sống tâm linh hơn th́ nó đúng là một ơn lành trong bộ áo cải trang. Dường như trong mười người phong hủi, chỉ có một người được đưa đến gần Thiên Chúa hơn qua bệnh tật và sự b́nh phục của người ấy.

Suy niệm 2: CÁI NH̀N SÂU XA HƠN

Câu chuyện mười người bị phong hủi có một bài học rất rơ ràng, đó là tầm quan trọng của việc bày tỏ ḷng biết ơn. Nhưng nó có một bài học khác: T́m thấy Thiên Chúa qua đau khổ. Đau khổ có thể đưa con người rời xa Thiên Chúa hoặc có thể đem họ đến gần Thiên Chúa. Nhiều người trở lại đạo là những tân ṭng của Ngày Thứ Sáu Tốt Lành: họ vào Nước Chúa qua những cái cổng của đau khổ. Naaman là một gương tốt.

Vào một giai đoạn của đời ḿnh, ông ở đỉnh cao của ngọn sóng. Ông có một công việc danh giá: chỉ huy trưởng đạo quân hùng mạnh của nước Syri. Ông được nhà vua kính nể có quyền lực và danh tiếng. Ông ta không cần Thiên Chúa. Tôn giáo không có vai tṛ nào trong đời sống của ông. Ông là kiểu mẫu của một số người thành công hôm nay. Họ dường như không dành chỗ cho Thiên Chúa trong đời họ.

Tuy nhiên, khi ông đă đạt đến đỉnh cao của quyền lực, ông mắc một chứng bệnh kinh khủng: bệnh phong hủi. Th́nh ĺnh, thế giới của ông bắt đầu tan ră.

Một phút trước, ông ở đỉnh cao của thế giới. Một phút sau ông rơi xuống vực thẳm.

Tuyệt vọng về việc chữa trị, ông phải nuốt trửng ḷng tự hào và t́m kiếm sự giúp đỡ của ngôn sứ Êlisa ở Do Thái, một quốc gia nhỏ bé mà ông đă từng cướp bóc và khinh miệt. Tuy nhiên điều ông t́m kiếm là một “thứ thần dược” để ông có thể sớm quay về và đảm nhận đời sống cũ giống như trước đây.

Nhưng ông đă mau chóng nhận ra rằng không có thứ thần dược ấy; không có sự chữa lành mau chóng và không đau đớn. V́ thế ông phải học để trở nên khiêm nhường và nhẫn nại. Ông đă học tuân lệnh để thay đổi. Nhưng thời gian ông bỏ ra không uổng công bởi v́ ông không chỉ được chữa lành bệnh phong hủi mà c̣n được hoán cải. Ông t́m thấy Thiên Chúa chân thực. V́ thế sau cùng ông có lư do để cám ơn bệnh phong hủi của ông, bởi v́ qua đó ông đă nhận được ơn đức tin.

Người ta tự hỏi chín người phong hủi thu được ǵ từ kinh nghiệm khủng khiếp của họ. Khi họ không tạ ơn Thiên Chúa th́ không chắc họ đă rút ra được lợi ích tâm linh nào từ kinh nghiệm ấy.

Giống với ông Naaman trước khi mắc bệnh, trong những thời kỳ tốt đẹp, chúng ta bỏ quên Thiên Chúa, dù rằng chúng ta vẫn tiếp tục phục vụ Người bằng môi miệng. Nhưng rồi một bệnh tật hoặc một cái ǵ tương tự bắt chúng ta phải quỳ gối, và chúng ta bất ngờ đối diện với sự nghèo nàn, yếu đuối và phải chết của chúng ta. Chúng ta nhận ra nền móng mà trên đó chúng ta đă xây dựng bao nhiêu niềm hy vọng sao quá mong manh, nông cạn.

Nếu điều ấy đưa chúng ta đến gần Thiên Chúa hơn và làm cho chúng ta sống tâm linh hơn th́ đó là một sự chúc lành trong bộ y phục cải trang. Dường như chỉ một trên mười người phong hủi đă được đưa đến Thiên Chúa gần hơn qua bệnh tật và sự b́nh phục của người ấy.

Chúng ta không phải lúc nào cũng làm chủ những ǵ xảy đến với chúng ta, nhưng chúng ta phải làm chủ phản ứng của chúng ta khi sự việc xảy đến. Ví dụ như, có hai người bị thương nặng trong một tai nạn. Một người chọn cách sống cay đắng kinh nghiệm ấy và bị nó huỷ hoại. Người kia sống kinh nghiệm ấy với ḷng biết ơn. Người này tin rằng dù sự việc xảy ra là ǵ, dù nó có đau khổ th́ nó vẫn có thể đem lại một điều tốt. Vấn đề không phải là quên nó đi mà nhớ đến nó và hội nhập nó vào trong đời sống của ḿnh.

Ước muốn đền đáp lại một điều ǵ là một dấu chỉ cao cả của ḷng biết ơn. Khi bạn có đầy ḷng biết ơn, bạn sẽ không có chỗ cho sự cay đắng hoặc căm giận. Mọi người hạnh phúc đều biết ơn. Những người bội bạc không thể có hạnh phúc.

CÂU CHUYỆN KHÁC

Một ngày nọ, David bố thí cho một người nghèo mà ông gặp trên đường phố. Khi ông tiếp tục bước đi ông bắt đầu cảm thấy một niềm vui thoả măn bừng lên trong ông. Nhưng rồi một bóng tối lướt qua ông – ông nhớ lại người nghèo đó đă không cám ơn ông. Sau đó, ông kể lại sự cố cho vị giáo trưởng của ông. Vị giáo trưởng kiên nhẫn lắng nghe, sau đó ông này nói: “Ông cảm thấy thế nào khi ông bố thí?”

“Tôi cảm thấy rất vui” David đáp.

“Điều đó không đủ là phần thưởng cho ông sao?”

“Con vẫn nghĩ rằng hắn ta phải cám ơn con”, David nhấn mạnh.

“Chắc chắn ông không muốn được cám ơn v́ đă có hành động như một người theo đạo phải có? Vậy th́ ông đă cám ơn Thiên Chúa chưa?”.

“Về điều ǵ?” David ngạc nhiên hỏi.

“V́ Người đă ban cho ông cơ hội trở nên một công cụ để t́nh yêu của Người đến với một người đồng loại của ông”, câu đáp là như thế.

 
 

8. Suy niệm của William Barclay

Sự chữa lành mười người cùi bắt đầu chu kỳ những biến cố cuối cùng cảu đánh dấu những chặng đường chót của Chúa Giêsu trong hành tŕnh hường về Giê-ru-sa-lem. Lu-ca ghi lại phép lạ này rất thích hợp, v́ đặc điểm chính của câu chuyện là ḷng biết ơn và phước lành của một người Sa-ma-ri, mà Lu-ca luôn luôn mô tả Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế chẳng phải riêng cho người Do Thái mà cho cả nhân loại.

Tuy nhiên trong phép lạ này c̣n có một đặc điểm khác, những người cùi này được truyền lệnh đi khai cho các thầy tư tế rằng họ đă khỏe mạnh trước khi họ được chữa lành. “Đang khi họ đi th́ được sạch”. Hành động theo đức tin sẽ được thưởng. Ngài truyền lệnh cho họ hành động như đă nhận được lời cầu xin ấy, rồi cùng với hành động đức tin, lời cầu nguyện được nhận. Mệnh lệnh của Chúa Giêsu bao hàm một lời hứa, và đối với mọi lời hứa của Ngài, chúng ta có thể luôn luôn tin cậy trong an toàn tuyệt đối.

Lúc ấy Chúa Giêus đang đức trên bờ cơi xứ Ga-li-lê và Sa-ma-ri, có một tốp người cùi ra đón Ngài. Chúng ta đă biết người Do-thái không giao thiệp với người Sa-ma-ri, nhưng trong số này có ít nhất là một người Sa-ma-ri. Đây là một dẫn chứng về một quy luật trong cuộc sống. Nỗi bất hạnh chung đă phá đổ những bức rào ngăn cách về chủng tộc, họ đă quên ḿnh là Do-thái hay Sa-ma-ri, và chỉ c̣n nhớ rằng ḿnh là những con người đang có nhu cầu. Người ta cho biết, khi có một trận lụt tràn ra trên một vùng đất nào, các thú vật phải tụ trên một mô đất cao, th́ bạn sẽ thấy chúng đứng chung được với nhau, dầu vốn dĩ chúng từng thù địch nhau, và trong dịp khác, hẳn chúng đă dùng hết để cắn xé nhau đến chết. Chắc chắn một điều có thể kéo mọi người lại gần nhau, ấy là niềm khát khao chung của họ đối với Thiên Chúa. Tốp người cùi đứng đàng xa. Họ phải đứng cách xa bao nhiêu th́ luật không nói rơ, nhưng có một thẩm quyền cho biết khi chiều gió thổi xuôi từ người cùi tới người lành th́ người cùi phải đứng cách xa bốn mươi mét. Điều đó nói lên rơ ràng sự cô lập khủng khiếp mà người cùi phải chịu trong đời sống.

Trong các sách Phúc Âm, không có câu chuyện nào cho thấy rơ ḷng vô ân cảu con người một cách chua chát như câu chuyện này. Những người cùi này đă đến với Chúa Giêsu trong niềm hy vọng cao độ, Chúa Giêsu chữa lành cho tất cả, chín người trong số đó đă không trở lại cám ơn Ngài. Thường là thế, một khi người ta nhận được điều ḿnh mong muốn, người không bao giờ trở lại.

1. Con người thường hay quên ơn cha mẹ.

Lúc c̣n bé nếu chúng ta bị bỏ quên trong một tuần lễ chắc là chúng ta đă chết. Trong các loài sinh vật, chỉ có con người cần thời gian lâu dài hơn cả mới có thể tự lo được các nhu cầu thiết yếu cho đời sống ḿnh. “Nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa.” Suốt bao năm trời đằng đẵng, chúng ta phải lụy cha mẹ trong tất cả mọi sự. Nhưng rồi một ngày ta thấy cha mẹ phải trở nên một nỗi phiền hà quấy rầy chúng ta, và có ít người biết nghĩ đến đền đáp công ơn cha mẹ.

Có một bà mẹ nọ, v́ muốn khuyến khích đứa con nhỏ của ḿnh chăm lo việc nhà, nhất là những công việc nhỏ nhặt, vừa khả năng của nó, nên hầu như lúc nào bà cũng thưởng cho nó một món tiền nhiều ít tùy theo công việc nặng nhọc. Lần kia, suốt cả một tuần, bà mẹ nằm liệt giường. Thế là con nhỏ phải giúp, và cả thay thế mẹ trong nhiều công việc, nhưng không thấy mẹ tính thù lao. Cuối tuần, em nhỏ viết một cái hóa đơn ghi hững công tác chưa nhận tiền thưởng gồm: xách nước hai giờ, nấu cơm ba giờ, giặt quần áo năm giờ… tất cả các thứ tính chung trong một tuần là tám giờ. Xong, em rón rén vào pḥng, dúi tờ hóa đơn vào tay mẹ. Ba phút sau, bà mẹđưa cho em tám giờ kèm theo một tờ hóa đơn khác, trong đó ghi: công sinh, công dưỡng nuôi, công dạy dỗ, công học hành, công thầy thuốc mỗi khi đau bệnh nhân mười năm: chưa có mục nào được thanh toán cả! Cầm tờ hóa đơn trong tay, em nhỏ chợt hiểu, vội vàng chạy vào xin lỗi mẹ.

2. Chúng ta hay quên ơn đồng loại ḿnh.

Không mấy ai trong chúng ta chưa từng mang ơn lớn đối với một người nào. Ngay lúc đó ít ai nghĩ rằng rồi đây ḿnh sẽ quên ơn, và cũng ít người trong chúng ta đă trả xong nợ tri ân ḿnh đă mắc. Thường là một người bạn một thầy dạy, một người khách qua đường, một bác sĩ làm cho chúng ta một ơn ǵ đó mà chúng ta không thể báo đáp. Thảm kịch của cuộc đời là người ta không muốn cố gắng để trả ơn nữa.

Vào dịp lễ tạ ơn, cô giaó bảo các em học sinh lớp một vẽ tranh về điều ǵ chúng em mang ơn. Cô thầm nghĩ: chắc sẽ chẳng có ǵ đặc biệt: lại những con gà quay hay bàn tiệc đầy đồ ăn là cùng, và cô đă sững sờ trước bức tranh của Douglas, một bàn tay!

Nhưng bàn tay của ai đây? Cả lớp bị lôi cuốn bởi h́nh ảnh đầy biểu tượng này. Một em nói:

- Em nghĩ đó là bàn tay Thiên Chúa đă ban của ăn cho chúng ta.

- Đó là bàn tay của bác nông dân v́ đă nuôi những con gà, một em khác nói.

Cuối cùng, khi các em đang làm việc, cô giáo cúi xuống bên Douglas và hỏi xrm bàn tay đó là của ai th́ em khẽ nói: Thưa cô đó là bàn tay của cô!

Cô giáo nhớ lại vào giờ ra chơi, cô thường dùng bàn tay dắt Douglas, đứa trẻ tầm thường khốn khổ. Mặc dù cô vẫn làm điều đó với các đứa khác, nhưng với Douglas, nó lại mang một ư nghĩa rất đặc biệt.

