|| Trang Chủ || Chia sẻ || Tập san || Thông hiệp ||

 

* Các bài suy niệm CHÚA NHẬT 27 THƯỜNG NIÊN – C

Lời Chúa: Kb 1, 2-3; 2, 2-4; 2Tm 1, 6-9.13-14; Lc 17, 5-10

* Các bài suy niệm Lễ ĐỨC MẸ MÂN CÔI

Lời Chúa: Cv. 1,12-14; Gl. 4,4-7; Lc 1,26-38

 

MỤC LỤC

CHÚA NHẬT 27 THƯỜNG NIÊN – C.

1. Đức tin.

2. Làm điều phải làm.

3. Hăy bật rễ lên.

4. Nhận và cho không vị lợi

5. Ai là người thay đổi?.

6. Phép lạ của ḷng tin.

7. Đức tin - McCarthy.

8. Phục vụ - McCarthy.

9. Suy niệm của William Barclay.

10. Chú giải của Noel Quesson.

11. Chú giải của Fiches Dominicales.

12. Đức tin và khiêm nhường.

13. Khiêm nhường và tin tưởng.

14. Đức tin.

15. Niềm tin.

16. Đức tin.

Lễ ĐỨC MẸ MÂN CÔI.

1. Kinh Mân Côi

2. Suy niệm của ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

3. Đức Chúa ở cùng Bà.

4. Tôi là nữ tỳ của Chúa.

5. Kinh Mân Côi – Lời kinh kỳ diệu.

6. Kinh Mân Côi – Lời kinh kết nối (Lc 1,26-38)

7. Mẹ Mân Côi – Mẹ chiến thắng.

8. Mân Côi, bản tóm lược Tin Mừng.

9. Kinh Mân Côi

10. Cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi – ĐGM. Bùi Tuần.

11. Thánh Mẫu Mân Côi

12. Canh tân đời sống, lần chuỗi Mân Côi

13. Kinh Mân Côi

14. Lễ Đức Mẹ Mân Côi

15. Mẹ đầy ơn phước

  

CHÚA NHẬT 27 THƯỜNG NIÊN – C

1. Đức tin

Nếu các con có được một đức tin bằng hạt cải.

Giả sử như chúng ta có được một cỗ máy thời gian đi ngược ḍng lịch sử trở về trước một thế kỷ. Khi gặp gỡ những người của năm 1895 và đưa cho họ tờ nhật báo hôm nay, chắc hẳn tờ nhật báo ấy là một cái ǵ xa lạ và họ chẳng hiểu được bao nhiêu. Chỉ cần nêu ra một số từ ngữ, chẳng hạn như phi thuyền, siêu thị, chứng khoán, vi tính...

Nếu như họ hỏi: Truyền h́nh là ǵ? Hẳn chúng ta sẽ không ngần ngại trả lời đó là một chiếc máy giúp chúng ta nh́n thấy sự việc xảy ra ở bên Pháp, bên Mỹ, bên Tàu đúng lúc nó đang thực sự xảy ra ở những nơi ấy. Giả sử họ hỏi: Hoả tiễn hạch tâm tầm xa là ǵ? Hẳn chúng ta sẽ sẵn sàng trả lời đó là một trái đạn khổng lồ được bắn đi có thể tiêu diệt bất kỳ thành phố nào cách xa hàng ngàn cây số. Giả sử họ hỏi: đổ bộ mặt trăng là ǵ? Chúng ta sẽ mau mắn cắt nghĩa đó là việc con người dùng phi thuyền bay lên và đáp xuống mặt trăng.

Trước những câu trả lời này, dân chúng của thế kỷ trước sẽ nghĩ ǵ về chúng ta? Chắc hẳn họ sẽ cho chúng ta là những kẻ điên khùng, bởi v́ một người tỉnh táo thời bấy giờ sẽ cho rằng chúng ta không thể ngồi ở Việt Nam mà lại biết được những việc đang xảy ra ở bên Pháp, bên Mỹ và bên Tàu. Và họ cũng cho rằng chúng ta không thể nào bay được như một con chim để lên tới mặt trăng. Câu chuyện khoa học giả tưởng trên cho chúng ta thấy: điều mà dân thế kỷ này cho là vô nghĩa và bất khả, th́ đối với dân thế kỷ khác lại là chuyện đương nhiên và b́nh thường. Điều mà dân thế kỳ này không bao giờ dám mơ ước th́ đối với dân thế kỷ khác lại là chuyện b́nh thường.

Và bây giờ cùng với cỗ máy thời gian ấy, chúng ta đi vào tương lai, tới năm 3000. Trên những tờ báo lúc bấy giờ không c̣n đăng tải những tin tức về bạo lực, nghèo đói và chiến tranh, mà chỉ có t́nh yêu, sự thịnh vượng, hoà b́nh và thân hữu. Chắc hẳn chúng ta sẽ nghĩ thầm rằng một thế giới như vậy chỉ là chuyện mơ tưởng, không thực, bởi v́ ở đâu có loài người th́ ở đó có bạo lực, có hận thù, có bóc lột và giàu nghèo.

Thế nhưng, từ đó chúng ta đi tới một kết luận: Nếu chúng ta tin rằng hoà b́nh không thể có trên mặt đất, th́ làm sao chúng ta thành công trong việc xây dựng nó. Nếu chúng ta cho rằng tự cơi ḷng con người vốn ích kỷ, th́ chắc hẳn chúng ta không thể tạo được một xă hội công bằng.

Tuy nhiên với đức tin, chúng ta phải nh́n nhận rằng có thể có b́nh an trên mặt đất, có t́nh yêu giữa con người và có sự hoà điệu giữa các dân tộc. Sở dĩ như vậy là v́ Đức Kitô đă đến giữa chúng ta, dạy cho chúng ta cách sống, cách thực hiện những điều trên. Đây chính là sứ điệp Ngài muốn gởi gắm chúng ta qua đoạn Tin Mừng sáng hôm nay.

Nếu các ngươi có được một đức tin bằng hạt cải, các ngươi có thể chuyển núi dời sông. Nhờ đức tin mà chúng ta có được quyền năng của Thiên Chúa trong tầm tay của ḿnh. Và với quyền năng ấy, không ǵ là không có thể, kể cả một thế giới không c̣n chiến tranh, hận thù và nghèo đói.

 
 

2. Làm điều phải làm

Suy Niệm

Người đầy tớ đi cày hay đi chăn chiên suốt ngày. Khi chiều về, anh c̣n phải lo cơm nước cho chủ. Anh chỉ được ăn uống nghỉ ngơi khi chủ đă ăn xong. Đó là chuyện hết sức b́nh thường và tự nhiên đối với một người làm công được ông chủ mướn. Chủ không cần phải tỏ ḷng biết ơn anh đầy tớ v́ anh đă vâng phục mọi lệnh truyền của ông.

Chúng ta có thể là một Kitô hữu đạo đức, có thể đă vất vả nhọc nhằn phụng sự Chúa suốt đời. Nhưng Thiên Chúa không phải chịu ơn hay mắc nợ chúng ta, và chúng ta không có quyền đ̣i Ngài phải trả công cho xứng. Đơn giản chúng ta là tôi tớ của Thiên Chúa, chúng ta chỉ làm điều phải làm.

Khó biết chừng nào khi làm được nhiều điều tốt đẹp mà vẫn giữ tấm ḷng khiêm nhu.

Những việc đạo đức chúng ta làm có thể khiến chúng ta tự măn trước Thiên Chúa. Đó là sa ngă của một số người Pharisêu và đó vẫn là cám dỗ thường xuyên của chúng ta.

Người Pharisêu lên đền thờ cầu nguyện, mà thực ra là khoe công trạng của ḿnh (x. Lc 18,9-14).

Công trạng, công đức, công nghiệp có thể thành vật cản khiến tôi chỉ thấy sự thánh thiện của tôi mà không thấy, cũng chẳng cần t́nh thương của Chúa.

Việc tốt tôi làm có thể làm tôi tự tôn trước anh em.

Người anh cả chỉ thấy những năm dài phục vụ cha, không khi nào trái lệnh, nên anh chẳng muốn đón nhận người em út.

Làm thế nào để chúng ta thật sự khiêm hạ trước Thiên Chúa, trước tha nhân và trước cả ḷng ḿnh.

Nhận ḿnh chỉ là đầy tớ b́nh thường, không ǵ nổi bật, ḿnh chỉ cố làm tṛn bổn phận được giao.

Có nhiều bổn phận ta phải chu toàn.

Bổn phận của một thụ tạo trước Thiên Chúa Chí Thánh.

Bổn phận là con cái của Cha trên trời.

Bổn phận là môn đệ trung tín của Đức Kitô.

Bổn phận là anh em của mọi người.

Yêu mến, phụng sự, tôn kính, ca ngợi Thiên Chúa: đó là điều ta chẳng dám tự hào ḿnh đă vuông tṛn.

Giả như ta có làm được điều ǵ sáng danh Chúa th́ cũng là nhờ ơn Chúa đỡ nâng.

Cả một ước muốn tốt lành nơi ta cũng đến từ Chúa.

Thiên đàng không phải là sự trả công của Thiên Chúa. Ngài không kư hợp đồng với người sống đạo đức để rồi Ngài buộc phải cho họ thiên đàng.

Thiên đàng là một quà tặng bất ngờ, ngỡ ngàng, không do công của tôi, nhưng do ḷng tốt của Thiên Chúa.

Thiên đàng hạnh phúc v́ tôi được gần Chúa hơn bao giờ.

Chúng ta không chọn Chúa để được thiên đàng.

Chúng ta mong thiên đàng để được gần Chúa.

Gợi Ư Chia Sẻ

Theo ư bạn, dám hy sinh hạnh phúc đời này để được hạnh phúc đời sau, đó có phải là một tính toán vụ lợi không? Con người có quyền t́m cho ḿnh hạnh phúc thực sự không?

Con người khao khát hạnh phúc thực sự và lâu bền. Bạn nghĩ ḿnh có thể t́m được hạnh phúc đó ở đâu? Ở thiên đàng có thứ hạnh phúc đó không?

Cầu Nguyện

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đă yêu trái đất này, và đă sống trọn phận người ở đó. Chúa đă nếm biết nỗi khổ đau và hạnh phúc, sự bi đát và cao cả của phận người.

Xin dạy chúng con biết đường lên trời, nhờ sống yêu thương đến hiến mạng cho anh em.

Khi ngước nh́n lên quê hương vĩnh cửu, chúng con thấy ḿnh được thêm sức mạnh để xây dựng trái đất này, và chuẩn bị nó đón ngày Chúa trở lại.

Lạy Chúa Giêsu đang ngự bên hữu Thiên Chúa, xin cho những vất vả của cuộc sống ở đời không làm chúng con quên trời cao; và những vẻ đẹp của trần gian không ngăn bước chân chúng con tiến về bên Chúa.

Ước ǵ qua cuộc sống hàng ngày của chúng con, mọi người thấy Nước Trời đang tỏ hiện.

 
 

3. Hăy bật rễ lên

Suy Niệm

Cây dâu là một loại cây tương đối lớn ở đất Israel, nó có bộ rễ rất to và khỏe. C̣n hạt cải là thứ hạt nhỏ xíu như đầu kim. Đức Giêsu dùng một h́nh ảnh rất sinh động để nói lên sức mạnh của ḷng tin: “Nếu anh em có ḷng tin lớn bằng hạt cải, anh em có thể ra lệnh cho cây dâu bật rễ lên, mọc dưới biển, nó sẽ vâng lời anh em.”

Để làm bật rễ một cây dâu thật to, chỉ cần một chút đức tin bé nhỏ, nhưng phải là một thứ đức tin vững vàng mạnh mẽ.

Có nhiều thứ bám rễ trong đời tôi: những khuynh hướng xấu, những thói quen do môi trường, lối nh́n, lối nghĩ, lối đánh giá tha nhân, lối sống đạo theo thói quen, h́nh thức... Rễ chằng chịt khiến tôi khó gỡ ra để ném tất cả xuống ḷng biển.

Chỉ khi có ḷng tin vào quyền năng Thiên Chúa, tôi mới có thể gỡ ḿnh khỏi những ràng buộc, mới làm được những điều tưởng như không sao làm nổi.

Với ḷng tin đơn sơ, kiên vững, các ngư phủ đầu tiên của Hội Thánh chẳng những đă chuyển được núi, dời được non, mà c̣n làm chuyển rung cả thế giới.

“Xin thêm ḷng tin cho chúng con”:

Lời nài xin của các tông đồ cũng là của chúng ta, những người có đức tin nhỏ hơn hạt cải.

Tin là nghe theo lời Chúa, bước ra khỏi thuyền, đi trên sóng gió và tin mặt nước sẽ cứng như đá.

Tin như thế là dấn thân, là buông ḿnh trọn vẹn, là thắng vượt được nỗi sợ và lư luận tự nhiên.

Tin là thái độ can đảm của người trưởng thành, chứ không phải là thái độ dựa dẫm của người ấu trĩ.

Người có ḷng tin th́ làm được những việc lớn lao, v́ người đó đón lấy sức mạnh của Thiên Chúa và để cho sức mạnh ấy tự do hoạt động nơi ḿnh.

Thế giới hôm nay có vẻ từ chối niềm tin, thật ra nó đang t́m kiếm một niềm tin nào đó.

Có biết bao giáo phái đủ loại xuất hiện khắp nơi.

Một số thanh niên Nhật t́m lẽ sống nơi giáo chủ Asahara.

Khi thanh niên Singapore có nhà, có xe và thẻ tín dụng, th́ họ lại thấy thiếu một cái ǵ đó rất sâu.

Con người c̣n khắc khoải hoài cho đến khi gặp được Đấng Tuyệt Đối.

Chúng ta xin Chúa ban thêm ḷng tin cho ta, để cuộc sống của ta bừng tỏa ánh sáng cho những người đang t́m kiếm Chân Lư cứu độ.

 Gợi Ư Chia Sẻ

Ngày nay, nhiều bạn trẻ đánh mất niềm tin vào cuộc sống và không thấy cuộc sống có ư nghĩa. Theo bạn, đâu là những nguyên nhân dẫn đến thái độ chán nản trên đây?

Có những bạn trẻ không tin vào Thiên Chúa, nhưng lại tin vào những nỗ lực của ḿnh. Họ cố xây dựng cuộc đời bằng đôi tay và khối óc. Bạn nghĩ ǵ về họ? Đức Tin có giúp ǵ cho bạn không?

Cầu Nguyện

Lạy Chúa, xin ban cho con đức tin lớn hơn hạt cải, để con làm bật rễ khỏi ḷng con những ích kỷ và khép kín.

Xin cho con đức tin can đảm để con chẳng sợ thiệt tḥi khi trao hiến, chẳng sợ từ bỏ những ǵ con cậy dựa xưa nay.

Xin cho con đức tin sáng suốt để con thấy được thế giới mà mắt phàm không thấy, thấy được Đấng Vô H́nh, nhưng rất gần gũi thân thương, thấy được Đức Kitô nơi những người nghèo khổ.

Xin cho con đức tin liều lĩnh, dám mất tất cả chỉ v́ yêu Chúa và tha nhân, dám tiến bước trong bóng đêm chỉ v́ mang trong tim một đốm lửa của Chúa, dám lội ngược ḍng với thế gian và khước từ những mời mọc quyến rũ của nó.

Xin cho con đức tin vui tươi, hạnh phúc v́ biết những ǵ đang chờ ḿnh ở cuối đường, sung sướng v́ biết ḿnh được yêu ngay giữa những sa mù của cuộc sống.

Cuối cùng, xin cho con đức tin cứng cáp qua những cọ sát đau thương của phận người, để dù bao thăng trầm dâu bể, con cũng không để tàn lụi niềm tin vào Thiên Chúa và vào con người.

 
 

4. Nhận và cho không vị lợi

H́nh như chọn đoạn Phúc Âm hôm nay Giáo Hội chủ ư đặt một tương quan giữa sức mạnh đức tin và phục vụ không vị lợi v́ đức tin. Đức tin làm được những việc phi thường, nhưng xong việc người ta không có quyền chờ mong ân thưởng. Hành động theo đức tin của ḿnh, người tín hữu không được cho là ḿnh có công trạng đặc biệt, nhưng phải nghĩ rằng hành động như vậy là b́nh thường, là tất nhiên, thế thôi –cũng như người nội trợ chu tất công việc gia đ́nh là điều b́nh thường, không cần ǵ khen ngợi. Dụ ngôn mang cái tựa hơi lạ ‘những người đầy tớ vô dụng’, do một sự phiên dịch dễ gây hiểu lầm. Nói đúng ra, đầy tớ nào cũng hữu dụng. ‘Đầy tớ vô dụng’ ở đây có nghĩa đầy tớ làm bổn phận cách b́nh thường. Chúng ta suy niệm về thái độ người có đức tin.

1) Trước hết chúng ta ư thức rằng đức tin là một ân huệ.

Khi các tông đồ nài xin Chúa: Xin Thầy ban thêm đức tin cho chúng con, chắc chắn các ông được Chúa Thánh Linh thần ứng. Thật vậy, đức tin phát sinh và lớn mạnh là trực tiếp nhờ ơn Thiên Chúa. Cũng như cuộc sống hồn xác của chúng ta tùy thuộc một hành vi sáng tạo thiên nhiên, đời sống đức tin của chúng ta tùy thuộc một hành vi yêu thương nâng chúng ta lên tầm cao đời sống siêu nhiên. Trong cả hai hành vi, ân huệ Thiên Chúa tuyệt đối không vị lợi, sáng kiến hoàn toàn là của Thiên Chúa. Có ư thức được như thế mới không dám nghĩ đến đ̣i hỏi yêu sách Thiên Chúa, mới có được tâm t́nh thực tiễn vui sướng, thờ kính cảm tạ. Vả lại tinh thần Phúc Âm của chúng ta nhờ đó được tiếp sức sinh động bằng những việc nhận và cho không vị lợi, bởi lẽ chúng ta nhận được đức tin Thiên Chúa cho không và chúng ta cảm tạ Thiên Chúa mà không đ̣i hỏi Người trả công, ban thưởng.

2) Đức tin phải ở trong thế hành động

Nhân danh đức tin ḿnh, Kitô hữu là một người đầy tớ. Đầy tớ làm việc và phục dịch. Công việc cơ bản người Kitô hữu phải chu tất là ngợi khen Thiên Chúa và phục vụ đồng loại. Hai việc ấy dính liền mật thiết trong một hành vi bác ái duy nhất. Ngợi khen là bày tỏ niềm xác tín và cảm biết Thiên Chúa là Đấng tuyệt đối hoàn toàn hay thương xót, v́ vậy Người có quyền đ̣i hỏi con người thờ kính, vâng phục, cảm tạ. Phục vụ đồng loại là biểu lộ niềm xác tín rằng họ có quyền đ̣i hỏi chúng ta phục vụ họ. Con người đối với nhau trong tư cách anh em, đối với Thiên Chúa trong tư cách con cái. Vậy th́ thờ kính, ngợi khen là ǵ? Đó là h́nh thái cao nhất của cầu nguyện. Phục vụ, bác ái là ǵ? Đó là sự biểu lộ t́nh yêu thương của Thiên Chúa sống động trong con người, là thực hành những điều cảm biết được nhờ cầu nguyện, tức là nhờ việc thờ phụng Thiên Chúa và thực thi bác ái. Đức tin thêm sức mạnh v́ ở trong thế hành động. Sức mạnh tăng thêm cho đức tin, đó là phần thưởng vậy.

 
 

5. Ai là người thay đổi?

(Trích trong ‘Mở Ra Những Kho Tàng’ - Charles E. Miller)

Chúng ta sống trong một thế giới đầy bạo lực và oán ghét. Đó là một thế giới được điều khiển bởi những kẻ sát nhân và điên cuồng. Đó là một thế giới mà những đứa trẻ đă bị phá thai, những trẻ nhỏ đă bị lạm dụng t́nh dục và bị giết chết bởi cha mẹ chúng. Đó là một thế giới mà chính trị, kinh tế đă hư đốn. Có phải sự xấu ở nơi thế giới bây giờ đă h́nh thành từ nhiều thế hệ, hoặc đó là phương tiện truyền thông đă làm cho chúng ta ư thức hơn về những ǵ đang xảy ra?

Habacuc, một tiên tri Do Thái đă sống sáu thế kỷ trước Chúa Kitô. Đó là một thời gian thật sự tồi tệ như thời đại của chúng ta bây giờ. Ở Giuđa, sự nhầy nhụa của chính trị đă lan rộng, nền luân lư hư hỏng, xă hội bất công, sự khinh bỉ những người nghèo, và việc thờ lạy ngẫu tượng đă lờ đi Thiên Chúa của Abraham, của Isaac, của Giacop. Thiên Chúa đă cứu Israel ra khỏi ách nô lệ của Ai cập, đưa dân vào đất hứa, đám dân mà Người đă làm Giao Ước quan trọng đối với họ.

Habacuc là một vị tiên tri bị chán ghét, hầu hết mọi người không ai để ư tới, hoặc là ước mong thống hối và canh tân. Habacuc đă nói một cách rơ ràng không úp mở. Ông ta đă trở lại với Thiên Chúa trong cầu nguyện nhưng không phải trong cách lịch sự của lời kinh cầu, có vẻ thích hợp với oai nghi của Thiên Chúa. Habacuc đă phàn nàn một cách cay đắng với Thiên Chúa. Sự kiên nhẫn của ông đă đến chỗ tận cùng, ông ta đă cầu nguyện: “Ôi Lạy Chúa c̣n bao lâu nữa? Con đă kêu khóc để cầu xin sự giúp đỡ nhưng Ngài đă không lắng nghe. Con đă kêu lên Chúa. Ôi sự dữ! Nhưng Ngài đă không can thiệp”.

Những người khác có thể đă cầu nguyện với Thiên Chúa theo cách này trước Habacuc trong Thánh Kinh như hầu như không ai chú ư tới những điều đó. Habacuc có vẻ như là một tiếng vang mới đă can đảm nói thẳng lên với Thiên Chúa. Sự nhấn mạnh của ông với Thiên Chúa đă được chú ư tới, nhưng sự đáp trả của Thiên Chúa th́ đáng chú ư hơn. Ngài đă không ra lời sấm sét để khiển trách những tạo vật nhỏ bé của Ngài. Thiên Chúa không hỏi: “Tại sao con dám nói với Ta cách như thế”. Đúng hơn Thiên Chúa đă yêu cầu Habacuc kiên nhẫn, tiếp đó Ngài thêm: “Người công chính, bởi v́ đức tin của ngươi sẽ được sống”.

Habacuc là một con người của đức tin. Ông tin rằng Thiên Chúa là Đấng Sáng Tạo phải có trách nhiệm với những tạo vật của Người. Ông ta kêu lên Thiên Chúa, Đấng đă làm một Giao Ước với dân Người hăy nhớ lại sự trung thành của Người, t́nh yêu của Người đối với họ. Habacuc đă phàn nàn đó là sự thật, nhưng ông đă phàn nàn như một người công chính với một Thiên Chúa thật, Đấng có thể tẩy rửa sự xấu xa nơi thế gian này. Ông đă tin rằng Thiên Chúa là Người duy nhất có thể thay đổi. Habacuc là một người có đức tin lớn lao.

Đức tin là một đặc ân. Các tông đồ sợ rằng đức tin của họ đă không mạnh đủ, có lẽ họ nghĩ rằng một điều ǵ đó giống như Habacuc khi họ hỏi Chúa Giêsu: “Lạy Chúa xin tăng thêm đức tin cho chúng con”. Lời nài xin này làm lớn đức tin của họ cách chắc chắn và cần thiết cho chính chúng ta khi chúng ta cầu nguyện nơi Thánh Lễ, đặc biệt là lời cầu nguyện sau khi hiệp lễ, chúng ta xin Chúa sửa lại những điều sai trái trong xă hội của chúng ta.

Sự cầu nguyện của chúng ta sẽ được tràn đầy với sự can đảm, điều đó sẽ đến từ đức tin. Thánh Phaolô đă bảo đảm với Timôthêô;”Thánh Thần của Thiên Chúa đă ban cho chúng ta không phải là một sự hèn nhát nhưng đúng hơn đă làm cho chúng ta mạnh sức, yêu thương và khôn ngoan”. Thánh Thần mà chúng ta đă lănh nhận khi chịu phép rửa. Thánh Thần đó sẽ thúc đẩy chúng ta cầu nguyện với Thiên Chúa với sự trông đợi nhưng cũng với sự khẩn nài không chỉ trong Thánh Lễ và bất cứ nơi nào mà chúng ta cầu nguyện. Khi nào chúng ta cầu nguyện, một người cầu nguyện là một người khôn ngoan, yêu mến và mạnh mẽ để nhận biết rằng Thiên Chúa là Đấng sáng tạo và là Đấng công chính bởi v́ Thiên Chúa là Đấng duy nhất có thể thay đổi.

 
 

6. Phép lạ của ḷng tin

(Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’)

Tại một cộng hoà thuộc Liên Xô cũ, trong một cuộc mít tinh nọ, một giáo sư muốn chứng minh cho cử tọa thấy rằng Chúa Giêsu chỉ là một tên phù thủy lừa bịp. Ông lấy một ly nước, đổ vào đó một ít bột, nước liền đổi ra màu đỏ. Ông tuyên bố với cử tọa như sau:

“Thưa quư vị, tôi vừa mới làm một phép lạ. Ngày xưa Ông Giêsu cũng chỉ làm như tôi vừa làm mà thôi. Ông Giêsu đă biến nước thành rượu theo cách thế tôi vừa làm đó. Nhưng quư vị hăy xem tôi c̣n làm được điều ngoạn mục hơn nữa”. Nói xong, ông lấy một thứ bột khác cho vào nước. Nước từ từ đổi màu, rồi trở lại nguyên trạng.

Trong đám cử tọa, một người đứng lên phát biểu: “Thưa ông, ông quả thực là người tài ba nhưng liệu ông có dám uống thử thứ rượu mà ông vừa chế biến hay không?” Quả thực, ông giáo sư biết ḿnh đang làm tṛ bịp. Nước mà ông đă cho đổi màu ấy chỉ là một hóa chất độc hại. Thấy ông giáo sư chần chừ, người vừa lên tiếng phát biểu mới quay xuống đám đông và b́nh tĩnh giải thích như sau:

“Thưa quư vị, đây là sự khác biệt giữa Chúa Giêsu và ông giáosư nầy: với rượu nho của Ngài, Chúa Giêsu đă rót cho chúng tôi hai ngàn năm hoan lạc rồi. C̣n với thứ rượu mà vị giáo sư nầy chế biến, nhân loại hẳn sẽ bị đầu độc”.

Anh chị em thân mến,

Hai ngàn năm qua, Chúa Giêsu vẫn tiếp tục làm phép lạ trong cuộc sống của mọi con người, đặc biệt là trong cuộc sống của những ai tin vào Chúa. Mỗi cuộc đời Kitô hữu là một phép lạ phi thường của Chúa Giêsu. Trong phép lạ lớn lao ấy c̣n hàm ẩn biết bao phép lạ khác nữa. Chúa Giêsu hôm nay đă nói: “Nếu anh em có ḷng tin nhỏ xíu bằng hạt cải thôi, anh em có thể truyền lệnh cho cây dâu nầy bật gốc lên, xuống mọc dưới biển kia cũng được”. Nói như thế, Chúa Giêsu không muốn nói rằng đức tin có khả năng làm phép lạ như một sức mạnh phù phép, bùa chú, hiểu theo nghĩa đen là “chuyển núi dời non”, “bứng rừng trồng xuống biển”. Nhưng Ngài muốn nói: đức tin là một động lực thúc đẩy chúng ta dám nghĩ, dám làm những việc to lớn, phi thường mà nếu không có ḷng tin, chúng ta không dám hành động. Bởi v́, người có ḷng tin th́ hành động bằng quyền năng của Thiên Chúa, chứ không phải bằng khả năng giới hạn của ḿnh. Do đó, người có ḷng tin có thể làm được những việc mà chỉ có quyền năng vô biên của Thiên Chúa mới làm được. Thực ra, không phải là người ấy hành động nữa mà là chính Thiên Chúa hành động trong người ấy và qua người ấy.

Nhờ đức tin thúc đẩy, chúng ta dám khởi công bắt ta vào việc xây dựng cuộc sống cho ḿnh, cho anh chị em ḿnh, rồi Chúa sẽ tiếp tay giúp sức chúng ta bằng quyền năng vô biên của Ngài, để hướng dẫn và biến đổi công việc nhỏ bé của chúng ta trở thành công tŕnh to lớn, vĩ đại, phi thường. Nếu chúng ta không bắt tay vào việc là dấu chứng tỏ chúng ta chưa tin, hoặc không tin. Có tin, chúng ta mới dám làm, chưa làm hay không làm là v́ chưa tin hay không tin. Đức tin đ̣i phải có hành động. Thánh Giacôbê tông đồ đă nói: “Đức tin không có việc làm là đức tin đă chết rồi” (Gc 2,17). Ngài lấy ví dụ: “Nào có ích ǵ, nếu người nào rêu rao ḿnh có đức tin trong khi chẳng chịu làm ǵ cả? Nếu có anh chị em nào thiếu ăn thiếu mặc mà một người nào trong anh chị em lại nói với họ: ‘chúc anh chị em đi b́nh an, ăn no mặc ấm’, mà không cho họ những ǵ cần thiết để ăn mặc, th́ nào có ích ǵ? Đức tin đó có cứu được người ấy không? Cũng vậy, đức tin không có việc làm là đức tin đă chết mất rồi” (Gc 2,14-17). Bởi v́ đức tin sống bằng đức ái. Đức tin phải được biểu lộ trong sự thông cảm, tha thứ, chia sẻ cho nhau cái ăn cái mặc, và nhất là biểu hiện trong sự phục vụ, làm tôi tớ lẫn nhau một cách vô điều kiện.

Thưa anh chị em,

Sống đức tin là sống phục vụ. Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu dùng một câu chuyện b́nh dân trong chế độ xă hội phong kiến ở thời đại Ngài mà dạy chúng ta bài học phục vụ. Chế độ phong kiến là chế độ có chủ có tớ, có địa chủ và nông nô. Tớ phải hầu hạ chủ như là chuyện đương nhiên. Chủ không bao giờ mang ơn tớ, cũng là chuyện coi như đương nhiên. Nhưng Chúa Giêsu công bố một đạo lư Tin Mừng khác hẳn quan điểm phong kiến đó. Chính Ngài đă “đến không phải để được hầu hạ, nhưng để làm tôi tớ mọi người” (Mt 20,28), và Ngài đ̣i hỏi: “Ai lớn nhất trong anh em phải làm tôi tớ mọi người” (Mc 9,35). Tin Chúa, theo Chúa là đem cả cuộc đời ḿnh hiến thân phục vụ anh em như một chuyện đương nhiên, không đ̣i hỏi được đền ơn, đáp nghĩa, được biểu dương hay khen thưởng. Tin Chúa, theo Chúa không để chi lo cho phận riêng ḿnh cách ích kỷ, không chạy theo lợi lộc, không t́m thăng quan tiến chức, nhưng để phục vụ mọi người như lẽ sống đời ḿnh. Thái độ phục vụ không kể công, không vụ lợi là một yếu tố quan trọng đối với đời sống cộng đồng Giáo Hội cũng như xă hội. Sự đ̣i hỏi người khác biết ơn và đền ơn, đó là hành động của ước muốn thống trị và là bước đầu đưa tới thống trị trên người khác. Muốn cho tương quan trong cộng đồng xă hội măi măi trong sáng là tương quan huynh đệ, Chúa Giêsu đă dạy cách phục vụ không vụ lợi, không kể công. Có làm được điều ǵ tốt lành th́ đó là việc phải làm chứ chẳng có ǵ để mà vênh vang tự đắc, nghĩa là ḿnh có quyền đ̣i Chúa hay mọi người biết ơn. Do đó, mỗi khi hoàn thành nhiệm vụ, mỗi người phải khiêm tốn tự nhận ḿnh chỉ là “người tôi tớ tầm thường, v́ đă làm việc bổn phận đấy thôi.”

Anh chị em thân mến,

Nếu nhờ đức tin, mọi người đều lấy ḿnh làm tôi tớ lẫn nhau th́ chắc chắn đức tin ấy sẽ làm được những việc phi thường. Đó là phép lạ của đức tin có hành động. Và cũng chính hành động nầy sẽ kiểm tra chất lượng đức tin của chúng ta xem nó bằng bao nhiêu sánh với hạt cải bé nhỏ. V́ nếu chúng ta có được ḷng tin nhỏ bé bằng hạt cải thôi, chúng ta có thể “chuyển núi dời non”, “bứng rừng trồng xuống biển” cũng được. Đức tin có một sức bật kỳ diệu như vậy. Nhà vật lư Archimède đă nói: “Nếu có thể t́m được một điểm tựa bên ngoài vũ trụ, th́ với một đ̣n bẫy, người ta có thể nâng bổng cả vũ trụ lên”. Và văn hào Kierkegaard đă nói: “Điểm tựa ấy chính là đức tin”. Đức tin có cả một sức bật như vậy, nó có khả năng biến đổi cả xă hội, cả thế giới đầy những bất công, bạo lực, chia rẽ, chiến tranh nầy thành một vương quốc của t́nh yêu, thành một “Trời Mới Đất Mới” trong ngày Cánh Chung.

 
 

7. Đức tin - McCarthy

Maurice là một người nghiện rượu. Khi một linh mục đến thăm anh th́ anh sống trong tầng hầm với con chó trong khi vợ anh sống trên căn gác. Về pháp lư, họ đă ly dị và chờ bán xong căn nhà để rồi chia tay.

Anh ta đă có một cuộc sống gian khổ. Hầu hết những rối loạn của anh bắt nguồn từ việc uống rượu mạnh. Anh nói hiện giờ anh uống chừng mực – nhưng nhiều người nghiện rượu vẫn nói thế. Có lần trong một cơn tuyệt vọng, anh đặt đầu súng vào miệng ḿnh, nhưng khi nh́n thấy trên ngón tay ḿnh chiếc nhẫn Mân Côi mà em gái anh cho anh, anh không thể bóp c̣.

“Con vẫn c̣n tin Thiên Chúa” anh nói. Rồi nước mắt chảy trên khuôn mặt, anh nói tiếp “Nhưng con ao ước có được đức tin mà con đă có khi c̣n trẻ”.

“Điều ǵ làm cho đức tin ấy đẹp đến thế?”linh mục hỏi.

“Khi con c̣n trẻ, con đă tin tưởng mọi việc – rất nhiều việc. Con đă chắc chắn về mọi sự. Nhưng thứ đức tin ấy không kéo dài. Giờ đây, con không tin chắc điều con phải tin. Con tra hỏi mọi việc. “ Anh ngừng lại sau đó buồn bă nói tiếp: “Có thể vợ con và con sẽ sống chung trở lại. Nhưng con đă làm mất t́nh cảm mà con đă có với cô ấy”.

“Anh đă đau khổ nhiều phải không Maurice?” linh mục nói.

“Cha khỏi phải nói điều đó”, anh đáp.

“Anh có cảm thấy Thiên Chúa ở với anh trong suốt những năm anh say sưa?” linh mục hỏi.

“Con cảm thấy điều đó, có lẽ trừ lúc con định tự tử. Con đă cảm thấy bị bỏ rơi đến tận cùng”.

Ở đây, người ta có thể cảm nhận phần nào nỗi cô đơn và đau buồn xé ruột nằm sâu trong mỗi con người mà đức tin đă mất. Tuy nhiên, đức tin của Maurice không hoàn toàn mất. Một vài sự vật bên ngoài đă bị cắt xén. Nhưng vẫn c̣n cái lời bên trong, đó là niềm xác tín rằng Thiên Chúa hiện hữu và chăm sóc anh ta.

V́ thế, anh bám chặt lấy đức tin thời niên thiếu. Bấy giờ, mọi vật đơn giản, rơ ràng và chắc chắn. Anh không nhận thấy rằng những thay đổi lớn lao đă xảy ra trong anh. Một vực thẳm đă ngăn cách anh với tuổi thơ của anh ngày trước.

Chúng ta không thể không cảm thấy có thiện cảm với anh. Nhiều người bám chặt lấy đức tin có khi c̣n thơ ấu. Và cũng đúng thôi – nó là cái ǵ đẹp. Nhà thơ Emily Dickinson nói:

Chúng ta bắt đầu hiểu rằng chúng ta đă tin có một lần và trọn vẹn.