3. Thường chúng ta hay quên ơn Thiên Chúa

Trong giờ phút túng cực, chúng ta cầu nguyện thật hăng say thống thiết, túng cực qua rồi chúng ta quên ơn Chúa. Biết bao người trong chúng ta không hề biết cảm tạ Chúa trước bữa ăn nữa, Ngài đă ban cho chúng ta Con Một của Ngài, mà ta lại không bao giờ biết nói lên lời cảm tạ Chúa.

Thi sĩ Lamatine người Pháp có kể lại một giao thoại như sau: một hôm ông t́nh cờ đi qua một khu rừng, ông nghe có một âm thanh kỳ lạ: cứ sau một tiếng búa đập vào đá lại vang lên một tiếng cám ơn! Đến gần nơi phát ra âm thanh thi sĩ mới nh́n thấy một người thợ đá đang miệt mài làm việc. Cứ mỗi lần gơ búa vào phiến đá, ông lại thốt lên hai tiếng “cám ơn”.

Thi sĩ nấn ná đến hỏi chuyện, người thợ đá mới giải thích: “Tôi tạ ơn Chúa! Ngạc nhiên về ḷng tin của một người mà cuộc sống hẳn phải lam lũ, lầm than hơn nhiều người, thi sĩ bảo:

- Giả như bác được giàu có th́ tôi hiểu tại sao bác không ngừng thốt lên hai tiếng “cám ơn”. Đàng này Thiên Chúa chỉ nghĩ đến bác có mỗi một lần duy nhất, đó là lúc Ngài tạo nên bác. Sau đó Ngài ban cho bác có mỗi cái búa này để rồi không ngó ngàng ǵ tới bác nữa, thế th́ tại sao bác lại mọi miệng cám ơn Ngài?

- Ông nghĩ rằng Chúa chỉ nghĩ đến tôi có một lần thôi sao?

- Dĩ nhiên- Lamactin bèn thách thức – Chúa chỉ nghĩ đến bác có một lần thôi!

Người thợ đá nghèo, nhưng đầy ḷng tin, náo nức thốt lên:

- Tôi nghĩ điều đó không có ǵ đáng ngạc nhiên cả. Ông hăy nghĩ rằng Thiên Chúa đă đoái thương nghĩ đến một người thợ đá thấp hèn như tôi, và chỉ một lần thôi, vậy không đủ cho tôi cám ơn Ngài sao? Vậy, cám ơn Chúa, cám ơn Chúa!

Nói xong, người thợ đá đă bỏ mặc cho thi sĩ đứng đó và tiếp tục điệp khúc quen thuộc của ông: vừa đập đá vừa cám ơn Chúa!

Lời cảm tạ tốt nhất chúng ta có thể dâng lên Chúa là cố gắng sống xứng đáng với t́nh thương và ḷng nhân từ của Ngài, mỗi ngày hơn lên:

“Chúc tụng Chúa đi, hồn tôi hỡi

Chớ khá quên mọi ân huệ của Người.” (Tv 103,2)

 
 

9. Chú giải mục vụ của Hugues Cousin

TRONG MƯỜI NGƯỜI PHONG CÙI ĐƯỢC CHỮA LÀNH, CHỈ MỘT NGƯỜI SAMARI BIẾT ƠN

Lần thứ ba, một điệp khúc về cuộc hành tŕnh lên Giêrusalem làm giai đoạn tŕnh thuật (c.11). Thay v́ tiếp tục con đường xuống phiá Nam, dường như Chúa Giêsu rẽ qua hướng Đông, giữa Galilê và Samari, để đến thung lũng sông Giođan. Ghi chú này làm cho dễ chấp nhận việc có mặt của một người Samari trong nhóm người Do Thái bị phong cùi.

Tŕnh thuật về việc chữa lành (cc. 12-14) rất ngắn và giống với 5,12-16, trong đó lần đầu tiên Chúa Giêsu đối diện với một trong những kẻ tiện dân bị loại khỏi cộng đoàn. Chắc hẳn ở đây họ không phục lạy nhưng họ chào kính Chúa Giêsu như một vị Thầy –như các môn đệ gọi Ngài. Họ kêu xin Ngài, mà không xin rơ được chữa lành (so sánh với 5,12) cũng không xin của bố thí. Chúa Giêsu báo họ đi đến các tư tế, là những người đúng theo luật lệ của Lv 14,1tt, có nhiệm vụ nhận xét về việc lành bệnh. Tuy nhiên, Chúa Giêsu không làm một cử chỉ ǵ để chữa bệnh và như thế việc lành không xảy ra ngay tức khắc (so sánh với 5,13).

Khi nghe lời Chúa Giêsu chỉ dạy, mười người này chứng tỏ có ḷng tin tưởng, một niềm tin trái ngược với niềm tin của đại tướng Naaman người Syri (x.4,27), thoạt tiên ông này từ chối làm theo lời báo của của ngôn sứ Êlisê (2V 5,10-12). Như vậy, việc chữa lành xảy ra từ xa.

Cho tới đây, tŕnh thuật đề cao quyền lực lớn lao của lời Chúa Giêsu và, do đó, chuẩn bị cho câu giải đáp mà Ngài sắp nói với các người Pharisêu (17,21). Nhưng cao điểm của lời giải đáp này nằm ở những ǵ xảy ra sau khi chữa lành và sẽ minh hoạ khoảng cách giữa việc chữa bệnh và ơn cứu độ. Trong các câu 15-19, một trong các người phung cùi được chữa lành quay trở lại ngay cả trước khi vâng lệnh Chúa Giêsu và Lề Luật: vừa tôn vinh Thiên Chúa, anh vừa sấp ḿnh –điều đă bị bỏ ở các câu 12-13, và nhất là tạ ơn Chúa Giêsu. Và điều đáng ngạc nhiên là chỉ tới đây, một khi thái độ của anh gây ấn tượng tốt cho ta, ta mới biết anh thuộc về chủng tộc nào: đó là một người Samari. Sự tương phản giữa ḷng biết ơn của người này và sự vô ơn của chín người khác vẽ nên một đường ranh phân biệt giữa những người Do Thái và người mà chính Chúa Giêsu nói đến như một người ngoại bang (người Samari cũng như người Do Thái nh́n nhận uy thế của Luật Môsê, và như vậy nh́n nhận uy thế của những quy luật trong sách Lêvi về bệnh phong). Như trong dụ ngôn về người Samari tốt lành (10,30tt) và khi rao giảng ở Nagiaret (4,24-27). Tŕnh thuật nhấn mạnh đến t́nh yêu mà các người ngoại bang bày tỏ. Do đó, Chúa Giêsu bác bỏ cái nh́n theo chủ nghĩa dân tộc quá khích, theo đó Thiên Chúa chỉ tỏ ḿnh ra cho người biết trong các thể chế văn hoá: chính bên cạnh Chúa Giêsu mà người ta tôn vinh Thiên Chúa.

Lúc nào cũng nghĩ đến Thiên Chúa trong những mối bận tâm của ḿnh nên Chúa Giêsu trách cứ chín người tật phong khác v́ đă không tôn vinh Thiên Chúa. Nhưng chính lời Chúa Giêsu nói về đức tin (c.19) mới là đỉnh cao của tŕnh thuật. Mười người phong cùi được chữa lành, nhưng duy nhất chỉ có người Samari biết ơn mới được tuyên bố là được cứu độ. Như vậy ơn cứu độ là điều cao quư hơn việc chữa lành thể xác. Và niềm tin trọn vẹn của kẻ quay trở lại th́ cao quư hơn niềm tin tưởng đă thúc đẩy cả mười người đi tŕnh diện với các tư tế trước khi được chữa lành. Việc chữa lành chỉ khai mở cho ơn cứu độ trọn vẹn khi con người nhận ra sáng kiến nhưng không của Thiên Chúa đối với ḿnh và nếu họ đáp lại bằng cách dấn thân vào một liên hệ thật sự với Chúa Giêsu: đó là niềm tin trọn vẹn.

 
 

10. Chú giải của Noel Quesson

Trên đường lên Giê-ru-sa-lem, Đức Giêsu đi…

Một lần nữa, Luca nhắc chúng ta biến cố đang được chuẩn bị. Đức Giêsu đang sống những tuần lễ cuối cùng. Trước tiên tôi cần dành thời gian để dừng lại trên từng chữ đó: Đức Giêsu... đi... lên... Giêrusalem. Chúng ta hăy thử h́nh dung cảnh tượng. Hăy thử tưởng tượng những tư tưởng của Đức Giêsu lúc Người đang tiến bước. Giêrusalem! Mục tiêu của cuộc hành tŕnh sau cùng.

Đức Giêsu đi qua biên giới giữa hai miền Samari và Galilê

Luca nhấn mạnh rằng Đức Giêsu đi qua miền Samari. Người không theo các quan điểm về chủng tộc của những người đồng thời: Người không ngần ngại đi qua miền đất ấy mà người dân ở Giêrusalem đă tuyệt thông. "Quả thế, người Do Thái không được giao thiệp với Người Samari" (Ga 4,9).

Khi vương quốc ở miền Bắc sụp đổ và dân bị đi đày năm 722 trước công nguyên. Quân đội chiến thắng Át-xi-ri đă đưa những đám nô lệ về định cư lại trên miền Samari. Những đoàn dân ấy thuộc mọi chủng tộc từ mọi miền chuyển về tạo thành một sự pha trộn về chủng tộc và tôn giáo. Các hội đoàn tôn giáo ở Giêrusalem vẫn coi họ như những người dị giáo.

Quan điểm phóng khoáng của Đức Giêsu phải tra vấn chúng ta. Chúng ta đă không giữ lại những hơi hướng khinh thị đối với một số hạng Người, một số chủng tộc, một số môi tường đó sao?

Điều lư thú mà Luca mang lại cho miền Samari là nó chứa đựng một ư nghĩa tượng trưng sâu sắc: Chính trong tỉnh này mà "sứ vụ Tin Mừng hóa" đă thực hiện những bước đầu tiên bên ngoài vùng Giu-đê. Khúc dạo đầu của việc phát triển to lớn của Giáo Hội trong những vùng đất của dân ngoại.

Đối với những Kitô hữu, phải có những con người khác ngoài con đường mà Đức Giêsu đă mở đầu. Ngày hôm nay, có phải tôi tránh xa những "miền Samari".

Lúc Người vào một làng kia, th́ có mười người phong hủi đón gặp Người.

Trong miền đất bị chúc dữ này; đây là những người bị chúc dữ nhiều nhất. Ở đây cũng vậy, tôi phải dám tưởng tượng ra cảnh tượng đó. Dưới từ ngữ "phong hủi", trong tâm thức của Kinh Thánh (Lv 13 và 14); người ta gọi chung mọi bệnh tật trên da thịt, bề ngoài rất ghê tởm và không chỉ bệnh phong hủi theo nghĩa y học hiện đại.

Hơn thế nữa, Kinh Thánh nh́n trong bệnh phong hủi một h́nh phạt của Thiên Chúa, h́nh ảnh của chính tội lỗi làm hư hỏng con người.

C̣n Đức Giêsu, Người không sợ. Là sự dịu dàng của Thiên Chúa. Người đă đến v́ những người nghèo hèn nhất. Ngày hôm nay cũng thế, Đức Giêsu đă không ghê tởm tội lỗi của tôi, tội lỗi của những người gớm ghiếc nhất. Đức Giêsu đă đến v́ điều đó để cứu chuộc, để chữa lành.

Họ dừng lại đằng xa và kêu lớn tiếng.

Tôi tưởng tượng tiếng kêu của mười cái cổ họng ấy.

Ngay khi họ nhận ra có người nào đó ở đằng xa, họ có thói quen kêu lớn tiếng, một điều bắt buộc. Luật của Môsê thật hà khắc nhằm đóng khung dịch bệnh lan truyền: "Người mắc bệnh phong hủi phải mặc áo rách, xơa tóc, che râu và kêu lên; "ô uế! ô uế!" (Lv 13,45). Không cần phải nói thêm rằng họ đương nhiên phải bị cấm đến ở những nơi có dân cư, và hoàn toàn bị đuổi ra khỏi những nơi thờ phụng. Những người nghèo ấy thuộc về hạng nghèo nhất.

Lạy Thầy Giêsu, xin dủ ḷng thương chúng tôi!

Họ gọi Đức Giêsu bằng tên Người, một sự kiện tương đối hiếm thấy trong các sách Tin Mừng. Trong ngôn ngữ Aramêen, Jéshouah có nghĩa là “Thiên Chúa cứu”. Kitô hữu Phương Đông gọi "kinh cầu Chúa Giêsu” chính là lời cầu xin ấy được lặp lại nhiều lần: Lạy Chúa Giêsu, xin thương xót chúng con. Lạy Chúa Giêsu, xin thương xót. Lạy Chúa Giêsu, xin thương xót. Chúng ta, cũng rất thường lăp lại kinh này trong thánh lễ: Kyrie eleison. Lạy Chúa, xin thương xót!

Thấy vậy, Đức Giêsu bảo họ: "Hăy đi tŕnh diện với các tư tế".

Cũng theo Luật (Lv 14,2). Các tư tế là những Người duy nhất có tư cách xác nhận sự lành bệnh. Vậy mệnh lệnh này của Đức Giêsu phải được họ hiểu như một lời hứa chữa lành.