Niềm tin không hợp lắm khi thường hay biến đổi.

Chúng ta thẹn đỏ mặt, nếu chúng ta thực hiện được thiên đàng, một biến cố khôn tả.

Chúng ta hẳn đă tránh xa, thậm chí xấu hổ và nhận được phép lạ.

Chúng ta cứ măi nắm lại ư nghĩa tôn giáo của thế giới thơ ấu đă qua của chúng ta. Nhưng tất cả chúng ta phải để lại tuổi thơ đàng sau ḿnh và cùng với nó một thế giới của những điều chắc chắn. Đức tin tuổi thơ đi qua hoặc ít nhất đă đổi thay. Tuy nhiên, không phải Thiên Chúa đổi thay mà chính chúng ta thay đổi. Tuy nhiên, cảm thấy như Maurice cảm thấy không có nghĩa là chúng ta đă mất đức tin. Tất cả điều ấy có nghĩa là chúng ta đang chiến đấu với đức tin.

Đức tin thơ mộng của tuổi thơ không thể bám giữ măi được. Đức Giêsu nói chúng ta phải vào Nước Trời như một trẻ nhỏ, nhưng Người không nói chúng ta phải có đức tin của đứa trẻ. Đức tin của chúng ta phải là một đức tin trưởng thành, một đức tin đă vượt qua những sự phức tạp và mơ hồ của đời sống.

Mọi người chúng ta có thể lấy lại lời cầu nguyện của các tông đồ: “Lạy Chúa, xin tăng thêm đức tin cho chúng con”, bởi v́ giữ ǵn đức tin chưa đủ; chúng ta phải trưởng thành trong đức tin. Đức tin trưởng thành khi nó thực hành. Đức tin cũng trưởng thành nhờ được nuôi dưỡng đều đặn. Chúng ta nuôi dưỡng đức tin như thế nào? Bằng việc cầu nguyện và tiếp xúc với cộng đoàn đức tin.

 
 

8. Phục vụ - McCarthy

Trong số những người có đạo, có một xu hướng nghĩ rằng Thiên Chúa phải ban cho họ một điều ǵ đó. Họ tưởng tượng Thiên Chúa như một ông chủ điển h́nh. Nếu chúng ta thực hiện xong công việc th́ theo lẽ công bằng, ông chủ trả tiền lương cho chúng ta. Thiên Chúa ban cho chúng ta phần thưởng thiên đàng v́ chúng ta đă trung tín phục vụ Người khi ở trần gian. Đây là thái độ rất dễ hiểu. Nhưng nó đưa ra một thái độ làm thuê, vụ lợi vào điều mà chủ yếu phải được xem là một việc làm yêu thương giữa Thiên Chúa và chúng ta. Mặt khác, nó hoàn toàn không giống với Tin Mừng.

Sự thật nổi bật là: chúng ta không bao giờ có thể đặt Thiên Chúa trong tư thế mắc nợ chúng ta. Đức Giêsu nói rằng dù khi chúng ta đă làm hết mọi việc mà chúng ta hy vọng làm được (và ai trong ta dám liều lĩnh xác nhận điều đó?) Chúng ta cũng không thể đưa ra bất cứ đ̣i hỏi nào với Thiên Chúa. Trong thời đại của Đức Giêsu, đạo Do thái đă bị ư tưởng công nghiệp chi phối. Đức Giêsu đă đối đầu với thái độ đó.

Chân lư nền tảng về Kitô giáo là chúng ta có một tôn giáo của ân sủng chứ không phải một tôn giáo của công nghiệp. Sự cứu chuộc không thể kiếm được. Chúng ta không bao giờ có thể cho rằng Thiên Chúa mắc nợ chúng ta. Nhưng chúng ta cũng không nên có quan niệm đó. Thiên Chúa là Cha chúng ta. Chúng ta là con cái của Người. Con cái không thực hiện ư muốn của cha ḿnh để được thưởng công. Chúng làm điều đó bởi v́ chúng muốn cố gắng đáp lại t́nh yêu thương của người cha dành cho chúng.

Quả là một niềm vui lớn khi chúng ta khám phá rằng không phải chúng ta không cần chứng tỏ ḿnh với Thiên Chúa. Không phải chúng ta kiếm được t́nh yêu Thiên Chúa. Thiên Chúa yêu thương chúng ta từ lâu trước khi chúng ta có thể làm một điều ǵ đó xứng đáng với t́nh yêu đó. Và Người yêu thương chúng ta cả khi chúng ta là những tội nhân. Nhiệm vụ của chúng ta là đáp lại t́nh yêu Thiên Chúa.

Chúng ta không giữ các giới răn để Thiên Chúa sẽ yêu thương chúng ta; chúng ta giữ các giới răn bởi v́ Thiên Chúa yêu thương chúng ta. Tin Mừng có thể được tóm tắt như sau: Một Thiên Chúa quảng đại muốn các môn đệ phục vụ Người v́ yêu thương không phải v́ bổn phận. V́ thế, đức tin không đủ; chúng ta cũng cần có t́nh yêu. Trong khi đức tin làm cho mọi việc có thể, t́nh yêu làm cho mọi việc dễ dàng.

Các công việc quảng đại nhất và anh hùng nhất trong đời sống là những công việc hoàn thành, không phải trong đường lối của bổn phận hoặc với niềm hy vọng có được tiền bạc hoặc những phần thưởng nào khác, nhưng chỉ thuần túy v́ t́nh yêu. Chúng ta hăy xem xét tấm gương sau đây.

Buổi chiều muộn của một ngày mùa đông giá rét. Mọi người đều vội vă trở về nhà. Th́nh ĺnh một tiếng kêu vang lên: “Có một người dưới ḷng sông”. Người ta chạy đến bờ hè và nh́n xuống ḍng nước đầy bùn, dơ bẩn. Đúng là có một người đàn ông đang dập dềnh trong nước đen. Tiếng kêu cứu tuyệt vọng đến những người đứng nh́n trong tiếng ồn ào của xe cộ.

Rồi với một tiếng két của thắng xe, một chiếc xe hơi quẹo ra khỏi luồng xe và cặp vào chỗ đậu xe sát lề đường. Một thanh niên nhảy ra khỏi xe, cởi áo và giày rồi leo lên chỗ bờ hè, quan sát thật nhanh và lao xuống nước bùn. Sau một vài nỗ lực không thành công, anh ta đă túm được người bị nạn và đưa người này đến chỗ an toàn.

Trên lề đường, một đám đông tụ tập xung quanh người bị nạn và chờ cho xe cứu thương đến. Ngay lúc đó, xe cứu thương đến và đưa người ấy đến bệnh viện. Ít lâu sau người ấy khỏe hẳn sau cơn thử thách. Một phóng viên đi qua, thấy câu chuyện có thể được khai thác, bắt đầu t́m kiếm thông tin. Nhưng thay v́ t́m kiếm sự tôn vinh và tán thưởng của dân chúng, người cứu nạn đă biến mất.

Điều Thiên Chúa muốn chúng ta làm là chúng ta phải đến với Người như con cái đến với Cha ḿnh, Người muốn chúng ta xử sự một cách vinh dự, không phải v́ hy vọng được thưởng, mà v́ yêu thương Người và nhiệt thành phục vụ Người.

Sự cứu chuộc là một ơn huệ chứ không phải là một  phần thưởng. Một phần thưởng là một vật to lớn, nhưng nó không thể so sánh với niềm vui của một người cảm thấy khi nhận được một ân huệ.

 
 

9. Suy niệm của William Barclay

Với dụ ngôn người giàu và La-da-rô nghèo, Chúa quở trách những ai dùng của cải cách ích kỷ, sau đó Lu-ca ghi lại bốn điều Chúa cảnh giác môn đệ.

Điều thứ nhất: Chúa cảnh cáo về hiểm họa gây phạm tội cho kẻ khác, thế giới này đầy những tội lỗi, nhưng khốn cho ai gây cơ hội vấp phạm. Điều thứ hai Ngài khuyên các môn đệ phải sống bác, sống trong một thế giới đầy những dịp lôi cuốn vào tội ác, chắc chắn sẽ có người vi phạm, nhưng nêu thật ḷng ăn năn, hăy tha thứ, dầu trong ngày tha đến bảy lần.”

Mười hai môn đệ có lẽ v́ cảm thấy trách nhiệm nặng nề nên xin Chúa ban thêm đức tin cho. Câu trả lời của Chúa ngụ ư một lời cảnh cáo long trọng, Ngài cho biết điều họ xin thêm đó là cần thiết, cần thiết hơn họ tưởng nhiều lắm. Tuy nhiên trong câu trả lời dấu ẩn một lời hứa nhân từ. Ngôn ngữ Đông phương vốn linh động, có tính cách thật mạnh mẽ. Các câu nói của Chúa có nghĩa rằng dầu những việc coi như không có thể càng trở thành có thể nếu chúng ta có đức tin. Chúng ta chỉ cần nghĩ đến con số lớn lao về những khám phá lạ lùng trong lănh vực khoa học, về những thành công trong ngành giải phẫu, về những kỷ lục mà thế giới ngày nay đă đạt được, th́ năm mươi năm trước đây các việc đó kể như không thể có được. Nếu ta đề cập đến một việc sẽ không xảy ra, song nếu chúng ta nói “việc này phải xảy ra” th́ việc đó có khả năng xảy ra. Cần nhớ rằng chúng ta không làm việc một ḿnh, nhưng c̣n có Chúa và tất cả quyền năng Ngài ở với chúng ta. Mà với Chúa mọi sự đều có thể.

Mẹ Basilea, người sáng lập ḍng Đức Mẹ Truyền Giáo tại Đức sau thế chiến thứ II. Mục tiêu của ḍng nhằm sống đời thờ phượng, tin cậy Ngài lo liệu cho mọi nhu cầu của họ. Với phần lớn tin cậy Ngài lo liệu cho mọi nhu cầu của họ. Với phần lớn các nữ tu trẻ, họ đă mua được bất động sản đầu tiên tại Darmstadt. Họ tin cậy Chúa về khoản thu nhập để xây dựng dần dần; trước hết là một nhà nguyện, rồi sau đó đến các nhà khác để tiếp đón những ai muốn tới để tĩnh tâm. Các chị đă mua được tất cả các mảnh đất ở chung quanh, chỉ trừ một mảnh nhỏ kế bên nhà của họ, các chị tin rằng bằng sự cầu nguyện kiên tŕ rồi ra các chị cũng mua được mảnh đất đó để làm nơi hội thảo về Chúa Giêsu.

Mảnh đất đó thuộc về một bà cao tuổi, bà từ chối bán hay đổi cho bất cứ miếng đất nào khác, v́ lư do độc nhất đây là của ông bà cha mẹ để lại, bà không thể để lại cho ai. Một lần kia, xơ Eulalia đến thăm với hy vọng thuyết phục được bà cụ. Bà cụ vắng nhà, nhưng có người cháu. Anh ta dẫn nữ tu vào căn pḥng của bà d́ chỉ cần nh́n qua, xơ cũng thấy rằng bà cụ sẽ không từ bỏ bất cứ vật sở hữu nào bao lâu c̣n sống. Pḥng chất đầy đồ đạc, đủ để trang trí cho cả ṭa nhà lớn, hâu hết đều đă ọp ẹp, cũ kỹ. Sau đó người cháu chỉ cho khách xem cái thang mà bà d́ dùng để leo lên giường, cái giường của bà là một chồng nệm được thừa hưởng của tiền nhân, cái này chồng lên cái kia. Rơ ràng bà già này không hề bỏ đi một thứ nào trong số các đồ bà thừa kế. Khi mẹ Eulalia thuật lại cho các chị đều đă thấy, các chị em đều đi đến quyết định muốn giải phóng cho một người quá bị ràng buộc vào những thứ thuộc về thế giới vật chất này, chỉ c̣n cách duy nhất là cầu nguyện rất sốt sắng, cảm thông sâu sắc và không ngưng nghỉ. Lư do của trận chiến này không phải là một mảnh đất để xây dựng một nơi thờ phượng, nhưng là một linh hồn bị trói buộc.

Các chị quyết định ăn chay v́ nhớ tới Chúa: “Thứ quỷ này không ăn chay và cầu nguyện th́ không trừ được nó,” (Mt 17, 21). Thêm vào hai điều trên các chị c̣n từ bỏ một điều có liên quan mật thiết đến t́nh trạng nô lệ của bà cụ. Các chị em ḍng vốn đă sống đơn giản rồi, các chị không có nhiều tiền, và không có bất cứ tài sản riêng nào. Nhưng các chị em đều t́m cầu Chúa, xin Chúa cho ḿnh thấy bất cứ điều ǵ đă gắn bó ḿnh hơn ḿnh gắn bo1 với Chúa. Sự gắn bó của người này có thể là cây thánh giá bằng gỗ, người kia là một bưu thiếp có h́nh ảnh đẹp… giá trị tiền bạc không quan trọng, điều quan trọng là thái độ lệ thuộc của ta với việc hay người ấy. Sau “một tuần lễ đầu phục”, chị em cử một chị tới thăm bà cụ hàng xóm.

Chị đặc phái viên không thể tin ở tai ḿnh khi nghe bà cụ bảo: “Tôi không tiếc mảnh đất này lắm, nhưng tôi tiếc mấy cây mận, tôi thật không muốn mất mấy cây mận đó!” Bà cụ bằng ḷng bán đất, nhưng chỉ tiếc mấy cây mận. Thật Chúa đă làm một phép lạ!

Hai bên bèn thảo tờ cam kết mua bán, quy định rằng mọi vật ở trên các cây mận đều thuộc về quyền bà cụ. Và sau đó, hằng năm, các chị đều gởi số mận đó cho bà cụ cho tới khi bà qua đời.

Lời cảnh cáo thứ bốn được ghi lại ở đây là quở trách tính tự măn kiêu căng, thích ca tụng khen thưởng thường thấy nơi những kẻ theo Chúa Kitô. Chúa Giêsu dạy rằng những công tác của loài người dầu có hoàn hảo đến đâu cũng không thể khoe khoang trước mặt Thiên Chúa. Chữ vô dụng ở đây không thể được hiểu là vô giá trị mà được hiểu một người không dễ đi quá bổn phận của ḿnh. Chúa cho biết không bao giờ có thể nói ḿnh đă làm quá nhiều cho Thiên Chúa, để về sau đ̣i hỏi Ngài ban lại cho điều này điều kia. Khi chúng ta đă làm hết sức ḿnh, đó là bổn phận của chúng ta phải làm, và một người làm tṛn bổn phận ḿnh, đó chỉ là làm xong việc ḿnh không thể làm mà thôi. Chúng ta có thể làm thỏa măn được những đ̣i hỏi của luật pháp, nhưng hễ ai thực sự yêu điều biết rằng ḿnh không bao giờ có thể là ǵ đủ hầu thảo măn những đ̣i hỏi của t́nh yêu. Đức Maria đă hiện thực lời Chúa Giêsu dạy: “Này đây tôi là nữ tỳ của Chúa”. (Lc 1, 38) trước đề nghị của Thiên Chúa.

Pete là một giáo sư đại học, ông vừa hoàn thành một cuốn sách biên khai công phu sau ba năm nghiên cứu, được mọi người khen hay, và ông lấy làm hănh diện, v́ hai ông bà đều thực hiện thiền định và cố gắng tâm linh hóa cuộc sống hằng ngày. Ông gặp trăn trở v́ biết hănh diện chỉ là gia tăng bản ngă và tự bảo ḿnh không nên đi vào con đường kiêu hănh viển vông này, nhưng bà vợ lại cho rằng kiêu hănh chân chính vẫn không thuộc về bản ngă. Hai người đưa vấn đề đến hỏi đạo sư Darshni. Đạo sư đă phân tách và chỉ cho thấy ḷng kiêu hănh bắt nguồn từ việc coi hành động của ḿnh như là do tác nhân độc lập, một thực thể riêng rẽ, và điều đó là hư ảo; đằng sau các thể hiện đúng đắn, chính Đấng Tối Cao đă tác động. Khi ông xin một phương pháp để giúp ông kiểm soát được ḷng kiêu hănh này mỗi khi nổi lên, đạo sư gợi ư ông đọc cuốn “Gương Chúa Giêsu” (Gương phúc) của Thomas. A. Kempis, trong đó bàn về việc chúng ta không được kiêu hănh v́ đă làm việc tốt đă viết câu này: “Liệu đất sét có được tôn vinh hơn người đă sáng lập ra nó hay sao?”

Và khi ông muốn bàn thêm, vị đạo sĩ đă nhắc lại một câu chuyện của một học giả người Âu với một đạo sĩ Đông phương. Học giả này mới hoàn tất một quyển bách khoa từ điển lớn, các bạn của ông xúm lại khen tặng rằng đó là một công tŕnh lớn lao phi thường. Trong chuyến viếng thăm Ấn độ, học giả hỏi đạo sư xrm liệu ông ta có xứng đáng được hưởng những danh dự đó không, th́ được đạo sư hỏi: “Ông dùng phương tiện nào để viết: bút, máy chữ hay điện toán. Ông cho biết ông luôn sử dụng bút.

Đạo sư nói ngay: “Khi viết xong cuốn sách, ông có thường cám ơn cây bút mà ông đă dùng không?”

Đó là câu trả lời cho mỗi người chúng ta khi thấy ḿnh làm được một việc lành nào.

Có nhiều đặc sủng khác nhau nhưng chỉ có một Thần Khí. Có nhiều việc phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Đức Chúa. Có nhiều hoạt động khác nhau nhưng chỉ có một Thiên Chúa làm mọi sự trong mọi người (1Cr 12, 4-6).

Dầu trong thí dụ này Chúa Giêsu quở trách sự kiêu hănh, cắt bỏ tất cả các công đức của việc làm th́ trong nhiều dụ ngôn khác Chúa lại dạy cách quả quyết về những phần thưởng Ngài sẽ ban cho các đầy tớ trung thành, không phải Ngài bắt buộc phải làm, nhưng là chứng tỏ ân điển từ ái của Ngài.