Người ta không khỏi ngạc nhiên bới sứ cứng rắn bề ngoài của Đức Giêsu. Thay v́ chữa lành họ ngay tức khắc, người đ̣i hỏi những người tội nghiệp khẳn khổ ấy ra đi như thế. Và chúng ta thấy họ ra đi, vẫn c̣n chứng bệnh phong hủi gớm ghiếc ở trên người.

Mọi sự xảy ra như thể Đức Giêsu muốn thử thách Đức tin của họ, có thể nói như thế. Và chúng ta nghĩ đến cùng một thử thách đức tin mà ngôn sứ Êlisê bắt ông Na-a-man, gốc Xyri phải chịu khi yêu cầu ông này phải tự ḿnh thực hiện một biện pháp; điều này làm ông Na-a-man nổi giận!

Ngày nay đối với chúng ta cũng thế, đức tin thường là một thử thách đi qua đêm tối và không thấy, không hiểu chúng ta phải trông cậy vào lời Người. Chúng ta cầu xin Chúa để được giải thoát. Người hứa một ngày nào đó sẽ giải thoát chúng ta. Và chúng ta phải tiếp tục đi theo con đường của chúng ta với chỉ lời hứa của Người.

Đang khi đi th́ họ được sạch

Một lần nữa, phép lạ hoàn thành trong sự kín đáo, ở một khoảng cách xa Đức Giêsu. Khía cạnh "giật gân” lạ lùng mà chúng ta rất thích đă cố t́nh bị làm cho mờ nhạt.

Chúng ta cũng ghi nhận những cộng hưởng tôn giáo của việc chữa lành này, một việc chữa lành không được mô tả dưới khía cạnh y học: Đấy là một sự "thanh luyện". Lời cầu xin của các bệnh nhân hầu như là lời phụng vụ: “Xin thương xót chúng con". Đức Giêsu đă yêu cầu họ "tŕnh diện với các tư tế".

Xuyên qua sự chữa lành đặc biệt này, chúng ta được mời gọi nhận ra một dấu chỉ. Đức Giêsu có thể thanh luyện tôi. Đức Giêsu có thể cứu tôi nữa.

Trước tiên chúng ta chớ xin Người những lợi ích vật chất "Lạy Chúa Giêsu Kitô, xin hăy chữa lành tâm hồn con người hôm nay bằng Ḿnh và Máu Chúa".

Một người trong bọn, thấy ḿnh được khỏi, liền quay trở lại và lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa. Anh ta sấp ḿnh dưới chân Đức Giêsu mà tạ ơn

“Vinh quang của Thiên Chúa! Hăy "cao giọng lên để" ca ngợi vinh quang của Thiên Chúa!”

“Sấp ḿnh xuống dưới chân"! Một cử chỉ mà những Người phương Tây no nê không bao giờ làm nữa, trừ một vài người trẻ tuổi. Chúng ta có cái bụng quá căng khó mà sấp ḿnh sát đất được. Chúng ta tưởng rằng chúng ta chỉ mang ơn chính ḿnh, khả năng và công việc của ḿnh, những tài sản mà chúng ta thừa mứa. Chúng ta không ngạc nhiên khi thấy những người Hồi giáo có thể gập ḿnh làm đôi đến độ trán họ chạm vào mặt đất đó sao? Một ngày nào đó, bạn hăy thử làm ở nhà bạn không cần ai thấy. Và trong tư thế đó của thân thể, hóa ra không, bạn hăy để cho tư tưởng của bạn thoát đi đến những điều mà tư thế ấy hầu như bắt buộc bạn thực hiện: Con không là ǵ cả con đă nhận tất cả. Lạy Chúa, con đang ở trước mặt Chúa. Con chỉ là một kẻ quê mùa bẩn thỉu, một “Ađam". Con chỉ là cát bụi trên mặt đất cát bụi này.

Trong Kinh Thánh, sự sấp ḿnh xuống tận đất là một cử chỉ mà người ta chỉ làm trước Thiên Chúa. Ở đây, người phong hủi được chữa lành đă sấp ḿnh sát đất "trước mặt Đức Giêsu”. Đức Giêsu tham dự vào vinh quang và sự vô cùng của Thiên Chúa: Một mầu nhiệm c̣n ẩn giấu đằng sau nhân tính rất người của Đức Giêsu!

"Mà tạ ơn!" "eucharistôn!", "trong khi tham dự vào Thánh Thể "…

Ngày nay cũng thế, trong tiếng Hy Lạp hiện đại, "cám ơn" th́ nói "efkaristo". Thật là tai hại khi sự chuyển thể của ngôn ngữ đă làm chúng ta mất dần ư nghĩa của các từ. Ai trong chúng ta khi nói "tôi đến với Thánh Thể" th́ một cách tự phát nghĩ rằng "tôi đến tạ ơn"... tôi sẽ nói lời tạ ơn Thiên Chúa! Thánh lễ trước hết chính là Giáo Hội bước vào một hành động cao cả, "hành động tạ ơn" Đức Giêsu khi "Người ra khỏi thế gian này để về với Chúa Cha".

"Người cầm lấy bánh, người cầm lấy rượu, tạ ơn và nói: “này là Ḿnh Ta, này là Máu Ta, chịu nộp v́ các con". Mọi bữa ăn của người Do Thái và đặc biệt là bữa ăn lễ Vượt qua đều bắt đầu bằng một bài "berakha" "kinh tạ ơn". Đức Giêsu được đào tạo trong tín ngưỡng của dân tộc Người, đă không ngừng tạ ơn Thiên Chúa v́ sự dịu dàng và ḷng nhân hậu của Người dựng nên thế giới bao la và xinh đẹp và cho chúng ta biết bao điều tốt lành đặc biệt là lương thực để sống: (bánh và rượu). Người c̣n giải thoát và cứu chuộc chúng ta. Chúng ta hăy biết ơn Người. Chúng ta không c̣n biết cám ơn Thiên Chúa.. Chúng ta luôn miệng nói tiếng cám ơn v́ lịch sự về mọi việc, do thói quen mà không cần suy nghĩ ở bàn ăn, cửa hàng, trên đường phố; cũng không để nó tạo ra một quan hệ với một ai. Vả lại việc nói cám ơn phải làm chúng ta hiệp thông với một con người: thật ra, đó là một lời bộc lộ t́nh yêu thương. Nói cám ơn, thông thường phải nh́n thẳng vào người đă làm cho chúng ta hạnh phúc? Người phong hủi tội nghiệp của Tin Mừng, khi nhận được hạnh phúc của ḿnh, đă đi được một khoảng xa. Trong sự vui mừng ngây ngất, người ấy muốn t́m lại khuôn mặt của Đức Giêsu. Anh ta đi ngược trở lại con đường. Anh trở về với Người để nói với Người lời cám ơn! Và giờ đây, tôi thử tưởng tương những cử chỉ, giọng nói và khuôn mặt của anh ta.

Anh ta lại là người Sa-ma-ri.

Vậy ra Người ngoại quốc, người dị giáo, người đáng khinh nhất đó đă có cử chỉ nhân bản nhất, tự nhiên nhất.

Đức Giêsu mới nói: "Không phải cả mười người đều được sạch sao? Thế th́ chín người kia đâu? Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này?" Rồi Người nói với anh ta: "Đứng dậy về đi! Ḷng tin của anh đă cứu chữa anh.

Đối với Đức Giêsu, phép lạ này là một thất bại; bởi v́ nó không tạo ra hiệu quả mà Người có quyền chờ đợi: Đối với chín Người kia, phép lạ này không tạo ra "đức tin". Điều thật sự đáng kể đối với Người. Và v́ thế Đức Giêsu rất buồn.

Người Kitô hữu thật sự phân biệt với tất cả các "tín đồ khác không phải v́ họ cầu nguyện, họ xin ơn và họ được ơn. Mà chính v́ họ "cảm tạ" Thiên Chúa qua Đức Giêsu Kitô. Cần phải đi từ đức tin sơ đẳng chỉ biết cầu xin đến đức tin phát triển biết hướng về Đấng Khác (Tha Thể Tuyệt Đối) để gặp gỡ thật sự Khuôn Mặt của Người.

 
 

11. Đức tin đích thực - R. Gutzwiller

1. Niềm tin bất toàn.

Mười người phong cùi h́nh như đă có một niềm tin lớn lao. Họ nghe nói về Đức Kitô và tin rằng Ngài có thể chữa lành họ. Chính v́ niềm tin đó, mà họ đă vượt qua những luật lệ cưỡng bách họ sống tách biệt.

Họ đến một làng nhỏ, tiến gần đến Đức Giêsu và xin Ngài thương họ. Họ đă thất vọng hoàn toàn đối với khả năng của con người, chỉ c̣n tin tưởng vào sự cứu giúp của Đức Kitô thôi.

Niềm tin đó đă bị thử thách và rồi được giữ vững, v́ Chúa Giêsu không chữa cho họ ngay, Ngài gửi họ tới tŕnh diện với các tư tế, đó là lệ thường đối với những người được chữa khỏi: nhưng đây họ đâu đă được khỏi. Do đó, người ta có thể đoán được rằng họ sẽ đứng im, không nhúc nhích cho tới khi Chúa giải thoát họ khỏi cơn bệnh ghê tởm.

Thế mà, họ lại đă tin, chỉ dựa vào có một lời của Ngài thôi. Và rồi đang khi đi, họ thấy ḿnh được khỏi, họ có niềm tin đích thật, dầu vậy, đó cũng chỉ là niềm tin bất toàn. Họ c̣n bám víu vào ngoại cảnh, nhắm vào tật bệnh và sự lành lặn của họ.

V́ thế, họ không khám phá được Đấng chữa lành họ là ai. Họ chưa đi sâu vào cái chính yếu. Ngoài sức khoẻ thể xác, Ngài c̣n ban cho họ sức khoẻ của tâm hồn.

2. Đức tin hoàn toàn.

Chỉ có một người, lại là người ngoại quay lại t́m gặp Chúa Giêsu, tuyên xưng đức tin vào Thiên tính của Ngài và phục lạy để tỏ ḷng cảm tạ tri ân.

Chỉ có người này có được đức tin hoàn toàn. Chính v́ thế mà Chúa Giêsu đă nói với anh ta: ‘Hăy chỗi dậy mà về, ḷng tin của anh đă chữa anh’. Cả xác lẫn hồn được giải phóng, được chữa bệnh và thánh hoá một lượt.

Anh ta không c̣n bị bận trí v́ cái thân xác phong cùi vây hăm. Đức tin hoàn toàn không dừng lại ở việc chữa trị mà phải dừng lại ở người chữa ḿnh; không phải ở công việc mà là ở tác giả của công việc đó. Đức tin chân thực vượt lên trên mọi dấu chỉ, để được gặp gỡ Thiên Chúa hằng hữu.

 
 

12. Chú giải của Fiches Dominicales

NOI GƯƠNG NGƯỜI SAMARIA TRONG TIN MỪNG,

HĂY BIẾT QUAY LẠI CẢM TẠ ĐẤNG CỨU ĐỘ TA

VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Từ Việc lành bệnh do lời cửa Đức Giêsu phán…

“Đức Giêsu đang đi lên Giêrusalem". Lời nhắc nhở đó như một thứ điệp khúc mà Luca đặt ở đầu mỗi chương. Người đi theo lộ tŕnh dẫn Người về với Chúa Cha và cũng là con đường đưa ta tới ơn cứu độ nhờ Người. Thánh sử c̣n xác định rằng "Người đi qua Samaria và Galilê", cả hai miền đều bị miền Giuđê khinh rẻ; Samaria là xứ sớ của những chi tộc đă ly giáo, c̣n Galilê là miền biên giới, nơi người Do Thái và người ngoại giáo sống lẫn lộn. Vậy. mà, ở miền đất bị khinh khi, ở cái thế giới bị khai trừ ấy, Đức Giêsu thực hiện phép lạ chữa lành một đám người mắc bệnh phong cùi, thứ bệnh thời đó bị coi là cấm kỵ hết sức nghiêm ngặt. Cấm kỵ không chỉ v́ lư do pḥng bệnh, để tránh lây nhiễm, mà c̣n v́ lư do tôn giáo; v́ bệnh cùi là dấu chỉ tội lỗi làm biến dạng con người, nên những ai mắc bệnh ấy phải sống tách biệt khỏi cộng đồng và bị loại khỏi những nơi thờ phượng.

Sự việc xảy ra ở lối vào một làng kia. Một nhóm người phong cùi khốn khổ đón gặp Đức Giêsu. "Mười": con số nhỏ nhất để họp thành một cộng đoàn hội đường; "Mười người tượng trưng cho cả một dân tộc, tượng trưng toàn thể nhân loại bị tội lỗi làm cho bệnh hoạn.

Họ cùng mang thương tật của một thứ bệnh, chịu đựng cùng h́nh phạt khai trừ, họ tiến lên đồng tâm nhất trí, không phân biệt chủng tộc. "Dừng lại đàng xa", đúng theo Luật truyền, họ hô lớn tiếng: “Lạy Thầy Giêsu, xin đủ ḷng thương chúng tôi".

Thay v́ chữa họ lành ngay tức khắc, Đức Giêsu muốn thử thách ḷng tin của họ. Cũng như ngày xưa, ngôn sứ Êlisêô sai môn đệ nói với quan Naaman, người Siri rằng: "Quan hăy đi tắm ở sông Giođan bảy lần", Đức Giêsu chỉ đáp lại bằng một câu đơn giản, như một lời hứa sẽ chữa lành: "Hăy đi tŕnh diện với các tư tế. Thật vậy, vào thời đó, các thầy tư tế có quyền chẩn đoán bệnh phong cùi và công bố người mắc bệnh ấy là "không sạch", th́ họ cũng có quyền kiểm tra khi người ấy khỏi bệnh (Lv 14;3) và công bố chính thức người ấy được tái hội nhập vào cộng đoàn.