 
 

10. Chú giải của Noel Quesson

Các Tông Đồ thưa với Chúa Giêsu rằng

Thánh Luca vẫn luôn tả lại “cuộc hành tŕnh cao cả và sau cùng” lên Giêrusalem của Đức Giêsu. Ơ đây, Luca dùng một công thức trịnh trọng để dẫn nhập vào câu chuyện sắp kể.

Sau khi đă nói với những người Pharisêu (Lc 16,1-31) kế đó với các môn đệ (Lc 17,14), Đức Giêsu nói với các “Tông đồ”. Trong các Tin Mừng khác, danh hiệu này chỉ dành cho nhóm Mười Hai và chỉ nói một lần. C̣n Luca dùng sáu lần trong Tin Mừng của ngài và hai mươi tám lần trong sách Công vụ Tông đồ. Dưới ng̣i bút của ngài, chỉ Nhóm Mười Hai mới có quyền có danh hiệu ấy: Họ là chứng nhân chính thức của Tin Mừng của Đấng Phục sinh cho đến tận cùng trái đất. “Apostoloi” trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là “những người được sai đi”.

Trong đời sống hằng ngày, tông đồ là một vai tṛ nặng nề trách nhiệm: Không ai có thể tự ban cho ḿnh chức vụ đó. Trong Giáo Hội tiên khởi, người ta không thể không ư thức về đặc quyền không thể chuyển giao và không thể tuyền lại được đặt trên Nhóm Mười Hai: Tính chất chính thống của “sứ vụ” và của việc “sai đi” do đích thân Đức Giêsu ban cho. Chính Người đă chọn họ và đă sai họ đi. Họ là các “chứng nhân” của Người. Họ dă nghe lời Người giảng dạy. Họ có thể nói lại: Những lời ấy đến trực tiếp từ Người. Họ có những cử chỉ của Người. Họ có thể lặp lại những cử chỉ ấy. Vẫn luôn là những cử chỉ của Người. Nhất là họ thấy Người sống động sau khi đă sống lại: Họ không thể không cao rao điều đó cho đến tận cùng trời cuối đất.

Theo một ư nghĩa loại suy, Giáo Hội ngày nay yêu cầu mọi Kitô hữu trở thành các “tông đồ”. Nhưng những yêu sách của tính chất chính thống c̣n măi trong sự súc tích của chúng: Tôi cũng thế, tôi được đích thân Đức Giêsu sai đi... để trở thành chứng nhân của Người, của tư tưởng, lời nói, cử chỉ, sự cứu chuộc và t́nh yêu của Người.

Các Tông Đồ thưa với Chúa Giêsu rằng: “Thưa Thầy, xin thêm ḷng tin cho chúng con”

Danh xưng “Chúa” chỉ xuất hiện một lần trong Matthêu và Maccô để chỉ Đức Giêsu khi c̣n sống. Luca dùng danh xưng ấy mười chín lần trong Tin Mừng ngài. Nhưng từ này không được sử dụng bởi t́nh cờ: Ngài luôn luôn muốn chỉ đến vinh quang của Đấng Phục sinh.

Hơn nữa, lời cầu xin của các tông đồ cũng không tầm thường. Đây là lần duy nhất mà người ta thấy bạn hữu của Đức Giêsu nói với Người một lời “cầu xin”, “như thể” Người là Thiên Chúa. Bằng một sự tham dự trước, họ cầu xin Đức Kitô trong vinh quang Tin Mừng, với Đấng mà sau này họ đă khám phá sự đồng nhất mầu nhiệm với Đức Chúa. Chúng ta chớ quên rằng Đức Giêsu đi lên Giêrusalem, sự kết thúc đến gần.

“Lạy Chúa, xin thêm ḷng tin cho chúng con”.

Trở thành tông đồ, không đơn giản là một quyết định của con người.

Trở thành chứng nhân của sự sống lại trước tiên không do bởi một sự hiển nhiên duy lư áp đặt như khi người ta đơn giản thừa nhận một sự kiện lịch sử bắt buộc.

Chỉ có đức tin mới mở ra cho những thực tại thánh thiêng ấy và do đó siêu nhiên, bên trên mọi thứ duy lư của khoa học. Và đức tin là một “ơn của nhiên Chúa” “Lạy Chúa, xin thêm ḷng tin cho chúng con!”

Vậy th́ ai, nếu không phải là chính Thiên Chúa đă có thể biến đổi các tông đồ sau sự bỏ trốn và chối bỏ thảm hại của họ?

Vậy th́ ai nếu không phải là Thiên Chúa, đă làm họ trở thành những “chứng nhân can đảm” đến độ chịu tử đạo? Không, đức tin không phải là một điều hiển nhiên, một điều chinh phục được, một sự căng thẳng của trí tuệ và ư chí con người. Đức tin là sự đón nhận khiêm tốn một ân huệ, một ân sủng. Điều đó không có nghĩa con người không làm ǵ cả: “đón nhận” là một hành động tích cực cao độ của con người. Bạn không phải là ánh sáng. Nhưng nếu bạn khép cửa lại th́ mặt trời muốn vào nhà bạn để chiếu sáng sẽ không bao giờ có thể vào được. Đức tin là một mặt trời. Một “ơn” luôn luôn được ban tặng cho tất cả mọi người. Nhưng phải mở cơi ḷng ḿnh ra. “Ơn của Thiên Chúa”, sáng kiến không mất tiền và siêu nhiên nên đức tin phải được “cầu xin”: Lời cầu nguyện là cánh cửa sổ của đức tin; phải được mở ra để đón nhận ơn Thiên Chúa. “Lạy Chúa, xin cho con đức tin. Lạy Chúa, xin thêm đức tin cho chúng con...”

Chúa đáp: “Nếu anh em có ḷng tin lớn bằng hạt cải, th́ dù anh em có bảo cây dâu này: ‘Hăy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc’, nó cũng sẽ vâng lời anh em

Một h́nh ảnh khó quên theo đúng kiểu mẫu Palestine, và rất đạt trong văn phong dùng nghịch lư của Đức Giêsu. Hạt cải là loài “nhỏ nhất trong các loại hạt” (Mc 4,31). C̣n cây dâu là cây rất khó bật rễ, theo các câu nói của những giáo trưởng Do Thái. Dĩ nhiên, Đức Giêsu ở đây không khuyên người ta cầu xin những phép lạ giật gân: Người không bao giờ dời cây dâu xuống biển; và nhiều lần, Người đă từ chối các “dấu chỉ” kỳ diệu mà người ta yêu cầu Người. Nhưng bằng h́nh ảnh này, Người mạnh mẽ nói với chúng ta rằng đức tin mở chúng ta cho điều bất khả, cho Thiên Chúa.

Một đức tin nhỏ nhất c̣n mạnh hơn mọi cộng việc của con Người bởi v́ sự tham gia vào chính sức mạnh của Thiên Chúa là một việc lớn lao. Thật vậy, sau khi Chúa sống lại, hiệu quả đức tin của các Tông đồ không cân xứng với khả năng nghèo nàn của con người họ. Vốn là những người không có ảnh hưởng, quyền lực, phương tiện tài chính, tổ chức, báo chí, truyền h́nh, tóm lại không ǵ cả... thế mà họ đă thay đổi ḍng lịch sử. Ngày nay, bởi sự kiện lịch sử này và bởi lời của Đức Giêsu, chúng ta được mời gọi từ bỏ các phương tiện của quyền lực, không trông cậy vào các phương pháp về phương tiện tông đồ tinh xảo nhất và được chương tŕnh hóa tốt nhất... để chỉ dựa vào đức tin và mở ḷng ra với đức tin bằng lời cầu nguyện.

“Các bạn hăy nh́n xem: Một trinh nữ sinh con, một người được sinh ra từ Thiên Chúa; thiên đàng ở giữa chúng ta; chỉ c̣n một dân tộc... Chỉ cần một chút đức tin và các bạn sẽ thấy cây mọc trong biển, những người ăn mày trở thành những ông vua, những kẻ có quyền thế bị lật đổ, người ta chia sẻ các kho tàng... Các bạn hăy nh́n: nước biến thành rượu và rươụ trở thành máu, bánh hóa ra nhiều và dân chúng không c̣n đói nữa... chỉ cần một chút đức tin và các bạn sẽ thấy cây mọc trong biển, các sa mạc đầy hoa, người ta gặt lúa vào mùa đông và kho lẫm đầy tràn...”. Chỉ cần một chút đức tin, nhỏ như một hạt cải để thấy những người chán nản lấy lại niềm hy vọng, những người tội lỗi đứng dậy, những con đường không lối thoát được mở ra, chiến tranh chấm dứt, t́nh yêu được tái sinh... vâng, cây mọc trong biển, núi dời chỗ. Những ngọn núi của sự sợ hăi, ích kỷ và đê tiện. Thế giới đang khủng hoảng! Giáo Hội đang khủng hoảng? Chỉ cần một chút Đức tin... Gia đ́nh đang khủng hoảng! Học đường đang khủng hoảng. Kinh tế đang khủng hoảng? Sự chết chiến thắng, thập giá trống rỗng và trần trụi, nhưng mộ Người trống rỗng, mở ra và Người đứng đó, bên kia biển! Và “cây cối nhảy múa vui mừng” (Thánh Vịnh 95).

Ai trong anh em có người đầy tớ đi cày hay đi chăn chiên, mà khi nó ở ngoài đồng về, lại bảo nó: ‘Mau vào ăn cơm đi’, chứ không bảo: ‘Hăy dọn cơm cho ta ăn, thắt lưng hầu bàn cho ta ăn uống xong đă, rồi anh hăy ăn uống sau

Trước tiên chúng ta cứ để cho ḿnh công phẫn v́ sự nghiêm khắc đó. Dĩ nhiên hoàn cảnh của nô lệ ở Palestine vào thời Đức Giêsu ít khắc nghiệt hơn ở trong thế giới La Hy vào thời của Thánh Luca nơi mà một hoàn cảnh lệ thuộc của những nô lệ thật bi đát đến nỗi chúng ta khó mà tưởng tượng t́nh h́nh đó lại phổ biến như thế. Người nô lệ là “vật sở hữu” của ông chủ mà ông chủ không phải trả lương, cũng không biết ơn.

Cần phải nói thêm rằng chúng ta không có quyền dựa vào những lời nào đó của Đức Giêsu để biện minh cho những thái độ chống đối lại xă hội ngày hôm nay. Những đoạn Tin Mừng biện hộ cho t́nh yêu thương, sự chia sẻ, sự tôn trọng người khác có quá đủ.

Chẳng lẽ ông chủ lại biết ơn đầy tớ v́ nó đă làm theo lệnh truyền sao?

Lạy Chúa, phải đấy. Phải biết ơn. Chúa cũng biết vậy mà: Nhưng Chúa có ư đinh nói với chúng con một chân lư rất quan trọng và để nói với chúng con điều ấy, Chúa dùng những h́nh ảnh nghịch lư hầu như khó bênh vực được theo những chuẩn mực của con người như chúng con.

Đối với anh em cũng vậy: khi đă làm tất cả những ǵ theo lệnh phải làm

Lạy Chúa, Chúa muốn nói về điểm này. Vấn đề không phải là một bài học về các quan hệ xă hội! mà là một bài học về các quan hệ giữa chúng ta với Thiên Chúa: Đức Giêsu là con người hướng về Thiên Chúa hoàn toàn và triệt để Người phá bỏ những thói tự phụ nực cười của chúng ta. Người đặt mọi vật trở về vị trí chân thật của chúng ta. Lừa phỉnh ḿnh làm ǵ cho vô ích. Thiên Chúa là tất cả. Tôi không là ǵ cả trước mặt Người.

Hơn bao giờ hết, ngày hôm nay chúng ta phải lắng nghe sự thật hiển nhiên đó. Thiên Chúa là “ông chủ”! H́nh ảnh này khắc khổ nhưng chân chính và chúng ta không nên đặt nó đối lập với nhiều h́nh ảnh khác qua đó Đức Giêsu nói về Thiên Chúa như một “người cha”, một “người chồng”, kể cả một “người phục vụ”: “Chủ nhà sẽ làm ǵ? Thầy bảo thật anh em: chủ sẽ thắt lưng, đưa họ vào bàn ăn và đến bên từng người mà phục vụ “ (Lc 12,37). Chúng ta phải chấp nhận những mâu thuẫn bên ngoài đó.

Vâng, lạy Chúa, con chấp nhận đặt ḿnh trước mặt Chúa như một người đầy tớ hoàn toàn nhỏ bé, chăm lo thực hiện với ḷng trung tín tất cả những ǵ mà Chúa đă truyền cho con. Như Đức Maria, như biết bao vị thánh sẵn sàng để “phục vụ”. Thánh nữ Jeanne d’Arc đă nói: “Phải phục vụ Thiên Chúa trước tiên”. Đức Maria đă nói: “Tôi đây là nữ tỳ của Chúa”.

Hăy nói: chúng tôi là những đầy tớ vô dụng, chúng tôi đă chỉ làm việc bổn phận đấy thôi

Trước khi yêu cầu chúng ta, Đức Giêsu đă sống điều đó: Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy tŕ địa vị ngang hàng với Thiên Chúa nhưng mặc lấy thân nô lệ vâng lời cho đến nỗi bằng ḷng chịu chết” (Pl. 2,6).

Những người Pharisêu sau cùng đă tưởng rằng họ đáng hưởng thiên đàng bới những công phúc của họ: Có qua có lại mà. Vả lại Thiên Chúa là Đấng Hoàn Toàn Khác, Đấng không tính công để trả lại cho chúng ta, Đấng mà không một ai có thể sai khiến. Tự phụ rằng ḿnh có một quyền năng đủ là ma thuật hay không là ở trước mặt một “thần tượng” chứ không phải trước mặt Thiên Chúa.

Thái độ chân thật duy nhất trước Thiên Chúa là tuyệt đối không đ̣i tính công, là hoàn toàn vô tư. Trở thành người đầy tớ theo cách của Đức Giêsu không phải là nhục nhă: Phục vụ, chính là thống trị!

 
 

11. Chú giải của Fiches Dominicales

NHỮNG ĐẦY TỚ B̀NH THƯỜNG

CỦA ÔNG CHỦ TOÀN NĂNG

VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Với đức tin, có thể làm được những việc không ai nghĩ tới.

Trên đường lên Giêrusalem, Đức Giêsu vừa mới giảng cho các môn đệ về đởi sống huynh đệ: Người nói đến cớ vấp ngă cho những anh em yếu đuối (l7, 1-4), đến sự tha thứ lỗi lầm. Là những người gánh trách nhiệm của cộng đoàn, “các tông đồ” trăn trở về cách thế để thực hiện đời sống huynh đệ này, nên các ông cầu xin: “Xin thêm ḷng tin cho chúng con”.

Như thường lệ, Đức Giêsu không trực tiếp trả lời, mà sử dụng một h́nh ảnh dường như không thể có - h́nh ảnh cây dâu vâng theo lời truyền của kẻ có ḷng tin tự bật rễ, xuống dưới biển mà mọc. Người xác quyết rằng đức tin, “dù nhỏ bé bằng hạt cải”, cũng đủ để thực hiện việc coi như không có thể. H. Cousin giải thích: H́nh ảnh ngộ nghĩnh về ‘cây dâu vâng lời’, là đi mọc dưới biển, có nói đức tin có thể làm được những việc không ai làm được. Tác giả c̣n nêu rơ: đă hẳn cần phải hiểu đức tin là việc con người đáp lại sáng kiến của Thiên Chúa, chứ không phải là cách phù phép nào đó bắt ép Chúa phải thực hiện những điều kỳ diệu (“L’Evangile de Luc”, Centurion, trg 226).

2. Là những đầy tớ cần thiết, nhưng vô dụng.

Dụ ngôn sau đó nói tiếp bài học về đức tin và đặt ưu tiên cho sáng kiến của Thiên Chúa. Trong một bài viết, đăng ở tạp chí Kinh Thánh số tháng 4, 1992, Pierre Houzet nêu lên rằng: dịch thuộc từ chỉ phàm chất người đầy tớ là “vô dụng” hay “tầm thường” như trong sách Bài đọc, dịch như thế là sai và hạ thấp giá trị của nó. Nên thay thế bằng từ “b́nh thường”: những đầy tớ b́nh thường”.

Phải cảm ơn Pierre Houzet đă lưu ư chúng ta trong bài viết rất sáng sủa của ông. Ông c̣n tŕnh bày lại cách Đức Giêsu lập luận để đáp lời cầu xin của các tông đồ như sau. “Nếu với đức tin yếu kém đáng phàn nàn, mà anh em c̣n có thể làm được diều coi như không có thể, (th́ càng có lư tin rằng: cũng với đức tin yếu kém ấy) anh em cũng có thể chu toàn ơn gọi làm đầy tớ của ḿnh bằng cách cảm thấp hài ḷng trong khi thi hành chức vụ, mà không cần ông chủ phải bày tỏ ḷng ưu ái đạc biệt”. Rồi tác giả kết luận: “Chúng ta là những đầy tớ b́nh thường, sung sướng được thi hành chức vụ và hạnh phúc được chu toàn chức vụ ấy, dưới ánh mắt của Chúa, mà vinh quang của Người không đ̣i hỏi điều ǵ nơi ta ở trên trời, nhưng chỉ muốn con người ở dưới thế lấy việc phục vụ nhau mà ca tụng vinh quang ấy” (Sđd. trg 364 và 372).

BÀI ĐỌC THÊM:

1. Đức tin, cái nh́n mới sức mạnh mới

(“Dieu a visité son peuple” DDB, trg 128).

“Xin thêm ḷng tin cho chúng con”. Thánh sử Luca thuật lại khá dài những giáo huấn của Đức Giêsu liên quan đến mọi phương diện của đời sống mới, mà Người muốn đưa ta vào.

Người mở cho ta thấy thực tại của một thế giới khác, mặt trái của các sự vật, mà mắt người phàm không thể thấy được. Đức tin mở cánh cửa của thế giới mới ấy, thế giới của Thiên Chúa. Đức tin trở nên nguồn sức mạnh khiến cho kẻ có ḷng tin thực hiện được điều không có thể đối với sức người phàm. “Nếu anh em có ḷng tin lớn bằng hạt cải, dù anh em có bảo cây sung này: Hăy bật rễ lên, xuống dưới biển mà mọc, nó cũng sẽ vâng lời anh em“. Đức tin làm nẩy sinh hoa quả của Nước Trời. Đức tin là cái nh́n mới và sức mạnh mới. Chúng ta thường đóng khung trong giới hạn sự khôn ngoan và trong khả năng quá ư phàm trần của ta. Giống như các tông đồ, ta cần phải không ngừng van xin: “Xin thêm ḷng tin cho chúng con”.

2. “Một cọng cỏ dại”

(B. Bessière trong “Dieu si proche”, DDB, trg 155-156).

Tôi biết một người nhờ một cọng cỏ mà sống. Tai họa đă dồn dập đổ trên người ấy, mọi sự chỉ là đen tối, nhiều phen người ấy muốn kết liễu đời ḿnh cho xong.

Đang lê bước chân vô định trên lề đường, cô chợt trông thấy, một cọng cỏ vươn lên trong kẽ nứt lề bê tông. Sự sống, nhỏ nhoi, xanh tươi, mạnh mẽ hơn cả tấm “thảm” bằng xi măng nặng phịch đang ra dấu cho cô. Cô lấy lại can đảm để đương đầu với những năm tháng lê thê đầy khó khăn. Hỏi rằng trong số nhan nhản những người qua đường, có bao nhiêu người đă trông thấy cọng cỏ ấy. Chắc hẳn chỉ có cô là người duy nhất nhận ra sứ điệp. Lời tâm sự khiêm tốn này luôn khích lệ tôi. Tôi luôn chăm chú nh́n trên lề đường và trên những bức tường, công tŕnh can đảm của cây cỏ. Và trong cuộc sống con người, tôi cũng thích quan tâm đến biết bao sáng kiến nhỏ nhoi bất ngờ. Hạt cải... Đức Giêsu thật là khéo khôi hài. Các tông đồ khổ sở muốn được “thêm” đức tin, muốn đo đếm được nó, muốn cảm thấy nó dư dật theo ḷng sốt sắng của các ông. Vậy mà Đức Giêsu lại hướng chú ư của họ vào một hạt giống bé xíu rồi lại đặt nó đối chọi với một cây lớn! “nếu anh em chỉ có đức tin lớn bằng hạt cải th́ dù anh em bảo cây to kia. Hăy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc, nó sẽ vâng lời anh em”. Cọng cỏ và nền bê tông, Đavít và Goliát, cùng bà Sara cao niên hiếm muộn mà sinh đẻ trong nụ cười...

Đức Giêsu thường nói về cái hạt giống bé nhỏ, được gieo vào các loại đất khác nhau, xem như bị chết héo nhưng vẫn sinh hoa kết trái. Như vậy, Thiên Chúa gieo vung văi, giống như một đứa trẻ đùa nghịch, và người mời gọi ta hăy đón nhận để rồi lại đi gieo nhưng không. Đức tin, là một giọt nhựa trong cây, một hạt giống vô h́nh, một ngọn lửa âm ỉ trong ánh mắt. Nhưng đủ để thay đổi cả cuộc đời, để chuyển núi dời non. Tin thiết tưởng là chấp nhận một sự bất cân xứng không thể tưởng tượng nổi giữa sự ù ĺ của con người và năng lực siêu phàm của Thiên Chúa vốn mời gọi ta biến đổi tất cả, mời gọi ta hăy sáng tạo dù không ai nhận ra. Hăy làm như Chúa. Có lẽ các bạn sẽ cười nhạo tính ngây thơ của tôi, v́ tôi chỉ trông thấy những thuận lợi. Nhưng xin các bạn hăy để ư coi... Có biết bao người, nam cũng như nữ, đang làm như Thiên Chúa. Họ ở khắp mặt đất. Thế mà nhiều người có hay biết đâu.

Nếu bạn nói cho họ biết điều ấy, họ sẽ hết sức ngạc nhiên và chính họ sẽ đơn giản đáp rằng: “Chúng tôi chỉ làm việc bổn phận của chúng tôi. Việc phục vụ là hoàn toàn nhưng không”.

  
 

12. Đức tin và khiêm nhường

Có một vị ẩn tu nổi tiếng bên Ai Cập trong những thế kỷ đầu của Kitô giáo, ngài là một con người luôn lấy sự khiêm nhượng làm nền tảng cho ṭa nhà tu đức. Một hôm, ngài và một số đệ tử cùng đi dạo trong sa mạc, th́nh ĺnh có một con rắn lớn xuất hiện như muốn cản đường họ. Với phản ứng tự nhiên, tất cả mọi người kể cả vị thánh đều bỏ chạy.

Vài năm sau, vị ẩn tu đang hấp hối trên giường bệnh, các đệ tử hỏi ngài như sau:

- Thưa cha, hẳn cha c̣n nhớ ngày nọ khi chúng ta gặp một con rắn rất lớn, tất cả mọi người đều sợ hăi và bỏ chạy. Chúng con không hiểu tại sao cha cũng bỏ chạy. Phải chăng cha cũng run sợ như chúng con.

Con người thánh thiện ấy trả lời như sau:

- Không! Cha không hề sợ hăi trước con vật ấy. Thế tại sao cha cũng bỏ chạy như chúng con.

Vị ẩn tu đang hấp hối giải thích như sau:

- Lúc ấy cha nghĩ rằng, thà bỏ chạy c̣n hơn là dung dưỡng cho tính kiêu ngạo sẽ chồi lên trong cha sau này.

Kitô giáo đề cao sự khiêm nhượng như một trong những nhân đức nền tảng mà người tín hữu Kitô phải luôn trang bị cho ḿnh. Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu muốn các môn đệ đề cao cảnh giác trước tính kiêu ngạo của những người biệt phái và luật sĩ. Họ quan niệm Thiên Chúa như một chủ chăn hà khắc, chi li, thưởng phạt tùy theo công đức của mỗi người. Chính v́ thế mà họ coi những việc lành phúc đức như ăn chay, cầu nguyện, hăm ḿnh, bố thí… là những việc lành mà Thiên Chúa ân thưởng bội hậu cho họ.

Sự giàu có và địa vị cao trọng của họ trong xă hội được họ xem như là một thứ ân thưởng rất công b́nh và hợp lư mà Thiên Chúa dành cho họ. Đánh giá như thế về công nghiệp của ḿnh nên những người biệt phái và giàu có sẽ nh́n những người nghèo khổ bần cùng trong xă hội như những người tội lỗi bị bàn tay công thẳng của Thiên Chúa đang đè nặng trên họ.

Đối lại với những tính toán khôn lường và khôn ngoan ấy của những người biệt phái và giàu có, Chúa Giêsu đề ra ḷng tin tưởng vô điều kiện mà con người phải có đối với Thiên Chúa. Qua h́nh ảnh của người đầy tớ sau khi đă vất vả nhọc nhằn suốt ngày ở đồng áng, để rồi khi về nhà c̣n phải hầu hạ phục vụ ông chủ, Chúa Giêsu có ư nói rằng, tương quan giữa con người và Thiên Chúa là một tương quan chủ tớ.

Thiên Chúa mà Chúa Giêsu muốn bày tỏ cho chúng ta là một người Cha yêu thương, nhân từ. Một Thiên Chúa là Cha yêu thương chỉ muốn con người luôn đặt tin tưởng phó thác nơi Ngài mà thôi. Sau khi đă làm hết phận sự của ḿnh, người đầy tớ chỉ có thể thốt lên: “Tôi chỉ là một đầy tớ vô dụng”.

H́nh ảnh của người đầy tớ tự cho ḿnh là người vô dụng mà Chúa Giêsu sử dụng trong mạch văn này có ư nói rằng, con người không có bất cứ quyền nại đến công nghiệp nào của ḿnh để buộc Thiên Chúa ban ơn cho ḿnh. Thiên Chúa ban ơn cho con người một cách nhưng không, và để đáp lại ân huệ của Ngài, con người chỉ có thể nói lên ḷng tri ân và phó thác mà thôi. Tất cả cuộc sống của ḿnh, tất cả những ǵ ḿnh làm được, con người chỉ có thể và dâng lên Thiên Chúa như một đáp đền và phó thác.

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta điều chỉnh lại quan niệm về Thiên Chúa mà chúng ta đang có, cũng như cách diễn tả niềm tin của chúng ta. Phải chăng chúng ta đă không tính toán so đo với Chúa trên cách sống đạo của chúng ta. Phải chăng chúng ta đă không giơ tay cầu nguyện, xin lễ, ăn chay, hăm ḿnh, c̣n làm bao nhiêu những việc lành phúc đức khác để cốt Thiên Chúa trả công và chúc lành cho những công việc làm ăn và cuộc sống của chúng ta. Phải chăng có những lúc chúng ta tự phụ rằng, những thành công và may mắn chúng ta đang có là một ân thưởng mà Thiên Chúa đă ban tặng v́ công nghiệp và hy sinh của chúng ta.

Chúa Giêsu mời gọi chúng ta đi vào mối tương quan yêu thương với Thiên Chúa. T́nh yêu đích thực không bao giờ so đo tính toán hơn thiệt. T́nh yêu đích thực luôn mời gọi niềm tin tưởng và phó thác. Qua đó, con người mới thể hiện được chính ḷng khiêm nhượng đích thực của Kitô giáo. Cùng với thánh Phaolô, chúng ta hăy luôn tâm niệm: “Nếu phải vênh vang th́ tôi chỉ vênh vang về những yếu hèn của tôi mà thôi, nhưng nhờ đó mà quyền năng của Thiên Chúa được tỏ hiện”.

 
 

13. Khiêm nhường và tin tưởng

Trong phạm vi đời sống tự nhiên cũng như siêu nhiên, tôi nhận thấy có nhiều người quá tự tin, luôn ỷ lại vào sức riêng của ḿnh. Họ cho rằng những nhân đức hay những thành công họ gặt hái được, hoàn toàn do sức lực và tài năng riêng của họ, để rồi họ vênh vang tự đắc, coi trời bằng nửa con mắt.

Dĩ nhiên, tôi không phủ nhận rằng: tin tưởng vào sức lực và tài năng riêng của ḿnh là điều tốt trong một phạm vi nào đó. V́ tục ngữ tây phương vốn thường bảo:

- Vouloir c’est pouvoir. Muốn là được.

Một khi ḿnh đă dứt khoát lập trường và tiến hành không nghi ngại, th́ kể như đă giải quyết được một nửa vấn đề. V́ thế, người xưa đă bảo:

- Thành như quả quyết, bại như do dự.

Hơn thế nữa, kinh nghiệm cũng cho thấy:

- Hăy tự cứu lấy ḿnh, rồi trời sẽ cứu.

Bụng đói mà cứ nằm chờ cho sung rụng vào miệng, th́ đến bao giờ một nhận được một trái.

Tuy nhiên, nếu suy nghĩ chúng ta sẽ thấy: tài năng và sức lực riêng của ḿnh là điều cần, nhưng không phải là điều quyết định. Yếu tố căn bản cho mọi thành công, đó là t́nh thương và sự trợ giúp của Thiên Chúa.

Tôi xin đưa ra một vài thí dụ cụ thể.

Chẳng hạn trong đời sống tự nhiên, chúng ta ra sức cày sâu cuốc bẩm, vất vả đổ mồ hôi xuống trên ruộng đồng, nhưng nếu Chúa không cho mưa thuận gió ḥa, th́ mùa màng lúa thóc của chúng ta cũng khó mà trúng được. V́ thế, thánh Phaolô đă quả quyết:

- Phaolô trồng, Apollô tưới, nhưng chính Thiên Chúa mới là đấng làm cho đâm bông kết trái.

Chẳng hạn trong đời sống trí thức, chúng ta chăm chỉ căm cụi học hành để được thi đỗ, để được trau dồi thêm những kiến thức cần thiết, làm giàu cho bản thân và làm đẹp cho cuộc đời, nhưng nếu Chúa không ban cho khỏe mạnh, nay yếu mai đau, th́ công việc học hành của chúng ta cũng sẽ bị cản trở.

Chẳng hạn trong đời sống siêu nhiên, chúng ta muốn khử trừ một nết xấu, nhưng nếu không có ơn Chúa trợ giúp, th́ điều chúng ta dốc quyết chưa chắc đă được ba bảy hai mươi mốt ngày, để rồi cuối cùng bị rơi vào quên lăng, mèo vẫn hoàn mèo, chó đen vẫn giữ mực và chúng ta vẫn chứng nào tật ấy.

Chúng ta hăy nhớ lại lời Chúa đă phán:

- Không có Thầy, các con không thể làm ǵ được.

Hay như lời tục ngữ Việt Nam cũng đă xác quyết:

- Mưu sụ tại nhân, thành sự tại thiên.

- Không thầy đố mày làm nên.

Trong mọi hoàn cảnh, hăy khiêm nhường và tin tưởng vào Chúa. Đồng thời, cùng với sự trợ giúp của Chúa, chúng ta dù tài năng thấp kém cũng có thể làm được những việc kỳ diệu.

Năm 1683, đoàn quân Thổ Nhĩ Kỳ tiến đến kinh thành Vienne, đe dọa toàn thể thế giới công giáo. T́nh h́nh đen tối. Phương tiện lại thiếu thốn. Mặc dầu vậy, Đức thánh cha Innôcentê XI, một mặt kêu gọi mọi người cầu nguyện, nhất là lần hạt mân côi. Một mặt hoài giải những bất đồng giữa các vua chúa, kêu gọi họ sát cánh bên nhau để chiến đấu, cũng như tin tưởng Chúa sẽ phù trợ.

Khắp nơi đều vang lên những tiếng khẩn cầu tha thiết. Và sự ǵ phải đến, đă đến. Đoàn quân công giáo đă chiến thắng tại vịnh Lépante, giải thoát toàn thể Âu Châu khỏi sự tàn phá của Thổ Nhĩ Kỳ.

Chúng ta đừng bao giờ quên rằng:

- Không có Chúa, chúng ta không thể làm ǵ được. Nhưng với Chúa, chúng ta có thể làm được mọi sự.

Hăy tin tưởng và phó thác vào Chúa, như lời khuyên của thánh Phanxicô Salêsiô:

- Chúng ta có thể hái những bông hoa bên vệ đường, miễn là bàn tay phải nắm chặt lấy Chúa.

Cũng vậy, trong khi thu lượm những thành quả trần thế, hăy giơ một bàn tay cho Chúa, đừng bao giờ rời xa Ngài, v́ nếu Ngài không ǵn giữ chở che, chắc chắn chúng ta sẽ té ngă.

Hăy làm việc như chỉ có ḿnh chúng ta. Đồng thời hăy tin tưởng như kết quả chỉ do một ḿnh Thiên Chúa ban mà thôi.

  
 

14. Đức tin

Có lẽ chúng ta bỡ ngỡ và thắc mắc: Tại sao Chúa Giêsu lại so sánh đức tin với hạt cải? Hạt cải đây không phải là cải bẹ, cải bắp hay cải hoa, mà là một thứ cải đặc biệt ở xứ Palestin, nhỏ hơn hạt quả trứng cá, mà cây th́ tương đương với cây trứng cá cao khoảng 4 – 5 thước. Hạt cải nhỏ bé như vậy mà chẳng lẽ người tín hữu Chúa lại không có được một ḷng tin nhỏ bé như thế sao? Nếu có, th́ tại sao họ không thực hiện được những việc vĩ đại kỳ lạ như Chúa đă hứa? Vậy, hoặc là họ không có một chút đức tin nào, dù chỉ bằng hạt cải. Hoặc là lời Chúa phải có ư nghĩa khác?

Đúng vậy, khi lấy hạt cải làm thí dụ, Chúa không có ư dạy rằng đức tin có thể đo lường được, v́ không những đức tin thuộc lănh vực tinh thần, thiêng liêng mà c̣n là một yếu tố siêu nhiên, siêu phàm mà chúng ta chỉ lănh hội được qua dấu hiệu hay việc làm bên ngoài thôi. Thực vậy, người ta không thể nh́n thấy đức tin, v́ nó không phải là vật chất. Nó là một cái ǵ có thật, nhưng thuộc thế giới tính thần. Người ta không thể thấy được nó, nhưng có thể biết nó có, nhờ khi nó biểu lộ qua hành động bên ngoài. Thí dụ: tôi có đức tin không, chẳng ai biết nhưng khi thấy tôi đi lễ, thấy tôi đi vào nhà thờ nghiêm trang, người ta có thể biết được tôi là người có đức tin. V́ tin có Chúa, tôi mới đi lễ để thờ phượng Ngài, tôi mới nghiêm trang để tôn kính Ngài. Như thế, một điều chúng ta có thể ghi nhận: đức tin chỉ ở trong ḷng thôi th́ chưa đủ, mà c̣n phải biểu lộ ra bên ngoài nữa.

Tuy nhiên, đức tin không phải là một năng lực diệu kỳ ban cho chúng ta để chúng ta làm những chuyện động trời, giật gân như những nhà ảo thuật, pháp sư hay phù thủy cao tay ấn hầu tŕnh diễn cho mọi người giải trí. V́ thế, khi Chúa Giêsu nói đức tin bằng hạt cải có năng lực chuyển núi rời non, truyền khiến cho cây khô héo, hoặc tự bứng đi xuống sống dưới biển, Ngài chỉ có ư đề cập tới sức mạnh siêu phàm của đức tin mà thôi. Cũng như người ta không thể đo lường đức tin như đo lường hạt cải, th́ đức tin cũng không phải dùng để làm tṛ ảo thuật. Việc chuyển núi rời non không phải chỉ tùy thuộc vào đức tin mà c̣n tùy ở nhiều yếu tố khác nữa.

Chúng ta có đức tin không? Chúng ta cần phân biệt niềm tin và đức tin. Niềm tin th́ ai ai cũng có. C̣n đức tin th́ chỉ những ai đă lănh bí tích rửa tội mới có mà thôi. Vậy tất cả chúng ta đều có đức tin. Nhưng hiện giờ đức tin của chúng ta thế nào? Có lẽ vẫn c̣n rất yếu kém phải không? Có bao giờ chúng ta noi gương các tông đồ xin Chúa gia tăng đức tin cho chúng ta không? Các tông đồ xin Chúa gia tăng đức tin, có nghĩa là các ngài đă có đức tin, nhưng c̣n yếu kém, chúng ta cũng vậy, chúng ta đă có đức tin, nhưng c̣n yếu kém, chúng ta phải xin Chúa gia tăng đức tin để chúng ta sống và hành động theo đức tin.