Khác với vị tướng lănh Siri, lúc đầu đă từ chối thi hành điều người của Chúa truyền dạy, mười người phong cùi ở đây tức tốc thi hành, không mảy may chần chừ.

Vậy "đang khi đi th́ họ được sạch”. Một việc chữa bệnh từ xa, được Luca tường thuật cách hết sức kín đáo, làm nổi bật quyền năng của lời Đức Gịêsu nói.

2.... đến ơn cứu độ do tin vào Đức Giêsu Kitô.

Đến đây tŕnh thuật làm nẩy sinh một vấn đề mới. Thật vậy trong khi 9 người tiếp tục đi "tŕnh diện với các tư tế, th́ riêng có một người, thay v́ vâng lệnh Chúa và Luật dạy, "đến quay trở lại và lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa". Thật ngạc nhiên, chỉ đến lúc này, lúc mà cách xử sự của anh đă gây ấn tượng tốt nơi chúng ta, th́ chúng ta mới biết anh thuộc ḍng tộc nào: anh là người Samaria. Đối với anh, tuy đă khỏi bệnh cùi, nhưng vẫn phải mang thân phận của người bị khinh khi v́ lạc đạo, nên không có vấn đề đi đến Đền thờ. Hơn nữa, anh đă gặp Đấng Thiên Sai trên đường, Đấng vừa cứu chữa anh, như rồi đây ta sẽ thấy: chính nơi Đức Giêsu mà ta tôn vinh Thiên Chúa.

- Cử chỉ anh làm là một cử chỉ trong phục vụ, “anh ta sấp ḿnh dưới chân Đức Giêsu mà tạ ơn". Anh nghĩ chắc chắn đó là cách tuyên xưng công khai Đức Giêsu là người gần gũi với Thiên Chúa. Rolanđ Meynet chú giải.: "Người Samaria vừa khỏi bệnh đă kết hợp Thiên Chúa với Đức Giêsu trong cùng một lời ngơi khen v́ tạ ơn. Ơn cứu độ vừa đón nhận được anh công bố cho mọi người biết, đó là công tŕnh của Thiên Chúa và của Đức Giêsu. Ḷng tin của anh không phân biệt hai đấng ấy và anh sấp ḿnh dưới chân Đấng đă làm cho anh nên sạch, như sấp ḿnh dưới chân Đức Chúa (L’Evangile selon saint Luc, analyse rhétorique", cuốn 2, Cerf, trg 171).

Đức Giêsu hỏi: "Không phải cả mười người đều được sạch sao? Thế th́ 9 người kia đâu? Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này?". Như vậy để nhấn mạnh nét tương phản giữa sự vô ơn của chín người kia, là người Do Thái, và ḷng biết ơn của người Samaria độc nhất này, Đức Giêsu gọi anh là người "ngoại bang". Dưới ng̣i bút của Luca, anh được coi như chứng tá sống động của ơn cứu độ được ban cho hết mọi người, vượt mọi biên giới; anh được coi như biểu tượng của những người ngoại giáo được vào Nước Thiên Chúa trước những người Do Thái, bới v́ những người này đă biết nh́n nhận Đức Giêsu là Cứu Chúa.

"Đứng dậy về đi! Ḷng tin của anh đă cứu chữa anh", Đức Giêsu kết thúc bằng một câu đầy ư nghĩa, mà Luca muốn đặt làm chóp đỉnh của tŕnh thuật.

+ "Hăy đứng dậy": động từ này rất thường được Luca sử dụng không chỉ để động viên ḷng can đảm trong chiến đấu (như trong cảnh hấp hối: "hăy dậy mà cầu nguyện" (Lc 22,45), mà cũng để chỉ việc sống lại chỗi dậy từ cơi chết) nữa.

+ "Hăy đi": Luca sử dụng động từ này nhiều lần để chỉ việc Đức Giêsu lên Giêrusalem. Étienne Charpentier giải thích: "Luca định nghĩa Kitô giáo như một con đường... ở đây, đang trên đường lên Giêrusalem, Đức Giêsu nói với người được chữa lành: "Hăy chỗi dậy, lên đường!". Và bởi v́ trong toàn bối cảnh đi lên Gíêrusalem, ta đă dịch động từ này là "đi lên", nên, nếu ta cho đặt vào môi miệng Đức Giêsu câu nói: "Hăy chỗi dậy, hăy cùng ta lên thập giá và vinh quang", thiết tưởng cũng hợp với tư tưởng của Luca. (Assemblée du Seigneur, số 59, trg77)

+ "Đức tin con đă cứu chữa con": mười người phong cùi v́ tin vào lời Đức Giêsu, nên đă được chữa lành; nhưng chính người Samaria mới sống phép lạ như một cơ hội để tiến tới. một đức tin sâu sắc hơn, một đức tin sẽ mang lại cho anh một kết quả hoàn toàn khác, đó là ơn cứu độ.

H. Cousin kết luận: "V́ lúc nào Thiên Chúa cũng phải được quan tâm trên hết, nên Đức Giêsu tỏ ra bất b́nh với chín người. phong cùi đă không đến tôn vinh Thiên Chúa. Nhưng lời Chúa nói về ḷng tin mới là chóp đỉnh của tŕnh thuật tất cả mười người phong cùi đều được khỏi bệnh, nhưng chỉ có người Samaria biết ơn Chúa mới công bố là được cứu. Vậy th́ ơn cứu độ c̣n quan trọng hơn ơn chữa lành phần xác. Và đức tin trọn vẹn của người quay trở lại tạ ơn th́ mạnh hơn ḷng tin tưởng đă thúc đẩy mười người ra đi tŕnh diện với tư tế ngay cả trước khi họ được lành bệnh. Việc lành bệnh chỉ mở ra ơn cứu độ toàn diện cho con người, nếu họ nh́n nhận sáng kiến nhưng không của Thiên Chúa đối với ḿnh, và nếu họ đáp trả bằng cách dấn thân vào mối tương quan thực sự với Đức Giêsu: như thế mới là đức tin trọn vẹn". ("L' Evangile de Luc", Centurion, trg 228-229).

Nhờ đức tin, dù là thuốc dân tộc nào, chúng ta đều được cứu độ. Vậy đến lượt chúng ta hăy lên đường theo chân Đức Giêsu. Không bao lâu sau, Đức Giêsu sẽ nói ở Lc 18,31 "Nào chúng ta lên Giêrusalem". Lần này hiển nhiên bao gồm các môn đệ trong cuộc hành tŕnh của người tiến về cuộc Khổ nạn Phục sinh.

BÀI ĐỌC THÊM:

1. Đường trở về dẫn đến lời tạ ơn:

(Đức cha Daloz, trong "Dieu a visité son peuple" DDB, trg l30).

Câu chuyện mười người phong cùi được Đức Giêsu chữa lành mà chỉ có một người trở lại tạ ơn, cũng chính là h́nh ảnh thường xảy ra với chúng ta, khi lâm cảnh túng cực, chúng ta biết t́m đến sự cầu nguyện: "Lạy Thầy Giêsu, xin dủ ḷng thương chúng tôi". Đức Giêsu tiếp đón mười người phong cùi đứng đàng xa lớn tiếng van xin người. Người sai họ đi tŕnh diện với các tư tế và họ đón nhận lời Người với ḷng tin. Họ được khỏi bệnh đang lúc đi đường. Nhưng họ mới đi được nửa con đường họ phải đi. Tất cả mười người đều được khỏi bệnh, nhưng chỉ một người duy nhất nghe được câu nói khiến anh khám phá ra Đức Giêsu "Hăy đứng dậy, ḷng tin của anh đă cứu anh". Anh đă biết quay trở lại con đường cũ. Con đường ấy đă dẫn anh đến lời tạ ơn.

Như vậy, có nhiều con đường dẫn đến Đức Giêsu: có con đường đưa ta đến với Người khi ta lâm cơn quẫn bách, và có con đường dẫn ta quay trở lại với Người để nhận biết Người. Rất nhiều kẻ chỉ đi con đường thứ nhất. Họ không bị khước từ và được dẫn đường từ chuyến đi ấy. Đó mới là bước đầu. Thiên Chúa không keo kiệt khi ban ân huệ của Người: Người không cân đo ḷng biết ơn của ta. Nên có những kẻ tiến xa hơn và trở nên môn đệ. Họ được hưởng ân huệ quư giá hơn nhiều, đó là được mạc khải một đức tin cứu độ: "Ḷng tin của anh đă cứu anh". Họ cảm nhận được một điều ǵ đó thuộc về mầu nhiệm Đức Giêsu; họ tiến vào mối quan hệ hỗ tương với Người, mối tương quan của lời tạ ơn. Ước chi chúng ta thuộc về những người không dừng lại giữa đường!

2. Đức Giêsu, Người chữa lành hay Đấng cứu Độ?

Đức Giêsu đă chữa lành nhiều người, đó là điều không thể hồ nghi. Mỗi trang sách Tin Mừng đều chứng thực điều đó. Ngoài ra, làm sao Đức Giêsu có thể làm cho người ta tin phục ḿnh là Đấng Mêsia, nếu Người đă không chữa bệnh? V́ đó là điều kiện cần thiết, phải có ở thời buổi của Người, điều mà người ta c̣n gặp thay nơi tất cả các vị lănh đạo tôn giáo thời nay. Vậy phải chăng Đức Giêsu chỉ là người chữa bệnh? Chắc chắn không phải như vậy? Đức Giêsu đến không phải để chữa bệnh, mà để cứu độ. Có thể nói rằng khi Người chữa bệnh là dấu chỉ người cứu độ. Người không nói: "Ḷng tin của anh dă chữa anh lành", nhưng nói: "Ḷng tin của anh đă cứu anh".

Vậy ơn cứu độ chính là khả năng sống cuộc sống của Đức Kitô, dù ta có yếu đau hay khỏe mạnh, sau khi chết cũng như trước khi chết. Việc chữa bệnh là một thứ dụ ngôn về sự sống lại. Một nhà chú giải Kinh Thánh đường thời đă có một nhận xét mà về phần tôi, đă soi sáng tôi nhiều. ông nói: ngay từ thời Giáo hội sơ khai, trong phụng vụ, người ta đă không bao giờ đọc một đoạn Tin Mừng về việc Chúa chữa bệnh để xin Người chữa các bệnh nhân có vẻ phù phép, nhưng chỉ đọc để loan báo việc Chúa sống lại.

  
 

13. Đức tin của con đă cứu con

Có câu chuyện kể rằng, một hôm Chúa sai hai thiên thần xuống trần gian đi làm nhiệm vụ, đúng hẹn hai thiên thần trở về, một vị đeo cái giỏ nặng trĩu, thấy vị kia đeo cái giỏ nhẹ tênh, hầu như không có ǵ bèn nói: Chúa sai tôi xuống trần gian thâu tất cả những lời cầu xin, nhưng nhiều quá nên cái giỏ của tôi rất nặng. C̣n ngài, ngài đă làm ǵ mà sao cái giỏ của ngài nhẹ quá vậy? Vị kia trả lời: Tôi xuống trần gian để thu tất cả những lời tạ ơn, nhưng chẳng có bao nhiêu.

Câu chuyện phần nào nói lên một thực tế của con người và giúp chúng ta hiểu được bài Tin Mừng mà chúng ta vừa nghe đọc, th́ ra người ta hầu như biết cầu xin hơn là biết đón nhận và tạ ơn. Thánh Luca thuật lại sự kiện có mười người phong cùi đến gặp Chúa Giêsu và khẩn khoản cầu xin Chúa thương xót, Chúa đă chữa lành bệnh cho họ, nhưng chỉ có một người quay lại để tạ ơn Chúa. Người quay trở lại tôn vinh Thiên Chúa lại là một người ngoại, vậy th́ chẳng lẽ những người kia không được lành bệnh sao?

Đọc bài Tin Mừng này tôi nhớ lại một sự kiện tôi đă gặp mà tôi nhớ rất rơ, đó là trưa ngày mùng 3 tháng 11 năm 1995 tại một nhà thờ của Ḍng Đaminh, có một phụ nữ ôm một bó hoa tươi đang phân vân đi đi lại lại trước các tượng thánh Đaminh, thánh Vinh sơn Liêm và thánh Martinô trong khuôn viên nhà thờ. Tôi tiến lại gần và hỏi h́nh như bà muốn đặt hoa trước vị thánh nào đó phải không? Bà thú nhận bà là người ngoại đạo, bà làm việc này theo yêu cầu của đứa con trai của bà. Nhưng thật đáng tiếc, bà không biết đâu là thánh Martinô, rồi bà tiếp tục tâm sự: gia đ́nh bà đều ngoại giáo, cách đó nhiều năm đứa con trai của bà học lớp 9, theo các bạn bè Công giáo đến khấn xin thánh Martinô cho học hành tốt đẹp và tất cả chúng đă đạt được như ư. Kể từ đó, hàng năm vào ngày 3/11 lễ thánh Martinô nó vẫn mang bông đến tạ ơn thánh nhân, nhưng bởi v́ năm nay nó đi xa, nó vẫn nhớ việc này và nhờ bà làm giúp cho nó.