Người ta kể rằng: tại một giáo xứ kia, người ta tụ họp nhau rất đông trong nhà thờ để cầu xin Chúa cho trời đổ mưa, v́ trời hạn hán quá lâu rồi, trong khi mọi người đến nhà thờ cầu nguyện th́ có một em thiếu niên cũng đến và đem theo một cái dù. Mọi người thấy em cầm cây dù tới nhà thờ th́ x́ xào với nhau: “Thật là dở hơi, trời đang hạn hán ai mà lại mang dù đến thế kia”. Cậu bé trả lời: “Ông bà cầu xin Chúa cho mưa, ông bà tin như thế phải không? Chắc chắn là Chúa sẽ cho mưa, nên tôi phải đem dù theo để lát nữa c̣n về được”. Quả thật, Chúa liền cho một trận mưa thật lớn sau giờ cầu xin của mọi người. Nhưng có lẽ không phải v́ đức tin của những người khác mà là do đức tin vững chắc của em thiếu niên đem theo cây dù kia.

Tôi xin nói thêm một chút nữa: cũng giống như mọi tài năng khác nơi con người, đức tin cần phải được triển nở, cần phải được sinh lợi. Năng khiếu không được rèn luyện sẽ mai một với thời gian, một đức tin không được vun trồng cũng sẽ chết dần chết ṃn. Chúng ta diễn tả đức tin bằng những việc đạo đức, và chúng ta c̣n phải nuôi dưỡng đức tin bằng nhiều cố gắng khác nữa, nhất là sống quảng đại, vị tha và yêu thương.

Xin Chúa ban thêm đức tin để chúng ta không ngừng ra khỏi cái nh́n g̣ bó, hẹp ḥi của chúng ta, và không ngừng nhận ra Ngài vẫn luôn hiện diện trong cuộc sống của chúng ta. Xin Chúa ban thêm đức tin để chúng ta biết đón nhận Ngài trong những biến cố bất ngờ và nghịch thường nhất. Xin Ngài ban thêm đức tin để chúng ta biết đón nhận Ngài trong mọi người anh em, nhất là nơi những người thấp hèn, những người bất hạnh, và ngay cả nơi những người thù ghét chúng ta.

Người Kitô hữu tin vào t́nh yêu Chúa Kitô, tin vào bản thân Ngài. Đức tin ấy không chỉ là hạt giống gieo trong ḷng chúng ta rồi nằm yên đấy. Một đức tin như thế có lẽ chẳng ích lợi ǵ cho chính ḿnh hay cho bất cứ ai. Đức tin của chúng ta cần phải trổ sinh hoa trái bằng việc làm để mọi người có thể hiểu được thế nào là t́nh yêu mà chúng ta tin, có thể nhận ra khuôn mặt của Đấng mà chúng ta suy phục, tôn thờ.

Người Kitô hữu luôn được mời gọi lớn lên trong đời sống đức tin của ḿnh. Đức tin là một mầm sống phải không ngừng được triển nở và lớn lên măi. Người Kitô hữu cần được lớn lên mỗi ngày. Nhưng giữa những thực tế của cuộc đời, biết bao bóng tối có thể bủa vây chúng ta, có thể làm chúng ta sợ hăi. Những lúc ấy đức tin non yếu của chúng ta dễ dàng bị lung lay. Chính v́ thế chúng ta luôn phải cầu xin Chúa ban thêm đức tin cho chúng ta.

 
 

15. Niềm tin

Thử thách đau khổ là điều chúng ta không thích lắm. Vậy mà chúng ta vẫn gặp trong cuộc đời. Thế nhưng nếu biết tín thác vào Thiên Chúa, vươn lên bằng một sức mạnh của niềm tin. Sứ điệp lời Chúa hôm nay sẽ giúp chúng ta củng cố và khám phá lại xem niềm tin của ḿnh lănh nhận từ đâu? Và chúng ta đón nhận sức mạnh niềm tin đó bằng cách nào và thể hiện niềm tin đó ra sao trong môi trường sống của ḿnh.

Tôi đă chấp nhận điều ḿnh không thấy dựa vào lời chứng của người khác đáng tín nhiệm hơn. Thiên Chúa luôn đi bước trước đến với con người trong việc thể hiện niềm tin, nếu Ngài không giúp, không ban sức mạnh, chúng ta không thể dấn thân và hướng về Ngài được. Bởi vậy, đức tin trước hết là một hồng ân, một món quà chúng ta lănh nhận từ Thiên Chúa một cách nhưng không, nhưng rất có giá trị. V́ thế, người Kitô hữu không được tự măn với giá trị đó nhưng phải khao khát t́m kiếm như các tông đồ hôm nay trong bài Tin Mừng này, t́m Ngài xin Ngài hướng đi.

Trong những năm tháng đi theo Thầy, sống bên Thầy, học cùng Thầy, các tông đồ vẫn chưa đặt trọn cả con tim, tấm ḷng của ḿnh vào Thầy, bởi thế đứng trước những khó khăn, điều khiển cộng đoàn, các ông cảm thấy chưa đủ can đảm để chu toàn bổn phận cao cả ấy, nên đă chạy đến cầu cứu Thầy gia tăng sức mạnh để gánh vác cộng đoàn. Tại sao các ông lại khao khát đến thế? Bởi v́ các ông đang cần, đang thiếu nên mới xin Thầy ban cho, ban thêm đức tin cho ḿnh.

Trong khi các ông đang khao khát một ḷng tin vững mạnh th́ Thầy lại ban cho một hạt đức tin bé nhỏ như hạt cải. Trước lời cầu xin đó Chúa mời gọi các ông ư thức lại tầm quan trọng và giá trị của niềm tin ḿnh. Bằng cách hăy rời bỏ chỗ đứng của ḿnh chuyển sang chỗ đứng đức tin, rời xa tầm nh́n của ḿnh chuyển đến tầm nh́n đức tin. Ngày nay khi khoa học ngày càng phát triển, người ta tin vào nỗ lực tri thức ḿnh hơn là tin Chúa. Theo bạn nghĩ ǵ về vấn đề này? Như thế để có được sức mạnh của niềm tin người tông đồ phải làm ǵ? Thiết nghĩ rằng cần mở ḷng đón nhận qua sự gặp gỡ và cảm nhận sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc sống ḿnh.

Cảm nhận sự hiện diện Thiên Chúa sẽ giúp người ta đón nhận được niềm tin đối diện với thử thách trong việc lựa chọn: dấn thân hay lùi bước, củng cố niềm tin hay đành đánh mất niềm tin. Cần sống tích cực hơn để tránh rơi vào t́nh trạng ngă ḷng, kêu trách Thiên Chúa như dân Cựu ước năm xưa mà ngôn sứ Habacúc trong bài đọc I vừa nêu lên cho chúng ta. Cảm nhận sự hiện diện của Thiên Chúa c̣n là tin Chúa, để Chúa lôi kéo, dẫn đi, biến đổi và gia tăng sức mạnh giúp người tông đồ can đảm chịu đựng đau khổ, không hổ thẹn làm chứng cho Tin Mừng như bài đọc II trong thư thứ 2 thánh Phaolô tông đồ gửi cho Timothê vừa nhắn gửi chúng ta tư tưởng này. V́ thế đón nhận niềm tin là dịp để chúng ta gặp gỡ Thiên Chúa và tín thác vào Ngài.

Gặp gỡ Thiên Chúa là tín thác vào Ngài để lănh nhận một sức mạnh mới thôi thúc người tông đồ dám mạo hiểm trong cách nghĩ, dám hành động trong cách làm ngay cả những công việc vượt sức con người. Gặp gỡ Chúa trong niềm tin giúp người ta dễ dàng qui hướng về Chúa, vượt ra khỏi sự hiểu biết hạn hẹp nơi ḿnh. Lúc đó, người ta mới có đủ sức mạnh để chuyển núi dời non… mới phát sinh hiệu quả kỳ diệu trong cuộc sống và thể hiện hoa trái của niềm tin.

Sống đức tin đ̣i người ta phải hành động như lời thánh Giacôbê: “Đức tin không hành động là đức tin chết”. Hành động ở đây là hành động vô vị lợi, phục vụ nhưng không. Cách phục vụ này ngoài đời rất khó gặp, bởi v́ không ai làm công không cho người khác bao giờ. Để đức tin sinh ơn ích, người Kitô phải sống như người đầy tớ tầm thường trước mặt Chúa, phải hành động như người làm công vô dụng, vô dụng không phải là vô tích sự nhưng có nghĩa là chu toàn bổn phận những công việc hàng ngày một cách khiêm nhường không cần ai biết đến, không t́m quyền lợi cho ḿnh. Đó là cách trao ban niềm tin, phục vụ niềm tin cho người khác.

Đă đón nhận th́ phải có trao ban, trao ban với tinh thần trách nhiệm: Không đ̣i Chúa trả công, bắt người ta đền ơn ḿnh. V́ đức tin chúng ta lănh nhận nhưng không từ Thiên Chúa th́ giờ đây chúng ta phải trả lại nhưng không trong việc trao ban t́nh thương, chia sẻ t́nh bác ái cho tha nhân.

Là người Kitô hữu: không phải lúc nào niềm tin của chúng ta cũng vững mạnh cả đâu: có những lúc tôi cảm thấy có Chúa, tin Chúa, yêu Chúa bởi v́ tôi gặp điều tốt lành, nhận nhiều hồng ân…

Có những lúc tôi cảm thấy không có Chúa, chán Chúa, đâm ra nghi ngờ không tin Chúa nữa bởi v́ tôi gặp nhiều bất hạnh đau khổ, thử thách: cháy nhà, gặp tai nạn, thiên tai, lũ lụt, mất mùa, mất nhà, mất của mất người thân, hoặc thất nghiệp, thất bại, thất t́nh… Những lúc đó chúng ta đừng quá bi quan nhưng cần phải b́nh tĩnh suy nghĩ lại cho dù ta có đay nghiến ông trời, nguyền rủa Thiên Chúa, than thân trách phận, chúng ta cũng không tránh khỏi những đau khổ thử thách. Cho bằng chúng ta:

. Hăy lắng nghe tiếng Chúa, ư Chúa muốn tôi trong hoàn cảnh nào?

. Cầu nguyện, đón nhận, phó thác, tin tưởng vào t́nh thương của Thiên Chúa.

Niềm tin luôn là một ân huệ Chúa ban: nên để có được sức mạnh niềm tin ḿnh, người tông đồ cần phải biết mở ḷng đón nhận, khao khát t́m kiếm ơn Chúa và thể hiện trong cuộc sống để niềm tin chúng ta mỗi ngày càng sinh nhiều hoa trái. Hoa trái này cần phải cụ thể bằng một quyết tâm cho ḿnh: “Sống điều ḿnh tin bằng việc yêu thương, giúp đỡ, nâng đỡ anh em đang gặp thử thách bên chúng ta”.

  
 

16. Đức tin

(Trích trong ‘Sợi Chỉ Đỏ’)

Trong đoạn Tin Mừng hôm nay, thánh Luca ghi lại 2 điều Chúa Giêsu căn dặn những kẻ muốn làm môn đệ Ngài.

Điều thứ nhất về đức tin: Câu chuyện khởi đầu với lời xin của các tông đồ “Xin Thầy thêm đức tin cho chúng con”. Ta hăy chú ư họ là các tông đồ chứ không phải chỉ là môn đệ thường. Họ đă từng sống với Chúa Giêsu một thời gian dài, nghe biết bao điều Ngài giảng dạy, thấy biết bao điều Ngài làm. Họ là thành phần ưu tú được chọn riêng ra trong số 72 môn đệ. Thế mà họ vẫn cảm thấy ḿnh thiếu đức tin.

Các tông đồ mà c̣n cảm thấy thiếu đức tin, th́ huống chi chúng ta! Nhiều khi chúng ta quỳ chầu trước Thánh Thể mà h́nh như không tin có Chúa đang ngự trong nhà tạm. Nhiều khi chúng ta rước lễ mà h́nh như không tin có Chúa đang thực sự ở trong ḷng ta. Và nhiều khi đứng trước một hoàn cảnh khó khăn, chúng ta h́nh như không tin lời Chúa dạy “Can đảm lên, Thầy đă thắng thế gian”. Mặc dù chúng ta đă học giáo lư nhiều, đă đọc Thánh Kinh nhiều, nhưng tại sao chúng ta không vững đức tin? Như thế đủ biết đức tin không phải là kết quả của học hỏi, của kiến thức. Đức tin chính là một ơn ban. Tại sao rất nhiều bậc thông thái không có đức tin. C̣n chúng ta không thông thái ǵ, thế mà có đức tin. Rơ ràng v́ Chúa thương chúng ta nên ban đức tin cho chúng ta. Và chính v́ đức tin là một ơn ban, cho nên chúng ta phải xin như các tông đồ ngày xưa: “Lạy Thầy, xin ban thêm đức tin cho chúng con”.

Đức tin không phải là kết quả của học hỏi và của kiến thức. Ngược lại nhiều khi càng học biết nhiều th́ càng khó mà tin. Tại sao thế? Thưa tại v́ trong đức tin luôn có một phần mờ tối, khi ta tin th́ luôn có một phần mạo hiểm. Nếu tất cả đều sáng tỏ hết rồi ta mới tin th́ đấy không phải là đức tin. Nếu tất cả đều chắc chắn rồi ta mới dấn thân th́ đấy cũng không phải là một hành vi đức tin. Đức tin luôn có phần mờ tối, tin luôn đ̣i ta mạo hiểm dấn thân. Nhưng nói thế không phải là chúng ta tin cách mù quáng, trái lại chính v́ chúng ta yêu. Xin lấy một thí dụ trong đời thường: ở một vùng kinh tế mới nọ, có một thanh niên và một thiếu nữ quen nhau. Mỗi người họ đến từ một miền khác nhau. Quen nhau một thời gian rồi họ yêu nhau. Và một hôm người thanh niên ngỏ lời xin cưới cô gái. Cô gái ưng thuận ngay. Người thanh niên mới hỏi: Em không biết gốc gác của anh, không biết gia đ́nh anh, em không sợ bị anh gạt hay sao mà dám giao phó cuộc đời cho anh? Cô gái đáp: không. Anh chàng hỏi thêm: Tại sao? Và cô gái trả lời rất gọn: v́ em yêu anh.

Người con gái ấy v́ yêu nên đă tin người thanh niên nọ. Chúng ta cũng thế, nếu chúng ta yêu Chúa th́ chúng ta mới tin Chúa được, yêu càng nhiều th́ tin càng mạnh. Cho nên ngoài việc xin Chúa ban thêm đức tin, chúng ta cũng cần xin Chúa ban thêm ḷng yêu mến cho chúng ta.

Điều thứ hai Chúa dạy trong bài Tin Mừng hôm nay là: người môn đệ Chúa phải biết phục vụ, và phục vụ cách vô vụ lợi. Giống như một người đầy tớ, sau khi đă đi cày, sau khi đă chăn chiên rồi về nhà c̣n phải dọn cơm cho chủ, đứng đó hầu hạ chủ, rồi dọn dẹp. Xong xuôi hết th́ nói “Tôi chỉ là đầy tớ vô dụng”. Nhiều chuyên viên Thánh Kinh nói rằng dịch chữ vô dụng không được đúng lắm. Ư nghĩa của nó là “Tôi chỉ là một người đầy tớ mà thôi, không hơn không kém”. Người đầy tớ th́ đương nhiên phải phục vụ, phục vụ là bổn phận của người đầy tớ. Cho nên dù có phục vụ nhiều th́ cũng không có ǵ là công lao để đ̣i chủ biết ơn.

Khi Chúa Giêsu dùng h́nh ảnh người đầy tớ để làm bài học cho các môn đệ, Ngài muốn nhắc chúng ta rằng làm môn đệ, làm tông đồ chính là làm đầy tớ. Bởi thế Đức Giáo Hoàng xưng ḿnh là “Đầy tớ của các đầy tớ”.

Có một điểm rất sâu sắc về từ ngữ: trong Thánh Kinh, chữ “phục vụ” vừa chỉ việc làm của một người đầy tớ đối với chủ, vừa chỉ việc làm của người tín hữu phụng thờ Chúa. Tế lễ là phục vụ Chúa. Như thế, khi chúng ta phục vụ người ta th́ cũng có nghĩa là chúng ta đang phụng thờ Chúa. Và nếu như suốt ngày chúng ta lo phục vụ anh em th́ điều đó có nghĩa trọn ngày hôm đó của chúng ta là một thánh lễ nối dài.

 
 

Lễ ĐỨC MẸ MÂN CÔI

1. Kinh Mân Côi

Nguồn gốc kinh Mân Côi là những bông hồng kết thành triều thiên, mà những tín hữu Bắc Âu thời Trung cổ đội lên đầu Đức Mẹ, trong những tiếng đàn ca và múa hát. Tiếc thay, ngày nay kinh Mân Côi đă trở thành một kinh đơn điệu nhàm chán và máy móc, mà chỉ có ông già bà già cùng những người đạo đức mới đọc, để ăn mày ân xá, c̣n giới trẻ và đặc biệt là phía đàn ông con trai, chẳng cảm thấy vui v́ khi lần hạt.

Mặc dầu vậy, cứ đến tháng mười, các đấng các bậc trong Hội Thánh cũng lại hết lời khuyên bổn đạo “Hăy ăn năn sám hối và lần hạt Mân Côi”. Nhưng thực tế cho thấy ít có ai sám hối thật ḷng, c̣n lần hạt th́ cũng luôn luôn chỉ có mấy cụ già và người lớn tuổi. Ai không tin th́ cứ thử làm một cuộc điều tra.

Trong khi đó vào tháng năm, th́ người ta lại rầm rộ thi đua tổ chức Dâng Hoa. Rơ ràng là râu ông nọ cắm cằm bà kia. V́ đáng lẽ cái thứ “phụng vụ dân gian” này phải được kết hợp với kinh Mân Côi, th́ mới đúng về nguồn gốc và ư nghĩa của nó.

Thật vậy, người Kitô hữu Bắc Âu, sống vào koảng từ thế kỷ XI tới XIII, v́ không hiểu ǵ về phụng vụ bằng tiếng Latinh, nên đă sáng tạo ra một thứ phụng vụ dân gian, là sáng tác những bài ca bằng tiếng bản xứ, đôi khi rất lăng mạn và trữ t́nh, đồng thời kết những triều thiên hoa hồng, vừa đội lên đầu Đức Mẹ, vừa hát vừa múa.

Theo truyền thuyết th́ có một anh lái buôn, v́ phải đi rong ruổi đó đây, không thể tham dự những buổi họp mừng Đức Mẹ với anh chị em tín hữu, nên đă nghĩ ra cách đọc đi đọc lại những câu kinh mà ban đầu chỉ có lời chào của sứ thần Gabriel cộng với lời chúc mừng của bà Elisabeth.

Thánh Đaminh đă dùng cái nên tảng của ḷng sùng kính này để xây dựng nên truyền thống suy niệm những mầu nhiệm cứu độ, bằng cách giảng dạy cho các tín hữu nghe biết về những biến cố của cuộc đời Chúa Giêsu. Có thể nói, thánh nhân đă biến đổi một h́nh thức sùng kính chỉ có tính cách t́nh cảm trở thành một phương tiện loan báo Tin Mừng. Đối với thánh nhân, điều quan trọng không phải là múa hát hay đội triều thiên cho Đức Mẹ, mà là hái cho bằng được những bông hoa của ơn cứu độ từ cây hồng ân sủng được trồng trong vườn thiêng là cơi ḷng Đức Trinh Nữ.

Chính nhờ nghe lời rao giảng mà người ta sám hối và tin vào Phúc Âm. Sám hối phải được liên kết với việc tin vào Phúc Âm, chứ không phải sám hối rồi chỉ đọc kinh. Đọc kinh mà không biết, không hiểu Tin Mừng th́ làm sao đạt được niềm tin. Và không tin th́ đọc kinh làm ǵ cho uổng công.

Bởi thế, cần phải bớt kinh, bớt việc làm của cái miệng, để tăng thêm việc làm cho trái tim, cho cái tâm. Thật ra th́ sự suy niệm này đă được chính Đức Mẹ thực hiện và làm gương cho chúng ta. Thánh Luca đă ghi lại những hai lần thái độ của Đức Mẹ, đó là luôn để tâm suy niệm những biến cố liên quan tới Chúa Giêsu, người Con của Mẹ. Vậy th́ đối với chúng ta, suy niệm những mầu nhiệm của Tin Mừng, đó chính là cách hữu hiệu nhất để hái được những bông hồng tươi thắm mà cài lên áo Mẹ hiền.

  
 

2. Suy niệm của ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

HÀNH TR̀NH ĐỨC TIN CỦA ĐỨC MARIA

Khi nh́n ngắm các tượng ảnh Đức Mẹ, ta dễ có cảm tưởng rằng Đức Mẹ đă sống một đời b́nh an thư thái. V́ các nghệ nhân thường tạo ra những h́nh ảnh về Đức Mẹ đẹp đẽ, hiền từ, dường như siêu thoát mọi cảnh khổ đau ở trần gian. Khi ngợi ca Đức Mẹ là tuyệt mỹ, đầy ơn phúc, vô nhiễm nguyên tội, ta thường nghĩ rằng: Đức Mẹ đă được tạo dựng đặc biệt, hoàn hảo ngay từ đầu, thánh thiện từ khi sinh ra và măi măi là như thế, không tiến, không lùi, đẹp như một pho tượng đúc sẵn.

Nhưng nếu đọc Phúc Âm kỹ lưỡng, ta sẽ thấy hành tŕnh đức tin của Mẹ không phải luôn luôn bằng phẳng, êm xuôi, dễ dàng. V́ yêu thương, Thiên Chúa đă thanh luyện Mẹ, uốn nắn Mẹ. Và v́ thế đă để Mẹ trải qua những kinh nghiệm đớn đau khi tin nhận và bước theo Chúa.

Cuộc thanh luyện thứ nhất: Thiên Chúa mời gọi Mẹ bỏ chương tŕnh riêng để sống theo chương tŕnh của Thiên Chúa. Maria, một thôn nữ b́nh dị sống thầm lặng trong một làng quê nhỏ bé. Cô muốn cuộc đời măi măi b́nh thản êm xuôi như thế. Nhưng Thiên Chúa đă đến khuấy động đời cô. Khi đề nghị Maria làm mẹ, Thiên Chúa đă mở ra trước mặt cô một lư tưởng cao đẹp, nhưng cũng đầy gian khổ chông gai. Maria đă ngoan ngoăn thưa “Xin vâng”. Lời thưa ‘xin vâng’ của Maria làm ta nhớ đến tổ phụ Abraham. Như Abraham đă từ bỏ quê hương, gia đ́nh đi vào một tương lai bấp bênh theo tiếng Chúa mời gọi, Maria cũng đă từ bỏ chương tŕnh riêng trong nếp sống b́nh dị, để đi vào chương tŕnh của Thiên Chúa trong một tương lai bất ổn, hoàn toàn phó thác vào Thiên Chúa.

Cuộc thanh luyện thứ hai: Thiên Chúa gửi đến cho Đức Mẹ nhiều đau khổ. V́ nhận lời làm Mẹ Đấng Cứu Thế, Đức Maria phải gánh chịu nhiều đau khổ.

Đau khổ thứ nhất là bị Giuse nghi ngờ. Làm sao giải thích cho Giuse hiểu. Làm sao tránh được búa ŕu dư luận. Không những bị nghi ngờ, mà c̣n nguy hiểm đến tính mạng nữa. Thời ấy, những cô gái chửa hoang sẽ bị ném đá cho đến chết. Nhưng vững tin vào Thiên Chúa, Đức Maria đă để mặc Thiên Chúa lo liệu dàn xếp mọi chuyện. Ngài chỉ biết cúi đầu, thinh lặng vâng phục và phó thác.

Đau khổ thứ hai là Đức Maria đă sinh hạ Chúa Giêsu trong cảnh cơ bần: không nhà cửa, không giường chiếu, không mùng mền. Thiếu thốn mọi phương tiện. Chung số phận với súc vật.

Đau khổ thứ ba là bị vua Hêrôđê t́m giết nên phải trốn sang Ai Cập. Con trẻ sơ sinh yếu ớt. Sản phụ chưa được nghỉ ngơi lại sức đă phải đi lên đường trốn chạy. Tuy nhiên, nỗi cực nhọc phần xác không sánh được với nỗi đau đớn trong tâm hồn: Tại sao lại mang lấy thân phận tội đồ? Tại sao lại bị người đời thù ghét, săn đuổi?

Đối diện với những đau đớn ấy, chắc chắn niềm tin của Đức Maria phải lung lay, nghi hoặc: Con Thiên Chúa mà phải chịu nghèo khổ, khốn cùng đến thế sao? Tuy có chao đảo, nhưng Đức Maria vẫn phó thác và tin tưởng vào Thiên Chúa.

Cuộc thanh luyện thứ ba: Đức Maria bị dứt ĺa khỏi Chúa Giêsu. Niềm vui và hạnh phúc của người mẹ là đứa con, nhất là con một. Con là tất cả của mẹ. Con quư giá hơn chính mạng sống của mẹ. Tách con ra khỏi mẹ khác nào lấy gươm đâm vào tim mẹ. Thế mà Chúa Giêsu đă tách ĺa Đức Maria rất sớm. Phúc Âm ghi lại hai lần Chúa Giêsu từ chối Đức Mẹ.

Lần thứ nhất: Khi Chúa Giêsu lên 12 tuổi, cả nhà đi lên Giêrusalem dự lễ. Tan lễ, Chúa Giêsu đă tự tiện ở lại, để thánh Giuse và Đức Maria đi t́m mất ba ngày. Trong ba ngày đó, Đức Maria đă trải qua biết bao lo âu, sợ hăi, đau đớn, cực nhọc. Vậy mà khi gặp cha mẹ, Chúa Giêsu đă nói: “Cha mẹ t́m con làm ǵ. Cha mẹ không biết con phải lo việc cho Cha con ư?”. Lời này khiến cho Đức Maria buồn phiền không ít v́ thấy đứa con từ nay thoát khỏi ṿng tay của Mẹ.

Lần thứ hai: Khi Chúa Giêsu đi rao giảng, Đức Maria và mấy người bà con đến t́m Chúa Giêsu. Nhưng Chúa Giêsu không ra tiếp, lại c̣n nói những lời như chối từ liên hệ huyết thống: “Kẻ nghe lời Cha ta và thực hành, người ấy là anh chị em và là Mẹ ta”.

Những lời nói và thái độ của Chúa Giêsu như thế chắc chắn khiến cho Đức Maria buồn phiền. Nhưng những lời nói và thái độ ấy cũng giúp thanh luyện Đức Maria khỏi những t́nh cảm riêng tư, những liên hệ sinh học tự nhiên để bước vào t́nh yêu rộng lớn của Thiên Chúa và tạo lập những dây liên hệ siêu nhiên với Ngài.

Cuộc thanh luyện cuối cùng: Đức Maria phải chứng kiến cái chết nhục nhă của Chúa Giêsu trên thập giá. C̣n ǵ buồn hơn khi mẹ mất con. C̣n ǵ đau đớn hơn khi mẹ thấy con chết đau đớn, tủi nhục giữa tuổi thanh xuân. Ở đây ta cũng nhớ lại tổ phụ Abraham. Để thử thách ông, Thiên Chúa đă truyền cho ông sát tế Isaác, đứa con trai duy nhất. Đức Maria cũng được mời gọi hy sinh người con duy nhất của ḿnh. Đau đớn hơn tổ phụ Abraham v́ Đức Maria phải chứng kiến hy lễ đó hoàn tất. Khi mọi người trốn chạy, chối bỏ Chúa Giêsu, Đức Maria vẫn ở lại dưới chân cây thập giá đau nỗi đau của Chúa Giêsu, nhục nỗi nhục của Chúa Giêsu. Và khi Chúa Giêsu trút hơi thở cuối cùng th́ Đức Maria như bị mất tất cả, bị tước đoạt tất cả những ǵ yêu quư nhất. Đứng dưới chân thánh giá, Đức Maria trở nên một người nghèo nhất. Mẹ chẳng c̣n ǵ cho riêng ḿnh. Chẳng c̣n điểm tựa nào để bám víu, Mẹ chỉ c̣n biết phó thác trông cậy vào Thiên Chúa.

Như vậy Thiên Chúa đă dẫn đưa Đức Maria từ bỏ chương tŕnh riêng tư, từ bỏ chính ḿnh, từ bỏ những ǵ thân thiết nhất của ḿnh, để đi vào chương tŕnh của Thiên Chúa, để trọn vẹn phó thác cho Thiên Chúa.

Ngày nay khi lần chuỗi Mân Côi là ta ôn lại hành tŕnh đức tin của Mẹ. Hành tŕnh đầy thử thách gian khổ nhưng cũng đầy chiến thắng vinh quang.

Xưa kia lễ Mân Côi được mừng để kỷ niệm cuộc thắng trận ở Lepante. Ngày nay, khi mừng lễ Mân Côi ta mừng Đức Mẹ Maria đă chiến thắng chính bản thân, đă vượt qua hết những thử thách và đạt tới đích điểm của hành tŕnh đức tin.

Lạy Mẹ Maria, xin cho con biết noi gương Mẹ, biết từ bỏ ư riêng ḿnh để thực hiện ư Thiên Chúa. Xin giúp con can đảm vượt qua mọi thử thách và giữ vững niềm tin tưởng phó thác trong tay Chúa.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

1) Hăy kể ra những cuộc thanh luyện của Đức Mẹ.

2) Tại sao con người phải chịu thanh luyện? Có phải v́ Chúa muốn hành hạ con người không?

3) Thanh luyện hệ tại điều ǵ? Chịu khổ sở hay từ bỏ ḿnh, điều nào quan trọng hơn?

 
 

3. Đức Chúa ở cùng Bà

Suy Niệm

Con người hôm nay mệt mỏi, lo âu, căng thẳng, vội vă. Chuỗi Mân Côi làm ḷng ta lắng xuống, thanh thản b́nh an để chiêm ngắm cuộc đời Chúa Giêsu và ca ngợi Mẹ.

Kính Mừng Maria đầy ơn phúc.

Đây là lời sứ thần chào Mẹ lúc truyền tin, lời mời Mẹ vui lên v́ ơn cứu độ nay đă đến.

Mẹ đầy ơn phúc v́ được Thiên Chúa đặc biệt yêu thương. T́nh thương Chúa chở che Mẹ ngay từ lúc chưa chào đời, và t́nh thương ấy c̣n bao bọc Mẹ măi măi.

Mẹ được tuyển chọn làm Mẹ Đấng Cứu Thế, nên Mẹ được giữ ǵn khỏi vết nhơ nguyên tội.

Chúng ta được dự phần vào niềm vui và ân phúc của Mẹ v́ chúng ta cũng được Thiên Chúa tuyển chọn, yêu thương được tẩy xóa nguyên tội để trở nên thụ tạo mới.

Đức Chúa Trời ở cùng Bà.

Trong Cựu Ước, có bao người được Thiên Chúa ở cùng, để rồi được Ngài sai đi phục vụ Dân Chúa. Nhưng Thiên Chúa ở cùng Mẹ một cách độc nhất vô nhị.

Khi được đầy tràn Thánh Thần và cưu mang Ngôi Lời, Mẹ trở nên như Ḥm Bia, như Đền Thánh, nơi vinh quang Thiên Chúa hiện diện giữa con người.

Nhiều lần trong mỗi Thánh Lễ, vị linh mục chúc chúng ta: Chúa ở cùng anh chị em.

Kitô hữu là người có Đức Kitô ở cùng và được mời gọi đem Ngài đến cho thế giới.

Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ.

Đó là lời bà Êlisabét ca ngợi Mẹ (Lc 1, 42) v́ chỉ ḿnh Mẹ được diễm phúc sinh hạ Đấng Mêsia. Mẹ đă cưu mang Người và cho Người bú mớm (Lc 11, 27).

Nhưng sau đó bà Êlisabét c̣n ca ngợi Mẹ có phúc v́ đă tin Chúa sẽ thực hiện điều Ngài nói với Mẹ (Lc 1, 45).

Tin là dám buông đời ḿnh trong tay Chúa và để Ngài dẫn đi trong đêm tối của ḷng tin.

Mọi tín hữu đều được mời sống hành tŕnh đức tin như Mẹ, để được cùng Mẹ chung hưởng hạnh phúc: “Phúc cho ai không thấy mà tin” (Ga 20, 29)

Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời.

Chỉ Thiên Chúa là Đấng Thánh và là nguồn mọi sự thánh thiện.

Mẹ được chia sẻ sự thánh thiện ấy cách tuyệt vời, v́ Mẹ được chọn làm Mẹ Đức Giêsu, Mẹ Thiên Chúa, và v́ chẳng ai thực thi ư Chúa trọn vẹn như Mẹ.

Chúng ta chẳng được diễm phúc sinh ra Đức Giêsu, nhưng chính Ngài lại mời gọi ta làm mẹ của Ngài: “Mẹ tôi và anh em tôi là những ai nghe Lời Thiên Chúa và đem ra thực hành” (Lc 8,21).

Khi thực thi Lời Chúa trong cuộc sống, chúng ta sinh Đức Giêsu cho nhân loại hôm nay. Ngài vẫn cần những người mẹ để có mặt đến tận thế.

Chẳng có ǵ Đức Maria được hưởng cách viên măn, mà Hội Thánh và từng người lại không được dự phần.

Xin Mẹ cầu cho ta khi này và trong giờ lâm tử.

Gợi Ư Chia Sẻ

Bạn có khi nào lần chuỗi không? Bạn có biết lần chuỗi không? Bạn có thấy lần chuỗi là một cách cầu nguyện nhẹ nhàng và lắng đọng không?

Bạn nghĩ ǵ về Đức Mẹ? Đức Mẹ có phải là Đấng ở trên cao và xa lạ với bạn, hay là Đấng rất gần bạn trong cuộc sống đức tin?

Cầu Nguyện

Lạy Mẹ Maria, khi đọc Phúc Âm, lúc nào chúng con cũng thấy Mẹ lên đường.

Mẹ đi giúp bà Isave, rồi đi Bêlem sinh Đức Giêsu. Mẹ đưa con đi trốn, rồi dâng Con trong đền thờ. Mẹ t́m con bị lạc và đi dự tiệc cưới ở Cana. Mẹ đi thăm Đức Giêsu khi Ngài đang rao giảng. Và cuối cùng Mẹ đă theo Ngài đến tận Núi Sọ.

Mẹ lên đường để đáp lại một tiếng gọi âm thầm hay rơ ràng, từ ngoài hay từ trong, từ con người hay từ Thiên Chúa.

Chúng con thấy Mẹ luôn đi với Đức Giêsu trong mọi bước đường của cuộc sống. Chẳng phải con đường nào cũng là thảm hoa. Có những con đường đầy máu và nước mắt.

Xin Mẹ dạy chúng con đừng sợ lên đường mỗi ngày, đừng sợ đáp lại những tiếng gọi mới của Chúa dù phải chấp nhận đoạn tuyệt chia ly.

Xin giữ chúng con luôn đi trên Đường-Giêsu để chúng con trở thành nẻo đường khiêm hạ đưa con người hôm nay đến gặp gỡ Thiên Chúa.

  
 

4. Tôi là nữ tỳ của Chúa

Suy Niệm

Nhân vật chủ yếu mà thánh Luca muốn tŕnh bày trong bài Tin Mừng trên đây là chính Đức Giêsu. Ngài là Con Đấng Tối Cao, là Vua Mêsia (c.32-33). Ngài là Đấng Thánh, là Con Thiên Chúa (c.35). Thiên Chúa muốn Con Ngài vào đời làm người, nên đă chuẩn bị cho Con một người mẹ tuyệt hảo. Maria là người được Thiên Chúa đặc biệt mến thương. Thiên thần gọi cô là Đấng đầy ân sủng, là người được Đức Chúa ở cùng (c.28), là người đẹp ḷng Thiên Chúa (c.30). Maria đă là một thụ tạo tuyệt vời ngay từ trước khi làm mẹ Đức Giêsu. Nhưng Thiên Chúa vẫn tôn trọng tự do của cô Maria. Ngài cần sự ưng thuận của một thụ tạo nhỏ bé trước khi trao cho Maria chức vụ làm Mẹ Đấng Cứu Thế. “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên cô và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên cô” (c.35). Maria hẳn đă phải suy nghĩ trước khi chấp nhận làm mẹ theo một cách thức lạ lùng đến thế.