Một người ngoại đạo họ không biết Chúa, không đón nhận Phép Rửa, không cùng tuyên xưng đức tin với chúng ta nhưng họ đă nhận ra nguồn hạnh phúc thật của sự sống. Họ ư thức rất rơ và xác tín những ǵ họ đă đón nhận. Họ hiểu ra rằng tất cả cuộc đời của họ đều là hồng ân. Họ chưa bao giờ tuyên xưng đức tin, nhưng họ đă luôn sống và thể hiện đức tin: “Ḷng tin của ngươi đă cứu ngươi”. Có thể nói, người biết tạ ơn đó là người có thái độ biết cầu xin và biết đón nhận, hay là người có thái độ tạ ơn Thiên Chúa, đó là người có đức tin.

Mỗi người chúng ta khi cầu nguyện, chúng ta thường hay nhắm đến cầu xin và luôn luôn cầu xin cho chúng ta, cho nên chúng ta đă quên mất rằng, tạ ơn là một trong những yếu tố quan trọng trong đời sống cầu nguyện. Cùng với chúc tụng, sám hối, chúng ta cầu nguyện h́nh như là để cầu xin Thiên Chúa thực hiện theo ư của chúng ta hơn là để chúng ta nhận ra thánh ư Chúa và thực hành ư Ngài.

Chính thái độ đó mà chúng ta cứ quay quắt trong ư định riêng tư và dằn vặt trong tính toán nên không thể nào nhận ra được hồng ân cao cả đầy yêu thương của Thiên Chúa đang thực hiện trong cuộc đời của ḿnh. Nếu chúng ta ư thức một chút, chúng ta sẽ nhận ra cuộc đời của chúng ta là cả một cuộc đời đầy những hồng ân. V́ vậy, chúng ta phải chúc tụng, tạ ơn cả cuộc đời và cả một cuộc đời của chúng ta phải là một cuộc đời tạ ơn liên lỉ.

Xin cho mỗi người chúng ta vững mạnh trong đức tin để nhận ra trên thế giới này Thiên Chúa vẫn đang sống, vẫn đang hành động, đang ở với chúng ta, để chúng ta chúc tụng và tạ ơn. Giờ đây chúng ta cùng nhau tuyên xưng đức tin và xin cho mỗi người chúng ta cũng sống trọn vẹn đức tin để chúng ta chúc tụng, tạ ơn Chúa.

 
 

14. Đức tin của con đă cứu con

Trong bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta thấy Chúa Giêsu đă không làm một cử chỉ phù phép nào để chữa lành tức khắc mười người phong cùi, mà Ngài lại sai họ đi tŕnh diện với tư tế trước đă. Họ đă làm theo lệnh của Ngài và tất cả đă được chữa lành, nhưng kỳ thực có phải tất cả mười người phong cùi đă được chữa lành không? Xem chừng như Tin Mừng muốn nói với chúng ta rằng, chỉ có một người thực sự được chữa lành, người đó chính là người ngoại bang xứ Samaria, một kẻ thù không đội trời chung với người Do thái. Chỉ có kẻ ngoại bang này được thực sự chữa lành, bởi v́ ông ta không những được lành lặn trong thân xác, mà c̣n được chữa lành trong tâm hồn. Chúa Giêsu đă nói với ông ta: “Đức tin của ông đă cứu chữa ông”.

Có đức tin là nh́n nhận rằng, Chúa Giêsu không những là nguồn mạch duy nhất có thể chữa lành bệnh tật thân xác mà Ngài c̣n mang lại niềm vui, sức sống hy vọng cho tâm hồn. Chính đức tin đă khiến cho người xứ Samaria đến sấp ḿnh dưới chân Chúa Giêsu để cảm tạ và thờ lạy Ngài. Người Samaria này không chỉ thấy ḿnh đă khỏe trong thân xác, mà c̣n nhận được sức sống niềm tin bừng dậy trong tâm hồn, đó mới là điều quan trọng.

Tất cả mọi phép lạ của Chúa Giêsu đều nhắm đến việc phục hồi sức khỏe tâm linh ấy. Dĩ nhiên, Đức Giêsu mang đến cho con người ơn cứu rỗi toàn diện, c̣n việc được no cơm ấm áo, được khỏe mạnh trong thân xác, Chúa Giêsu chỉ cần làm một cử chỉ hoặc Ngài chỉ phán một lời th́ nhân loại có thể đạt được giấc mơ ấy. Thế nhưng, đó không phải là đường lối của Thiên Chúa. Ơn cao cả nhất mà Thiên Chúa ban tặng cho con người và Tin Mừng vĩ đại nhất mà Ngài mang đến cho con người trước hết chính là “niềm tin”. Có niềm tin là làm được tất cả. Chúa Giêsu đă chẳng nói với chúng ta sao: “Đức tin của con đă cứu con”.

Giấc mơ thông thường của con người là được giàu sang, được quyền bính, được sức khỏe tràn đầy, nhưng Thiên Chúa lại mở ra cho chúng ta một chân trời mới, đó là chân trời của đức tin. Có đức tin là có sức mạnh để đương đầu với mọi thử thách khổ đau của cuộc sống. Có đức tin là được chữa lành mọi thứ bệnh phong cùi của thất vọng, ích kỷ, tham lam. Có đức tin là có đủ sức mạnh để ra khỏi chính ḿnh và không ngừng đến với tha nhân trong tin yêu và hy vọng.

Với cử chỉ của người Samaria trong bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta hăy chạy đến với Chúa, sấp ḿnh dưới chân Chúa để thờ lạy, cảm tạ tri ân Ngài. V́ Ngài đă ban cho chúng ta ơn đức tin, đưa chúng ta vào chân trời của sự sống, của niềm vui đích thực và của hy vọng tràn đầy.

Nguyện cho sức sống đích thực mà Ngài trao ban cho chúng ta hôm nay chữa lành được bệnh hoạn cùi hủi của tâm hồn chúng ta. Và với một tâm hồn tràn ngập hân hoan, chúng ta cũng hăy mau mắn ra đi chia sẻ Tin Mừng cứu độ của Ngài cho tất cả mọi người.

 
 

15. Ḍng suối ân t́nh.

Trong một chuyến bay từ Rôma về Nữu Ước, Đức Tổng Giám Mục Fulton Sheen chăm chú nh́n cô tiếp viên hàng không đang đi lại phục vụ quí khách. Thấy cử chỉ lạ của Đức Tổng, cô tiếp viên mạnh dạn đến gần và hỏi:

- Thưa Đức Cha, có chuyện ǵ mà Đức Cha lại nh́n con như thế?

Vị Tổng Giám Mục nhoẻn miệng cười đáp:

- V́ đôi mắt của con rất đẹp!

- Vậy con phải làm ǵ để cám ơn Chúa đây?

- Con ạ! Chúa đă lấy tất cả sắc đẹp của từng người phong trong trại cùi Di Linh mà đem tặng cho con. Vậy con hăy đến đó chăm sóc cho họ mà đền đáp ơn Chúa.

Quả thật, chỉ ít lâu sau người ta đă thấy người phụ nữ xinh đẹp này ngày đêm tận tụy băng bó những vết thương lở loét cho các bệnh nhân phong, tại trại cùi Di Linh dưới lớp áo ḍng nữ tu.

Phong cùi là một bệnh nan y khó trị, ai cũng ghê tởm và run sợ nếu mắc phải bệnh này. Vào thời Chúa Giêsu nó c̣n khoác vào người bệnh nỗi nhục nhă trong tâm hồn, v́ người ta cho rằng họ là những người bị Thiên Chúa phạt. Những người mắc bệnh cùi bị ruồng bỏ, bị coi là nhơ nhớp, phải sống cách ly trong một làng cùi xa mọi người, xa cả người thân. Phải mặc áo rách, để đầu trần, lấy áo che miệng và phải hô lên rằng ḿnh có bệnh truyền nhiễm và nhơ nhớp để cho người lành biết mà tránh xa.

Thế mà, trong bài Tin Mừng hôm nay kể lại chỉ một lời Chúa Giêsu phán ra th́ vết thương của thể xác và nỗi đau trong tâm hồn bao năm đè nặng bỗng tan biến hết. Căn bệnh quái ác mà họ cứ tưởng phải gánh chịu suốt cả cuộc đời, nỗi ô nhục mà họ cứ tưởng sẽ vĩnh viễn theo họ sang bên kia thế giới, th́ nay đă được hoàn toàn tẩy xóa. Chỉ nhờ quyền năng và ḷng thương xót của Thiên Chúa mà họ như đă chết nay được hồi sinh, niềm vui rộn ră như vỡ ̣a trong tim.

Trớ trêu thay trong mười người được hưởng ơn chữa lành vô cùng lớn lao ấy, chỉ có một người biết dâng lời tạ ơn, mà người ấy lại là người Samari ngoại đạo. C̣n những người vẫn tự hào là dân Thiên Chúa, dân riêng Chúa chọn lại sống vô ơn.

Chúa Giêsu phải thốt lên lời quở trách: “Không phải cả mười người được sạch cả sao? Thế th́ chín người kia đâu? Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này?” “Sở dĩ Chúa Giêsu xem trọng ḷng biết ơn cũng là v́ ích lợi của kẻ được ơn mà thôi. Người Samari trở lại tạ ơn Thiên Chúa đă ban cho anh ơn phần xác, th́ Người lại ban thêm cho anh ơn phần hồn là củng cố niềm tin và xác định tư cách tôn giáo của anh. Người nói: “Đứng dậy về đi! Ḷng tin của anh đă cứu chữa anh”. Như thế, cám ơn lại là cơ hội để nhận được thêm ơn.

Cuộc sống là một chuỗi những ân huệ nối tiếp theo nhau. Những ân huệ này đan xen với những ân huệ khác. Có những ơn do nơi Thiên Chúa, và cũng có những ơn đến từ con người. Vậy nếu cuộc sống là lănh nhận th́ người ta sẽ như thế nào nếu không hề biết nói hai tiếng cám ơn, hoặc chẳng bao giờ bày tỏ tấm ḷng tri ân! Thú vật c̣n biết vẫy đuôi cám ơn khi ném cho nó cục xương, c̣n người vô ơn khi nhận được ân huệ chỉ biết trố mắt nh́n và câm lặng.

Một đứa trẻ mới bập bẹ tập nói trong một gia đ́nh có giáo dục, th́ tiếng “cám ơn” luôn nằm sẵn trên bờ môi. Một người có nhân cách thực sự là một người có ḷng biết ơn. Một người luôn thể hiện ḷng biết ơn mới đích thực là con người. Ḷng biết ơn là nét cao đẹp nhất của con người. Biết ơn là nhận ra thân phận bất toàn của ḿnh. Biết ơn là ư thức về t́nh liên đới với người khác. Biết ơn là thể hiện niềm tin vào Thiên Chúa yêu thương và quan pḥng. V́ thế, ḷng biết ơn chính là bông hoa rực rỡ, điểm tô cho cuộc sống con người. Một tiếng nói “cám ơn” với tất cả chân thành, một cữ chỉ biết ơn sâu xa sẽ làm cho chúng ta nên người hơn, và thể hiện niềm tin sâu sắc hơn.

Cả cuộc sống của Chúa Giêsu là một “bài ca tạ ơn”. Người tạ ơn Cha trước khi cho Ladarô sống lại, trước khi làm phép lạ hóa bánh và cá ra nhiều, trước khi lập Phép Thánh Thể. Người không chỉ là mẫu mực về ḷng biết ơn mà c̣n dạy chúng ta thể hiện ḷng biết ơn ấy: “Các con hăy làm việc này mà nhớ đến Thầy”. Kể từ đó, mỗi thánh lễ mà Giáo Hội cử hành được gọi là thánh lễ tạ ơn.

Thánh Phaolô luôn dâng lời tạ ơn lên Chúa: “Tôi hằng cảm tạ Thiên Chúa của tôi v́ anh em, về ân huệ Người đă ban cho anh em nơi Đức Kitô”. Ngài cám ơn tất cả những ai giúp ngài trong công việc mục vụ: “Quà anh em tặng cho tôi đó, chúng khác nào hương thơm, lễ vật đẹp ḷng Thiên Chúa và được Người chấp nhận”. Như vậy, câu ngạn ngữ Anh nói rất chí lư: “Cho người có ḷng biết ơn chính là cho vay”.

Lạy Chúa, suốt cuộc đời chúng con ngụp lặn trong đại dương ân huệ của Chúa, suốt đời chúng con được tắm mát trong ḍng suối ân t́nh của anh em.

Xin cho chúng con luôn biết sống có t́nh nghĩa, luôn thể hiện ḷng biết ơn, luôn quí trọng những hồng ân mà Chúa đă thương ban, và những ǵ mà anh em đă làm cho đời chúng con thêm tươi đẹp và hạnh phúc hơn.

 
 

16. Ḷng biết ơn

Nhờ có cuốn sách Sehirdler’s Ark và cuốn phim Schindler’s List, tên của Oskar Schindler được hàng triệu người trên thế giới biết đến. Schindler là một nhà công nghiệp người Đức. Trong suốt Thế chiến II, ông đă cứu hàng ngàn người Do thái ở Ba Lan khỏi các trại tập trung. Khi chiến tranh chấm dứt, quân Đức rút khỏi Ba Lan và người ta chờ đợi quân Liên Xô đến. Ngay trước khi quân Liên Xô đến, Schindler cũng đă quyết định trốn qua phương Tây.

Khi những công nhân người Do Thái, giờ đây đă được tự do nghe tin ông ra đi, họ họp lại để xem có thể bày tỏ ḷng biết ơn ông như thế nào. Phải bắt tay ngay để làm một món quà bằng kim loại. Rồi một người gợi ư một cái ǵ tốt hơn. Ông ta mở miệng ḿnh ra và chỉ chiếc răng vàng.

“Hăy lấy cái này”, ông nói, “Nó mà c̣n là nhờ có Oskar, bọn mật vụ SS muốn chiếm lấy các vật dụng bằng mọi cách. Cái răng của tôi lẽ ra cũng đă ở trong đống đồ trong nhà kho của SS, giữa những chiếc răng vàng của những người khác”.

Ban đầu, những người khác phản đối đề nghị ấy, nhưng v́ người ấy nài nỉ măi nên người ta nhận. Một tù nhân trước kia là nha sĩ ở Cracow đă lấy cái răng vàng đó ra khỏi hàm răng. Một thứ kim hoàn trong số họ nấu chảy vàng và tạo thành một chiếc nhẫn. Ṿng bên trong của chiếc nhẫn, người ta ghi những lời lấy từ Kinh Talmud: “Người nào cứu sống chỉ một mạng người, người ấy cứu sống toàn bộ thế giới”.

Đó là một cử chỉ bày tỏ ḷng biết ơn làm người ta ngạc nhiên và cảm động sâu xa. Đó là một trong những việc kỳ diệu về ḷng biết ơn –nó làm cho chúng ta muốn đền đáp một điều ǵ. “Ḷng biết ơn là kư ức của tâm hồn” (Tục ngữ Pháp). Nhưng rồi người ta phải nói rằng đó là điều tối thiểu mà người ta có thể làm khi người ta mang ơn Schindler về cuộc đời của họ.

Mười người phong hủi trong Tin Mừng cũng mang ơn Đức Giêsu về cuộc đời của họ. Tuy nhiên, chỉ có một người trở lại để cảm ơn Người.

Dường như cũng kỳ lạ khi người quay trở lại để cảm ơn là một người ngoài cuộc –một người Samari. Nhưng điều đó không thường xảy ra đó sao? Người trong cuộc cho rằng mọi sự là đương nhiên và chính người ấy cũng được coi là đương nhiên. Trái lại, người ngoài cuộc nh́n mọi sự vật là một ân huệ. Chúng ta thấy bài đọc I cũng một ư tưởng. Người nước ngoài Naaman trở lại để cảm ơn Êlisa v́ đă chữa cho ông khỏi bệnh phong hủi.

Chúng ta đ̣i người khác biết ơn ḿnh hơn là tỏ ḷng biết ơn người khác. Điều này chỉ ra ḷng ích kỷ của chúng ta khi chúng ta thi ân. Nếu có người nào nhận thấy người anh em ḿnh vô ơn, bội bạc th́ người ấy không t́m kiếm hạnh phúc cho người khác mà t́m kiếm hạnh phúc cho chính ḿnh.

Đức Giêsu đ̣i hỏi ḷng biết ơn, không phải cho chính Người. Điều Người nói là: “Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này?”. Qua đó rơ ràng Người không nghĩ đến chính ḿnh. Người nghĩ đến những người phong hủi. Người nhận một ân huệ có thể bày tỏ ḷng biết ơn là một điều tốt và cần thiết.

Chúng ta biết bày tỏ ḷng biết ơn là một việc rất quan trọng. Trước tiên điều ấy tốt cho chúng ta, nó bắt buộc chúng ta phải biết món nợ mà chúng ta c̣n mắc người khác. Ḷng tri ân dĩ nhiên cũng tốt cho người khác ấy –nó làm cho người làm ơn cảm thấy được đánh giá cao. Người không cảm ơn điều nhỏ, sẽ không cảm ơn điều lớn. V́ thế điều quan trọng là biết ơn và đánh giá cao các ơn huệ nhỏ mà người khác làm cho chúng ta cũng như các dịch vụ mà chúng ta nhận được mỗi ngày.

Về việc thể hiện ḷng biết ơn đối với Thiên Chúa. Thiên Chúa không cần những lời cảm ơn của chúng ta nhưng chúng ta cần cảm ơn Thiên Chúa. Điều ấy nhắc chúng ta rằng mọi sự mà chúng ta có đều do Thiên Chúa ban cho. Cảm ơn Thiên Chúa về điều xảy đến cho chúng ta là việc dễ dàng. Nhưng chúng ta cố gắng biết ơn về trọn cả cuộc đời ḿnh: điều xấu cũng như điều tốt, những niềm vui và nỗi buồn, những thành công và thất bại. Đó không phải là một việc dễ dàng. Chúng ta chỉ thật sự gọi ḿnh là những người có ḷng biết ơn khi chúng ta có thể nói lời cảm ơn về mọi việc đă đưa chúng ta đến giây phút này. Loại tri ân này làm chúng ta có khả năng cải tạo toàn bộ quá khứ của chúng ta và coi nó như là con đường cụ thể trong đó Thiên Chúa dẫn đưa chúng ta đến giây phút này.

Khi chúng ta nh́n lại đời sống của ḿnh, chúng ta thấy rằng những điều làm tổn thương chúng ta và những điều giúp đỡ chúng ta không thể tách rời nhau. Chúng ta hăy cố gắng nh́n ra bàn tay hướng dẫn của Thiên Chúa yêu thương trong mọi việc đă đưa chúng ta đến nơi chúng ta đang có mặt hiện nay.

 
 

17. Biết ơn

Thái độ vô ơn của chín người Do Thái được chữa lành, phải chăng cũng chính là thái độ của mỗi người chúng ta?

Rải rắc trên đường đời, chúng ta đă nhận lănh biết bao nhiêu ơn lành của Chúa, từ những ơn làn phần xác, đến những ơn lành phần hồn, thế nhưng chúng ta cho rằng ḿnh được quyền hưởng dùng những ơn lành ấy và chẳng bao giờ chúng ta nghĩ tới việc phải cảm tạ Ngài.

Khi gặp gian nan thử thách, chúng ta khẩn cầu cùng Chúa, chúng ta thú nhận những sai lỗi, những vấp phạm của ḿnh và chúng ta hứa với Ngài điều nọ điều kia. Thế nhưng, khi tai qua nạn khỏi, chúng ta dường như không c̣n nhớ ǵ nữa và chẳng bao giờ biết cám ơn Ngài.

Nếu thái độ vô ơn của chín người Do Thái đă làm cho Chúa Giêsu phải buồn phiền, th́ chắc chắn thái độ vô ơn của chúng ta cũng sẽ chẳng hơn ǵ. Làm sao chúng ta có thể kể ra cho hết những ơn lành Chúa đă ban, bởi v́ t́nh thương của Ngài th́ dạt dào như biển khơi, không bờ không bến.

Thân phận chúng ta chỉ là tro bụi, thế nhưng, Chúa đă dựng nên, đă trao tặng sự sống phần xác, đă chiếu dơi ánh sáng đức tin phần hồn và đă hứa ban niềm hạnh phúc vĩnh cửu làm sản nghiệp, vậy mà chúng ta lại không biết cảm tạ Ngài hay sao?

Ḷng biết ơn là một bông hoa tươi xinh của t́nh bác ái. Trái lại, sự vô ơn chính là một phép lạ vĩ đại của ma quỉ. Tôi xin đưa ra một thí dụ.

Chẳng hạn sức khỏe là một điều quí giá mà không một quà tặng trần gian nào có thể đánh đổi được. Một ông tỷ phú, trong cơn hấp hối, dù có bỏ ra hằng triệu đô la cũng không thể nào mua về cho ḿnh sự sống, bởi v́ đó là một hồng ân của Chúa. Thế mà biết bao nhiêu lần chúng ta đă hoang phí cho những cuộc nhậu thâu đêm, cho những canh bài suốt sáng. Đáng lẽ chúng ta phải dùng cuộc sống để làm đẹp tâm hồn và nâng tâm hồn lên cùng Chúa mà cảm tạ Ngài, th́ chúng ta lại sử dụng nó để làm nô lệ cho những đam mê dục vọng xấu xa, cho những ư đồ đen tối và bất chính…

V́ thế, thánh Bernađô đă nói:

- Sự vô ơn là một bức tường ngăn cách giữa Thiên Chúa và tạo vật, là một chiếc đập ngăn chặn nguồn suối với ḍng sông.

Bởi đó, phải biết cảm tạ Chúa v́ tâm t́nh biết ơn cũng chính là một lời kinh tuyệt vời chúng ta dâng lên Chúa, một cách không so đo, không tính toán.

Với những người biết ơn, chắc chắn Chúa sẽ ban cho họ những sự cần thiết, mặc dù họ không kêu xin. V́ biết ơn là một nhân đức đẹp đẽ nhất của người Kitô hữu. Chúng ta hăy cảm tạ Chúa, không phải chỉ trong những giờ phút may mắn và gặp được những sự tốt lành. Trái lại, chúng ta c̣n phải cảm tạ Chúa ngay cả trong những khi buồn phiền với những tai ương hoạn nạn xảy ra.

Có một chàng thanh niên, cha mẹ chẳng may bị giết chết trong một cuộc thảm sát. Tuy buồn, nhưng anh vẫn thầm thĩ kêu lên cùng Chúa:

- Lạy Chúa, con xin qú gối cảm tạ Chúa v́ sự đau khổ con đang phải chịu cũng là một ơn huệ Chúa ban, để con biết chia sẻ với những khổ đau của Chúa.

Ḷng biết ơn cũng chính là một dấu chỉ để phân biệt người đạo đức thật với kẻ đạo đức giả. Kẻ đạo đức giả th́ trong những hoàn cảnh đen tối thường kêu trách Chúa. C̣n người đạo đức thật, th́ luôn khám phá ra bàn tay yêu thương của Chúa trong mọi t́nh huống, v́ đối với họ: mọi sự đều là hồng ân.

Lời kinh cảm ta tuyệt vời nhất, theo tôi nghĩ, đó là lời kinh chúng ta thường hát trong thánh lễ:

- Chúng con cảm tạ Chúa v́ vinh quang cao cả Chúa.

Hay như trong kinh tiền tụng, chúng ta vốn thường đọc:

- Lạy Chúa, chúng con cảm tạ Chúa thật là chính đáng, phải đạo và sinh ơn cứu rỗi cho chúng con.

Và sau cùng, ở mọi nơi và trong mọi lúc, hăy sống một cuộc sống đạo đức và thánh thiện, bác ái và yêu thương, nhờ đó bản thân chúng ta sẽ trở thành những chứng nhân cho t́nh thương của Chúa và cuộc đời chúng sẽ trở thanh một hiến lễ tạ ơn dâng lên Chúa.

  
 

18. Cám ơn

Một trong những tiếng được kể là đẹp nhất trong kho tàng ngôn ngữ con người, từ đông sang tây, từ bắc tới nam, tức là khắp mọi nơi. Một tiếng rất ngắn nhưng đưa đi rất xa, nếu chúng ta biết sử dụng nó một cách trọn vẹn, chân t́nh. Đó là tiếng “cám ơn”. Nhưng trong thực tế, dường như người ta c̣n quá dè dặt và tiết kiệm tỏ ḷng biết ơn nhau và cám ơn nhau.

Bài Tin Mừng Chúa Giêsu lưu ư chúng ta về lỗ hổng trầm trọng ấy. Chúa đă làm phép lạ chữa lành cho cả mười người phong cùi. Thế là họ ra đi sung sướng, thỏa măn, chỉ có một người nghĩ tới việc trở lại cám ơn Chúa. Chúa hỏi người ấy: “Không phải cả mười người đều được sạch sao? Thế th́ chín người kia đâu?” Chỉ là v́ họ quên cám ơn. Trong cuộc sống, nhiều khi chúng ta quên: cố t́nh quên hoặc vô t́nh quên như thế.

Có phải chúng ta vẫn thường coi việc người khác làm cho chúng ta hay phục vụ chúng ta như là những chuyện đương nhiên, những việc họ phải làm? Chẳng hạn khi có người lưu ư một ông giám đốc hay một ông chủ về sự tận tâm của người thừa hành hay người giúp việc, th́ các vị này đă tỉnh bơ trả lời: “Họ đă được trả lương để làm việc ấy mà”. Người ta trả tiền công và tưởng thế là ṣng phẳng.

Chúng ta nên suy nghĩ tới đức bác ái Kitô giáo, tới t́nh người được gói ghém trong tiếng “cám ơn”, dù khi đă trả tiền công. Thực vậy, có biết bao nhiêu chuyện mà người ta không thể thanh toán được bằng tiền bạc, nhưng bằng một nụ cười, một thoáng quan tâm, một tiếng cám ơn. Những người bán hoa đă viết một biểu ngữ trước quầy hàng của họ thế này: “Hăy diễn tả tâm t́nh của bạn bằng những bông hoa”. Cũng vậy, chúng ta phải diễn tả tâm t́nh của ḿnh ra nhờ những cái ǵ khác hơn là tiền bạc, hoặc cả tiền “puộc boa”, tiền trà nước, đó là lời cám ơn. Có cả một nghệ thuật bày tỏ ḷng tri ân mà chúng ta phải tập để biết sử dụng hợp thời, đúng lúc và tinh tế khéo léo.

Chúng ta phải biết cám ơn những người sống chung quanh ḿnh, bắt đầu từ những người gần gũi nhất, đó là những người trong gia đ́nh. Người ta nói: hạnh phúc của mái gia đ́nh tùy thuộc một phần không nhỏ vào bổn phận nhớ ơn nhau. Cuộc sống của chúng ta được dệt thành bởi trăm ngàn điều nhỏ mọn chẳng đáng kể ǵ, thế mà hạnh phúc gia đ́nh phần lớn lại lệ thuộc vào những điều chẳng đáng kể ǵ đó, là tiếng “cám ơn” bé nhỏ nói cho đúng lúc.

Thực vậy, hạnh phúc thay gia đ́nh nào có những người con biết nói cám ơn người cha người mẹ vẫn tận tâm tận lực lo lắng cho chúng và suốt ngày tảo tần mưu ích cho chúng. Và cũng thật hạnh phúc cho gia đ́nh nào người chồng biết nói cám ơn đối với người vợ và người vợ biết nói cám ơn đối với người chồng. Tiếng cám ơn người chồng nói với người vợ đáng giá hơn tất cả mọi thứ vật chất, v́ nó chứng tỏ người chồng lưu ư tới những ǵ người vợ làm cho ḿnh. Cũng vậy, tiếng cám ơn người vợ nói với người chồng sẽ động viên cho ông thêm nghị lực, thêm can đảm, thêm sức mạnh để hăng say với công việc đều đều cực nhọc vất vả hằng ngày.

Sau hết nhưng trước hết và trên hết, chúng ta phải biết cám ơn Thiên Chúa, v́ tất cả những ǵ chúng ta đang có, đang sử dụng: về ngôi nhà đang che chở chúng ta, cái bàn kia, cái giường ấy, chiếc tủ này, những quyển sách đó, cái đèn đang cháy sáng kia, những người bạn chúng ta gặp t́nh cờ trong cuộc sống, và hàng trăm hàng ngàn điều khác đang ở trong tầm tay chúng ta… Chính Thiên Chúa ban cho chúng ta những điều ấy xuyên qua những nguyên do phụ thuộc. V́ thế, chúng ta phải luôn dâng lên Thiên Chúa tâm t́nh cảm tạ tri ân như đối với nguyên nhân tối hậu, từ đó phát xuất ra mọi điều thiện hảo cho chúng ta.

Có một người cha trong gia đ́nh đă ghi lại câu chuyện và những ư nghĩ sau đây: Một đêm kia, trong lúc đang đọc báo, tôi nghe đứa con gái bé nhỏ của tôi nói: “Bố ơi, con sẽ đếm xem trên trời có bao nhiêu ngôi sao nhé”. Sau đó, tôi nghe giọng nói êm đềm của con tôi bắt đầu đếm 1,2,3,4… Rồi tôi chăm chú vào việc đọc báo, không để ư đến tiếng con tôi đếm các ngôi sao nữa. Đến khi đọc xong bài báo, tôi chú ư lắng tai và nghe tiếng nó vẫn tiếp tục đếm 123, 124, 125…Đến đây nó bỗng ngừng lại, không đếm nữa, rồi quay sang nói với tôi: “Bố ơi, con không dè trên trời lại có nhiều sao đến thế”. Nghe con gái nhận xét như vậy, tôi chợt nhớ là thỉnh thoảng tôi cũng âm thầm nói với Chúa: “Chúa ơi, để con thử đếm xem con đă nhận lănh bao nhiêu ơn lành Chúa đă ban”, và càng đếm, trái tim tôi h́nh như càng cảm thấy thổn thức, không phải v́ âu sầu mà v́ bị quá nhiều hồng ân Chúa đè nặng. Rồi tôi cũng thường phải thốt lên như con gái tôi: “Lạy Chúa, con không dè đời con lại có quá nhiều hồng ân của Chúa đến thế”.

Hôm nay, mỗi người chúng ta hăy nh́n lại thời gian đă qua, nghĩ lại quá khứ cuộc đời ḿnh và gia đ́nh ḿnh: có phải chúng ta đă lănh nhận được rất nhiều ơn lành của Chúa mà rất ít khi chúng ta để ư cám ơn Chúa và tri ân Ngài không? Đó là một thiếu sót lớn lao đấy. Cuộc đời chúng ta lănh nhận từ Thiên Chúa, từ mọi người thực là nhiều: từ một đồng bạc đến một sản nghiệp, từ một nụ cười đến một t́nh thương, từ một lời chào đến những lời an ủi, khích lệ, trao đổi, gặp gỡ… tất cả và bất cứ sự ǵ chúng ta lănh nhận được đều là những viên gạch xây dựng đời chúng ta và gia đ́nh chúng ta. Nên chúng ta phải luôn tạ ơn Chúa và cám ơn mọi người. Tạ ơn Chúa là chúng ta đem các ơn ḿnh đă lănh nhận được tŕnh bày với Chúa, để rồi Chúa sẽ ban lại nhiều hơn, như người ta thường nói: “Một lần cám ơn là hai lần xin ơn”.

Xin Chúa cho chúng ta luôn biết sống trong tâm t́nh tạ ơn Chúa như thánh Phaolô đă khuyên bảo giáo dân Côlôsê: “Anh em hăy luôn sống trong tâm t́nh tạ ơn Chúa và biết ơn Chúa”. Đồng thời, chúng ta cũng phải luôn biết cám ơn mọi người, v́ có thể nói, tất cả những người có liên hệ xa gần với chúng ta, đều là những ân nhân của chúng ta.

  
 

19. Niềm tin

Phụng vụ lời Chúa hôm nay cho chúng ta biết khi Chúa đi lên Giêrusalem, qua giữa miền Samaria và Galilê th́ Chúa chữa 10 người phong cùi. Theo thánh sử Luca, Giêrusalem đối với Chúa Giêsu là đích điểm của cuộc hành tŕnh và cũng là nơi kết thúc cuộc đời của Chúa, để từ đây ơn cứu độ lan rộng khắp nơi, cho tất cả mọi người. Quả thật, Tin Mừng thuật lại cả 10 người đều được Chúa chữa cho khỏi bệnh, nhưng oái oăm thay, trong 10 người đó chỉ có một người – mà lại là người xứ Samaria, một người ngoại bang, người ngoại đạo – quay trở lại để tạ ơn, để tôn vinh Thiên Chúa.

Đối với những người Do thái thời xưa, ai bị bệnh phong cùi th́ bị coi là đồ chúc dữ, là h́nh phạt của Thiên Chúa. Họ bị cô lập, tách riêng ra khỏi cộng đoàn và không được phép tham dự bất kỳ một nghi lễ phụng vụ nào. Đồng thời khi nghe có ai tiến gần đến họ th́ phải kêu lên: “Ô uế! Ô uế!” để cho người khác biết mà tránh xa. Nhưng khi biết Đức Giêsu sắp đến gần, th́ họ đón gặp Người – Không phải để kêu lên “Ô uế! Ô uế” – mà “lạy Thày Giêsu, xin thương xót chúng tôi”. Điều này chứng tỏ họ đă được biết, được nghe đến danh của Đức Giêsu và hy vọng một điều tốt đẹp xảy đến cho họ. Và Đức Giêsu đă đoái nghe đến lời khấn xin này, và bảo họ hăy đi tŕnh diện tư tế, nghĩa là xác nhận đă lành bệnh. Quả thật, mệnh lệnh này là một thử thách đức tin của họ, v́ chúng ta thấy trước khi đi th́ họ vẫn trong t́nh trạng bị phong cùi. Và Tin Mừng thuật lại. Đang khi đi th́ họ được khỏi, điều đó cho thấy 10 người cùng tin. Nhưng trong số 10 này chỉ có một là biết sống ơn đức tin đó: anh ta đă tiến thêm một bước trên con đường đức tin. Và nghịch lư thay, bước tiến lại là một bước quay trở lại, một bước trở về để tạ ơn Thiên Chúa, tạ ơn Đấng đă làm ơn cho ḿnh.

Chúng ta thấy, điều mà người Samaria này cần phải làm khi được khỏi bệnh không phải là một cái ǵ khác, không phải là một nghi lễ phụng vụ nào nhưng là phải gặp lại Đức Giêsu để mà tạ ơn. Điều mà anh ta thấy là ǵ? Là chính Đức Giêsu đă cứu anh, anh đă tin như thế. Người Kitô hữu hôm nay cũng thế, chúng ta xin Chúa đủ điều, chúng ta tiếp nhận mọi sự tốt đẹp từ Giáo Hội, từ những người khác, nhưng mấy khi tôi biết ngồi lại để tạ ơn Chúa, để tạ ơn người khác? Hăy tự xét ḿnh lại ta sẽ thấy được!

Trước đây, tôi có biết một chị, là người lương. Cứ mỗi tuần vào chiều thứ bảy là chị đem một bó bông huệ đến đặt dưới chân tượng Đức Mẹ. Sau khi t́m hiểu th́ tôi biết được là chị có một đứa con bị bệnh đă nhiều năm, chạy chữa tốn rất nhiều tiền bạc, công sức mà không khỏi. T́nh cờ khi đi ngang một nhà thờ, chị nh́n thấy nhiều người đang đứng cầu nguyện trước tượng Đức Mẹ. Chị chẳng biết Đức Mẹ là ai, nhưng cũng đến để cầu xin cho con ḿnh được khỏi bệnh. Và quả thật, chỉ hơn 2 tuần sau th́ con chị được khỏi bệnh.

Ở đây, tôi không biết là do chạy chữa nhiều hay là ơn Chúa ban qua Đức Mẹ mà con chị đă khỏi bệnh. Nhưng điều mà tôi muốn chia sẽ là tâm t́nh của chị sau đó. Chị đă tin là “Bà đó” – người đă chữa lành bệnh cho con chị cách lạ lùng và chị đă không ngừng tạ ơn về điều đó.

Nhiều khi chúng ta luôn miệng nói cám ơn v́ lịch sự hay do thói quen mà không cần suy nghĩ, cũng không để cho nó tạo ra một mối quan hệ hay một sự tương quan nào với ai. Vâng lời cám ơn chân thành phải làm cho chúng ta hiệp thông với một con người, nó phải là một lời bộc lộ t́nh yêu thương. Mỗi ngày khi tham dự thánh lễ, sau khi nghe lời Chúa chúng ta cùng thưa lên: “Tạ ơn Chúa hay ngợi khen Chúa”. Và việc tạ ơn này là ǵ? Nếu không phải là để cho lời Chúa thấm vào trong tôi, đi vào trong con người của tôi và là động lực để thúc đẩy tôi dấn thân, để tôi sống và làm chứng lời đó giữa cuộc đời.

Như vậy, chúng ta thấy ḷng biết ơn không chỉ là đức tính nhân bản, mà c̣n là một nhân đức tôn giáo nữa; không chỉ là lời nói xă giao, mà c̣n là một sự tự nguyện dấn thân để tin theo. Đó là h́nh ảnh của một chị người lương nói trên và cũng là h́nh ảnh của một người cùi xứ Samaria trong Tin Mừng hôm nay. Họ đă tạo ra được một mối tương quan mật thiết với Chúa. Nhưng trong thực tế, mấy ai đă làm được điều này?

Nh́n vào lịch sử dân Chúa, chúng ta thấy đầy dẫy những sự vô ơn: như Tin Mừng hôm nay 10 người được chữa lành nhưng chỉ có một người quay trở lại tạ ơn; 5.000 rồi 4.000 người được Chúa cho ăn no như khi hóa bánh ra nhiều nhưng trên đường vác thập giá chỉ có một người vác đỡ Chúa; cả một dân tộc mang ơn nhưng khi Chúa bị đóng đinh th́ chỉ có một tên trộm tuyên xưng Chúa vô tội.

Tục ngữ ca dao Việt Nam cũng có nhiều câu để diễn tả ḷng biết ơn như: “An quả nhớ kẻ trồng cây, hay uống nước nhớ nguồn”, nhưng cũng có nhiều câu để nói lên sự vô ơn của con người: “An cháo đái bát, vắt chanh bỏ vỏ hay có trăng quên đèn…” là người th́ không ai cách này hay cách khác đă có lần phải chịu ơn.

Hơn nữa, là người Kitô hữu th́ tôi lại càng mang ơn nhiều hơn. Cử chỉ của người cùi xứ Samaria trong Tin Mừng nhắc nhớ cho chúng ta về điều này. Anh ta sấp ḿnh xuống dưới chân Chúa mà tạ ơn, một cữ chỉ dành riêng cho Thiên Chúa mà thôi: để nói lên rằng chính con người tôi đây, tôi chẳng là ǵ cả, tôi đă được nhận tất cả, tôi chỉ là cát bụi. Vậy th́ hôm nay tôi phải tạ ơn Chúa v́ chính sự sống của tôi đây, điều mà tôi không có quyền ǵ để đ̣i hỏi nơi Chúa nhưng do t́nh yêu nhưng không của Ngài, như lời thánh vịnh 8 đă nói: “Phàm nhân là ǵ để Người nhớ đến, con người là chi để Chúa phải lưu tâm”.

Vâng tôi chẳng là ǵ cả, tôi chỉ là thân cát bụi hèn yếu nhưng chính Ngài đă ban Thần Khí cho tôi, đă cho tôi có sự sống, tôi không thể sống mà không biết tạ ơn! Lại nữa, tôi không chỉ tạ ơn về những điều tốt đẹp, mà c̣n tạ ơn về những thiếu sót, lỗi lầm, giới hạn của tôi nữa. Tại sao ư? V́ có như thế, tôi mới nhận ra được con người đích thực của ḿnh, tôi mới có thể nhận ra được những điều tốt, điều hay nơi những người xung quanh, nơi những anh chị em của tôi. Thực ra, th́ Chúa chẳng cần chúng ta ca tụng tạ ơn đâu – như lời Kinh Tiền Tụng đă ghi – v́ điều đó chẳng thêm ǵ cho Chúa, nhưng đó lại là một hồng ân cao cả, nó đem lại ơn cứu độ cho chúng ta.

Xin Chúa cho mỗi người chúng con biết không ngừng tạ ơn Chúa trong từng phút giây của cuộc đời chúng con. Lời Chúa hôm nay cho chúng con biết rằng, đối với Chúa điều làm cho chúng con có giá trị không phải là thân thế, sự nghiệp hay danh vọng, mà là chính t́nh yêu thương vô điều kiện của Chúa đă đổ tràn ngập xuống tâm hồn chúng con và bao phủ lấy cuộc đời của mỗi người chúng con. Chính điều này cho chúng con biết được Chúa là Thiên Chúa luôn gần gũi với con người, một Thiên Chúa luôn cúi xuống trên nỗi bất hạnh của con người.

Xin Chúa cho chúng con biết sống tâm t́nh tạ ơn bằng tất cả sự tin tưởng tuyệt đối vào Chúa, chứ không phải chỉ trên đầu môi chót lưỡi. Để từ đó, chúng con cũng có được thái độ chia sẻ như là một trách nhiệm, đối với anh chị em chúng con, v́ như thánh Giacôbê đă nói: “Đức tin không có việc làm là đức tin chết”.

  
 

20. Suy niệm của JKN

Câu hỏi gợi ư:

1. Có thể tín nhiệm vào lương tâm của những người thường tỏ ra vô ơn với những ân nhân của ḿnh không? Tại sao?

2. Người Kitô hữu có nhiều tâm t́nh biết ơn hơn những người khác không? Nếu không th́ bạn nghĩ thế nào?

3. Trong đời sống Kitô hữu, chúng ta cần phải biết ơn những ai? Và phải làm những ǵ để tỏ ḷng biết ơn đối với những người ấy?

Suy tư gợi ư:

1. Làm ơn đừng nên nhớ, chịu ơn chớ nên quên

Bài đọc I đưa ra cho ta một h́nh ảnh rất đẹp. Tướng của Sy-ri là Na-a-man bầy tỏ ḷng biết ơn của ḿnh đối với ngôn sứ Ê-li-sa một cách cụ thể bằng lễ vật mà ông tha thiết xin ngôn sứ nhận cho. C̣n ngôn sứ Ê-li-sa th́ cương quyết từ chối, mặc dù lễ vật ấy chắc chắn sẽ giúp ngài sống đỡ thiếu thốn, và nhất là – theo cách suy nghĩ b́nh thường của người đời – có thể tạo cho ngài nhiều phương tiện hơn để thi hành sứ mạng của ḿnh.

Cả hai thái độ tốt đẹp trên có thể làm chúng ta suy nghĩ và xét lại thái độ của chúng ta khi hàm ơn ai hoặc làm ơn cho ai. Thông thường người ta có tâm lư hay quên hoặc không nhận ra những điều tốt người khác làm cho ḿnh, nhưng lại dễ nhớ những ǵ tốt đẹp ḿnh làm được cho người khác. Không những thế, ḿnh c̣n mong họ nhớ ơn và trả ơn ḿnh. Nếu họ vô t́nh quên ơn, th́ ta buồn phiền, oán trách, thậm chí sẵn sàng lên tiếng chê bai.

Đức Giêsu cũng như các bậc cổ nhân xưa dạy ta thái độ nhớ và biết ơn đối với những người hy sinh cho ta, những người làm những điều tốt lành cho ta. Không phải chỉ nhớ và biết ơn, mà c̣n phải đền đáp lại ơn đó khi nào có thể. Nhưng đối với những người mà ta làm ơn cho, th́ trái lại, không nên nhớ, cũng không nên đ̣i hỏi họ phải biết ơn hay trả ơn ta. Trang Tử, một triết gia Trung Hoa, khuyên ta nên “vô kỷ, vô công, vô danh” trong các việc làm của ta, nghĩa là không làm v́ ḿnh, làm rồi không cậy công, cũng không mong được khen ngợi, biết ơn.

2. Suy nghĩ về ḷng biết ơn

Một trong những nguyên nhân hay động lực quan trọng của t́nh yêu thương là ḷng biết ơn. Không phải t́nh yêu thương nào cũng phát xuất và đặt nền móng trên ḷng biết ơn: Thiên Chúa hay cha mẹ yêu thương ta không phải v́ mang ơn ta. Nhưng rơ ràng là t́nh thương của ta đối với Thiên Chúa, cha mẹ và nhiều ân nhân khác phát sinh và đặt nền tảng trên ḷng biết ơn. Thiên Chúa và cha mẹ yêu thương ta trước, sinh thành tạo dựng, nuôi dưỡng giáo dục ta. T́nh thương đó, công ơn đó làm nẩy sinh nơi ta ḷng biết ơn, khiến ta đáp lại t́nh thương đó bằng chính t́nh yêu thương của ta đối với các Ngài. Ḷng biết ơn đối với Thiên Chúa và cha mẹ lại là tiêu chuẩn nền tảng để đánh giá mọi thứ biết ơn khác. Một người vô ơn đối với Thiên Chúa và cha mẹ, th́ khó mà biết ơn thật sự đối với người khác.

Khi làm ơn cho ai, giúp ai việc ǵ, mà về sau người đó vô ơn, tự nhiên ta cảm thầy buồn, có khi đau khổ. Khuynh hướng tự nhiên của mọi người là mong muốn hoặc đ̣i hỏi người thụ ơn ḿnh phải biết ơn (mặc dù khi làm ơn cho ai, tính cao thượng đ̣i hỏi ta vượt khỏi khuynh hướng tự nhiên ấy). Do đó, ḷng biết ơn là một đức tính rất cần thiết trong giao tế xă hội, trong tư cách một con người. Trong xă hội, tiếng “cám ơn” luôn luôn nở trên môi những con người có giáo dục, lịch thiệp, lễ độ. Ḷng biết ơn, tiếng cám ơn xuất phát từ đáy ḷng luôn luôn làm vui ḷng những người tốt bụng, khuyến khích họ tiếp tục thi ân làm phúc. Trong đời sống tâm linh, tinh thần hay tôn giáo, ḷng biết ơn đối với Thiên Chúa và các ân nhân cần phải được biểu lộ trong các kinh nguyện, lễ nghi, trong tâm t́nh và cử chỉ của các tín hữu.

Trong bài Tin Mừng hôm nay, ta thấy 10 người được Đức Giêsu chữa lành, nhưng chỉ có một người trở lại cám ơn Ngài. Và mỉa mai thay, người biết ơn đó lại là một người ngoại giáo! Điều này làm ta phải tự hỏi: người Kitô hữu có nhiều tâm t́nh biết ơn hơn các tín đồ tôn giáo khác không? Nếu ta không tốt bằng họ hoặc không hơn họ, th́ việc ta nỗ lực truyền giáo cho họ quả thật có phần nào nực cười! Việc Đức Giêsu – với tư cách là thầy dạy về tâm linh – đă trách móc 9 người vô ơn kia không biết tạ ơn Thiên Chúa cho thấy: rơ ràng là ḷng biết ơn không thể nào thiếu được trong đời sống tu đức, đời sống hướng về sự toàn thiện. Không những thế, nó có thể là căn bản cho một lương tâm đứng đắn. Một người vô ơn, thường xuyên vô ơn, khó có thể có một lương tâm tế nhị và đúng đắn. Nhưng mỉa mai thay, biết bao người mang danh theo Chúa lại tỏ ra vô ơn với những người làm ơn cho ḿnh nhiều hơn người thường!

3. Biết ơn ai? – Bốn trọng ân trong đời sống con người

Trong Phật giáo, có bốn trọng ân mà người Phật tử thường được các sư tăng nhắc nhở, nhất là vào dịp lễ Vu Lan (rằm tháng 7 âm lịch): ơn cha mẹ, ơn tam bảo (Phật, Pháp, Tăng), ơn tổ quốc xă hội, và ơn thầy bạn. Chúng ta thử khai triển bốn trọng ân ấy trong chiều hướng Kitô giáo.

· Ơn cha mẹ: Cha mẹ trước tiên của chúng ta là Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa đă tạo dựng và sinh thành chúng ta, cho ta sự sống siêu nhiên lẫn tự nhiên, đồng thời ban cho ta đủ mọi ơn để duy tŕ và phát triển sự sống ấy. Kế đến là cha mẹ ruột thịt của ta, là người sinh ra ta, nuôi dưỡng giáo dục ta nên người. Công ơn của cha mẹ ta to lớn biết bao! Ca dao có câu: “Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”. Người trần gian mà ta phải biết ơn nhất là cha mẹ.

· Ơn tam bảo: là công ơn của những người đă đem lại cho ta đời sống tâm linh, làm cho đời sống tâm linh ta phát triển và trở nên phong phú.

– Người đầu tiên mà ta phải nói tới là Đức Giêsu, Đấng chủ chốt đem lại đời sống tâm linh cũng là vị Thầy lớn nhất về đời sống này cho mọi người Kitô hữu. Ngài cũng là Đấng cứu chuộc để ta có lại đời sống thần linh, siêu nhiên của Thiên Chúa đă bị mất từ thời nguyên tổ, trước khi ta sinh ra. Bên cạnh Đức Giêsu có Mẹ của Ngài là Đức Maria. Theo niềm tin của người Công giáo, tất cả mọi ơn Thiên Chúa ban, đều nhờ Mẹ và qua tay Mẹ.

– Kế đến là Lời Chúa, hay Kinh Thánh và Tin Mừng, là phương tiện hữu hiệu nhất Thiên Chúa dùng để soi sáng cho ta đi đúng đường, hầu phát triển đời sống thần linh và tâm linh của ta. Ta cần phải biết ơn bằng cách năng đem ra suy gẫm để thực hành những ǵ Lời Chúa chỉ dạy.

– Giáo Hội các cấp (toàn cầu, địa phương, giáo xứ, cộng đoàn cơ bản), là yếu tố nhân sự để tiếp nối công tŕnh của Đức Giêsu, đồng thời là môi trường đào tạo và nuôi dưỡng đời sống tâm linh của ta. Nói một cách cụ thể hơn đó là các tông đồ, các vị chủ chăn các cấp mà gần nhất là cha xứ, những người dạy dỗ ta về mặt tâm linh (các nhà thần học, tu đức, các giáo lư viên, các huynh trưởng hội đoàn, v.v…)

Đó là Tam Bảo của Kitô giáo, là các đại ân nhân của chúng ta, mà chúng ta phải luôn luôn yêu mến và tỏ ḷng biết ơn.

· Ơn tổ quốc và xă hội: Chúng ta không chỉ sống trong gia đ́nh và Giáo Hội, mà c̣n sống trong ḷng quốc gia dân tộc nữa. Quốc gia xă hội đă tạo cho chúng ta những điều kiện dễ dàng để có một đời sống ấm no, yên vui, hạnh phúc, một cách bao trùm, tổng quát, vượt khỏi khả năng hạn hẹp của cha mẹ, gia đ́nh ta. Chúng ta được sống trong an vui, là do công sức của biết bao người đă từng hy sinh xương máu để bảo vệ tổ quốc, đă vắt óc ra để đưa ra những chính sách sáng suốt hầu phát triển xă hội về kinh tế, văn hóa, v.v… làm cho đời sống của ta tươi đẹp. Để thấy được công lao của quốc gia xă hội, ta thử tưởng tượng nếu ḿnh sống một ḿnh trong rừng, ta sẽ thấy thiếu thốn và không được bảo vệ như thế nào!

· Ơn thầy bạn: Trong đời sống của ta, ta c̣n biết bao người phải mang ơn, trước hết là những vị thầy đem lại cho ta đời sống tri thức, những người giáo dục ta nên người. Sau là những bà con thân thuộc, bạn bè, những người quen biết… Biết bao người đă vô t́nh hoặc cố ư làm ơn cho ta trong tất cả mọi lănh vực mà ta có thể biết hoặc không biết. Chúng ta có bổn phận phải biết ơn và t́m cách trả ơn những người ấy.

Cầu nguyện

Lạy Cha, xin cho con ư thức được rằng ḷng biết ơn chính là thước đo của t́nh yêu đối với Thiên Chúa, nhân loại, Giáo Hội, xă hội, và tha nhân, và cũng là tiêu chuẩn đánh giá lương tâm và tư cách một con người. Xin giúp con ư thức được những hồng ân mà Chúa ban cho con từng giây từng phút, để con nhận ra được hạnh phúc Chúa ban hầu cảm tạ Chúa. Xin cho con luôn nhạy bén nhận ra t́nh thương, sự hy sinh, những ơn huệ, những cử chỉ yêu thương của những người chung quanh đối với con, để con cảm thấy hạnh phúc v́ được yêu thương, đồng thời biết đáp trả bằng chính t́nh yêu chân thành và sự hy sinh của con. Xin cho con biết luôn cầu nguyện và mong ước những sự tốt lành cho các ân nhân của con. Amen.