Lời mời gọi nào của Thiên Chúa cũng gây xáo trộn những dự định và tính toán riêng tư. Nếu Maria đă khấn sống khiết tịnh, th́ nay Thiên Chúa lại muốn cô làm mẹ và sinh con. Nếu Maria đă muốn sống bậc hôn nhân một cách b́nh thường với ông Giuse, th́ nay Thiên Chúa lại muốn cô có một người con, không phải với Giuse, và tương quan giữa cô với Giuse hẳn phải thay đổi.

Maria không hiểu hết con đường ḿnh sắp đi. Có biết bao trắc trở, khó khăn, mờ tối. Nhưng cô tin vào Thiên Chúa đang mời gọi. Cô buông ḿnh để tay Chúa dẫn đưa, v́ xác tín rằng chẳng có ǵ Ngài không làm được. Maria đă xin vâng trong niềm tin yêu phó thác. Tiếng xin vâng này mở đầu cho một chuỗi xin vâng làm nên cuộc đời người nữ tỳ của Chúa.

Lắm khi chúng ta thấy Đức Maria quá cao xa v́ tràn đầy những ơn chúng ta không hề có. Chúng ta quên rằng Mẹ cũng là một tín hữu bước những bước gập ghềnh qua sa mạc cuộc đời. Nói tiếng xin vâng khi mọi sự dường như sụp đổ, chuyện đó cần đến ḷng tin. “Phúc cho em là kẻ đă tin...” (Lc 1,45).

Tiếng xin vâng khó khăn nhất của Mẹ Maria là tiếng xin vâng dưới chân thập giá. Những lời thiên thần nói ngày xưa có c̣n đáng tin không? Chỉ khi Đức Giêsu Phục Sinh hiện ra với Mẹ tất cả những tiếng xin vâng trong đời mới bừng sáng trọn vẹn và rực rỡ ư nghĩa.

Chúng ta có dám liều xin vâng như Mẹ không?

Gợi Ư Chia Sẻ

Thiên Chúa đă nói với Đức Maria qua vị thiên sứ. C̣n bạn, có khi nào Chúa nói với bạn và mời bạn cộng tác không? Bạn có khi nào nghe Chúa nói qua giờ cầu nguyện, qua một người hay một biến cố trong cuộc sống không?

Để xin vâng, cần phải tin. Để tin, cần phải liều. Có khi nào bạn dám bỏ mọi chỗ dựa nơi người đời để dựa vào Chúa không?

Cầu Nguyện

Lạy Mẹ Maria, khi đọc Phúc Âm, lúc nào chúng con cũng thấy Mẹ lên đường.

Mẹ đi giúp bà Isave, rồi đi Bêlem sinh Đức Giêsu. Mẹ đưa Con đi trốn, rồi dâng Con trong đền thờ. Mẹ t́m Con bị lạc và đi dự tiệc cưới ở Cana. Mẹ đi thăm Đức Giêsu khi Ngài đang rao giảng. Và cuối cùng Mẹ đă theo Ngài đến tận Núi Sọ.

Mẹ lên đường để đáp lại một tiếng gọi âm thầm hay rơ ràng, từ ngoài hay từ trong, từ con người hay từ Thiên Chúa.

Chúng con thấy Mẹ luôn đi với Đức Giêsu trong mọi bước đường của cuộc sống.

Chẳng phải con đường nào cũng là thảm hoa. Có những con đường đầy máu và nước mắt.

Xin Mẹ dạy chúng con đừng sợ lên đường mỗi ngày, đừng sợ đáp lại những tiếng gọi mới của Chúa dù phải chấp nhận đoạn tuyệt chia ly. Xin giữ chúng con luôn đi trên Đường-Giêsu để chúng con trở thành nẻo đường khiêm hạ đưa con người hôm nay đến gặp gỡ Thiên Chúa

 
 

5. Kinh Mân Côi – Lời kinh kỳ diệu

(Trích trong ‘Từng Bước Một Thôi’ - ĐGM. Vũ duy Thống)

Ngày 16 tháng 10 năm 1978, trong lần xuất hiện đầu tiên trước công chúng sau khi đắc cử Giáo Hoàng, Đức Gioan Phaolô II đă kư thác sứ vụ của ngài cho Đức Mẹ Maria và giới thiệu lại Kinh Mân Côi cho toàn thế giới như là “lời kinh diệu kỳ”.

Sau hai mươi lăm năm, tức là vào dịp mừng Ngân khánh Giáo Hoàng, trong Tông thư “Kinh Mân Côi”, một lần nữa ngài ân cần nhắc lại kỷ niệm xưa mà nay đă trở thành xác tín: Kinh Mân Côi là lời kinh kỳ diệu. Đơn giản trong h́nh thức, đơn sơ trong nội dung, nhưng không đơn thuần là một kinh dành cho giới b́nh dân như có thời người ta nghĩ, nhất là sau Vatican II khi Phụng Vụ t́m lại được vị thế đỉnh cao và trung tâm.

Vâng, Kinh Mân Côi là kinh phổ quát cho hết mọi người, phổ cập cho mọi tŕnh độ và phổ biến trong bất cứ hoàn cảnh nào, nhưng đâu là nét kỳ diệu của Kinh Mân Côi?

1) Kinh Mân Côi hệ tại việc gặp gỡ Đức Maria trong t́nh mẫu tử.

Đành rằng lời kinh nào dâng lên Đức Maria cũng là dâng lên trong t́nh mẫu tử, như được thể hiện qua truyền thống cầu nguyện Việt Nam, nhất là trong lănh vực ca nguyện. Cứ thử làm một bảng liệt kê những ca khúc hát dâng Đức Mẹ ắt sẽ rơ. Nhiều lắm. Chỉ những ca khúc bắt đầu bằng chữ “Mẹ ơi” từ nốt bậc năm về nốt bậc một không phân biệt trưởng thứ cũng có thể làm thành một cuốn sưu tập không mỏng. Nhưng vượt lên tất cả, riêng Kinh Mân Côi đă đẩy t́nh mẫu tử ấy lên một cung bậc diệu kỳ.

Phần đầu Kinh Kính Mừng dựa trên Phúc Âm là lời chào của sứ thần Gabriel phối hợp với lời mừng của bà Êlisabet làm thành lời xưng tụng Đức Maria là Mẹ Chúa Giêsu, Đấng từ trời cao xuống thế làm người. Phần sau Kinh Kính Mừng là lời xin ơn trợ giúp qua đó tín hữu xưng hô Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa. Và tổng hợp cả hai phần ngắn ngủi đọc lên chỉ trong mười lăm giây đồng hồ là cả một lời kinh kỳ diệu nối kết tâm t́nh con thảo vào với mầu nhiệm Đức Maria trên đỉnh vị thế là Mẹ Thiên Chúa, Mẹ con người; Mẹ Chúa Giêsu và Mẹ của mỗi người chúng ta.

Nếu “nải chuối buồng cau, đường mía lau xôi nếp một” là ca dao t́nh mẹ ngọt ngào trong văn học dân gian Việt Nam, th́ Kinh Kính Mừng quả là lời kinh tuyệt diệu ngọt ngào t́nh mẫu tử thiêng liêng giúp ta gặp được Đức Maria cao xa là Mẹ Chúa Trời nhưng vẫn cứ luôn gần gũi với người dương thế cho dẫu phận người hôm nay không đẹp đẽ ǵ, v́ xét cho cùng chỉ là kẻ có tội “khi nay và trong giờ lâm tử”. Chính v́ thế Kinh Kính Mừng đă trở thành lời nguyện tắt mọi lúc mọi nơi.

2) Kinh Mân Côi: Qua Mẹ để tới Chúa Kitô.

Thật vậy, h́nh thức lời kinh trực tiếp dâng lên Đức Mẹ, nhưng nội dung chiêm niệm lại là mầu nhiệm cuộc đời Chúa Giêsu trải ra theo mười lăm ngắm truyền thống Vui Thương Mừng và năm mầu nhiệm sự Sáng do Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đề nghị. Chả thế mà Đức Phaolô VI trong Tông huấn Marialis Cultus đă gọi Kinh Mân Côi là “cuốn Phúc Âm rút gọn”, rất gọn không c̣n cách nào gọn hơn được nữa, để có thể ghi vào trong bộ nhớ sống, sẵn sàng bung ra làm việc trên màn h́nh máy tính cuộc đời. Từ việc Chúa Giêsu sinh ra trong Máng cỏ đến việc Người biến h́nh trên Núi Tabor, rồi qua việc Người như bị Chúa Cha ruồng bỏ, để hiện h́nh sáng tỏ trong mùa Phục Sinh.

Tất nhiên người ta có thể đến với Chúa Giêsu bằng nhiều cách khác nhau như đọc Phúc Âm, rước Thánh Thể, thương giúp người…, nhưng đến với Chúa Giêsu bằng cung cách của Kinh Mân Côi th́ quả là độc đáo; không phải là bí tích nhưng hiệu quả dọn đường cho bí tích; không phải là Phụng Vụ nhưng tâm t́nh rất cận kề Phụng Vụ; và nhất là được cùng với Đức Mẹ trên từng cây số cuộc đời Chúa Giêsu và theo phong cách của Đức Mẹ là “lưu giữ và suy niệm trong ḷng”, tức là “khẩu tụng” đều đều lời kinh Đức Mẹ và “tâm suy” dài dài cuộc đời Đấng Cứu Thế.

“Ad Jesum per Mariam” chính là đây, bằng phương thức tụng niệm tức là vừa đọc vừa suy niệm của Kinh Mân Côi. Đó là kết cấu tinh thần. Ngay trong kết cấu vật thể của tràng hạt Mân Côi, người ta cũng thấy rơ dụng ư này: năm mươi Kinh Kính Mừng kết thành tràng hạt, nhưng cả tràng hạt chỉ được kết thúc bằng tượng Chúa Giêsu chịu chết treo trên Thánh Giá. Thật diệu kỳ được Đức Mẹ dẫn tới Chúa Giêsu.

3) Kinh Mân Côi là phương thế giúp người người vững bước trên đường nên thánh

Khi nêu lên hiệu quả thánh hóa của Kinh Mân Côi trong nhịp sống Giáo Hội, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đă không quên gợi lại những chứng tích lịch sử, những khuôn mặt tiền nhiệm, những lời kêu gọi của Đức Mẹ trong những lần hiện ra tại Lộ Đức và Fatima, và nhất là chính kinh nghiệm bản thân gắn bó với chuỗi Mân Côi, ngày xưa c̣n bé cũng như trong sứ vụ hiện nay và cách riêng qua biến cố ngài bị ám sát hụt ngày 13 tháng 05 năm 1981 kỷ niệm dịp Đức Mẹ hiện ra lần đầu tiên tại Fatima. Kinh Mân Côi, như kiểu nói b́nh dân, chính là vũ khí giúp ta chống lại ba thù “ma quỷ, thế gian, xác thịt”, và là sinh tố tăng cường ba việc “nên thánh, mến Chúa, yêu người”.

Nếu nhân đức là việc tốt lành được tập tành lặp đi lặp lại thành thói quen phản xạ tự nhiên, th́ Kinh Mân Côi chính là một bửu bối không thể thiếu được cho người tu thân luyện đức theo gương Đức Mẹ và theo chân Chúa Giêsu từ Máng Cỏ ấp ủ qua Thập Giá trui rèn tới Nhà Tạm chiêm ngưỡng. Mỗi một mầu nhiệm xướng lên là một nhân đức khơi gợi để theo lời kinh nhả nhẹ và dưới tác động của ơn thánh, ḷng người được bớt bất xứng hơn, tạo điều kiện thuận lợi dần dần cho việc nên thánh.

Những nhà thông thái có sách vở chữ nghĩa, những nhà cai trị có sức mạnh quyền hành, những nhà tu tŕ có bầu khí ổn định làm phương tiện, c̣n hầu hết chúng ta là những nhà “tu hành” nghĩa là tu thân bằng việc hành đạo như người giáo dân, hay đi tu mà vẫn phải đi tới đi lui đi xuôi đi ngược ở giữa cuộc đời như các giáo sĩ triều, th́ Kinh Mân Côi chính là một hành trang và phương tiện “bỏ túi” (hoặc đeo tay đeo cổ) gọn nhẹ giúp thánh hóa bản thân, gia đ́nh và xă hội. Theo định nghĩa này, Kinh Mân Côi không khác ǵ điện thoại di động ḥa đời ta vào mạng sự sống thiêng liêng.

Tóm lại, Kinh Mân Côi, đúng như kiểu nói của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, chính là lời kinh diệu kỳ dâng qua Đức Mẹ tới Chúa Giêsu để người đọc được vững bước đi trên đường thánh hóa. Đối với cộng đoàn hôm nay kết thúc ba ngày tĩnh tâm khởi đầu cho năm học mới, ta quyết tâm đọc Kinh Mân Côi với nhiều xác tín hơn, để năm học mới tâm hồn được b́nh an hơn, việc tuân thủ kỷ luật cá nhân và cộng đoàn được nghiêm minh hơn và nhất là từng người được nỗ lực sống thánh đức hơn.

 
 

6. Kinh Mân Côi – Lời kinh kết nối (Lc 1,26-38)

(Trích trong ‘Nút Ṿng Xoay’ - ĐGM. Vũ duy Thống)

Chiều qua ghé mừng bổn mạng Phanxicô Khó Khăn của một người bạn là cha của một gia đ́nh một vợ ba con. Đúng lúc gia đ́nh vừa đi lễ về. Đang khi tay bắt mặt mừng, đứa gái út đă nhanh nhẩu chỉ cho tôi chiếc áo mới màu xanh nước biển đang mặc và khoe rằng hôm nay nó là Việt kiều Úc Châu đấy. Tôi c̣n chưa hiểu ất giáp ǵ th́ nó đă liến thoắng đố tôi hôm nay trong gia đ́nh nó có ǵ lạ. Tôi đảo mắt nh́n một ṿng nhưng chẳng thấy có ǵ khác nên đành chịu. Con bé lí lắc đă chẳng giữ kín được câu đố của ḿnh nên đă nhanh chóng bật mí cho tôi. Nó nói: gia đ́nh nó hôm nay mỗi người mặc một màu áo: bố màu trắng người Châu Âu, mẹ màu vàng người Châu Á, chị hai màu đỏ người Châu Mỹ, c̣n anh ba màu xanh lá người Châu Phi. Cả gia đ́nh là năm châu, là thế giới.

Thấy tôi vẫn ngẩn người chưa hiểu, anh bạn tôi đă phải giải thích: chả là vào tháng Mân Côi, má xấp nhỏ muốn làm một chuỗi kinh sống trong gia đ́nh nên phân bổ mỗi người mỗi ngày đọc một chục, năm người thành năm chục, năm chục năm màu năm châu là sáng kiến của Đức Giám Mục Fulton Sheen đă lâu ở bên Mỹ, c̣n năm màu áo minh họa là sáng kiến của con út nhà này. Con bé đỏ mặt hănh diện, mọi người cười vui. Và khởi đi từ niềm vui ấy, tôi miên man suy nghĩ: Kinh Mân Côi là lời kinh kết nối.

1) Kết nối với Đức Maria.

Bởi Kinh Kính Mừng là nối kết lời thiên thần Gabriel chào Đức Maria trong buổi Truyền Tin với lời mừng của bà Êlisabet trong ngày Thăm Viếng, nên mỗi lần được lặp lại đă trở thành lời chào mừng chính thức cho sự kết nối giữa con người với Đức Maria.

Sự kết nối ấy là kết nối với một cá nhân khi đối diện với mầu nhiệm của Thiên Chúa chỉ dám nhận ḿnh là một tôi tớ, nhưng đă được cất nhắc lên vinh quang làm Mẹ Thiên Chúa. Đó là một dung ḥa tuyệt hảo giữa một đàng là hồng ân của Thiên Chúa và đàng khác là nỗ lực của con người, nghĩa là nơi Đức Maria, người ta hiểu rằng tất cả khởi đi từ ơn phúc Chúa ban nhưng c̣n ở trong t́nh trạng tiềm ẩn, chỉ đến khi có sự đáp trả cộng tác bằng lời “xin vâng” th́ ơn phúc kia mới lộ hiện.

Nhưng “xin vâng” không chỉ bằng lời mà là bằng cả một đời đánh đổi: vừa bền ḷng thực thi ư Chúa, vừa bền chí chấp nhận những thử thách cam go vốn không thiếu trên hành tŕnh đức tin bên cạnh Chúa Giêsu.

Sự kết nối ấy là một sự “nối mạng”, nghĩa là kết nối vào một vận mạng. Đức Maria trong vinh quang hiện tại không những không xa cách mà c̣n gần gũi nhân loại hơn cả bao giờ. Mẹ là Mẹ Thiên Chúa đă nên Mẹ Giáo Hội để qua Kinh Kính Mừng, một tâm t́nh hiệp thông gắn bó nảy sinh, rất linh động như ḍng chảy hai chiều đi đi về về giữa Đức Maria xuống với con người và giữa con người lên với Đức Maria, rất tự nhiên như t́nh mẫu tử, đằm thắm khi yên ổn nhưng cũng đầy trách nhiệm những khi kêu cầu.

2) Kết nối với Chúa Giêsu.

Nếu đối tượng trực tiếp của Kinh Mân Côi là kết nối với Đức Maria qua những chặng đường mầu nhiệm đời Mẹ, th́ hành tŕnh cùng với Mẹ, từng bước, người ta sẽ được dẫn tới đích điểm là kết nối với Chúa Giêsu.

Có một điều ngạc nhiên đến thú vị là nếu có ai hỏi ta Đức Maria có lần hạt không, ta sẽ trả lời khẳng định: Đức Maria cũng lần hạt. Hiện ra ở Lộ Đức hoặc ở Fatima, Mẹ đều lần hạt với con cái ḿnh. Điều này cho thấy người ta không chỉ lần hạt kết nối với Mẹ nhưng c̣n cùng với Mẹ lần hạt kết nối với Chúa Giêsu nữa.

Chính kết cấu của Kinh Kính Mừng cũng muốn nói lên điều ấy. Trong Kinh Kính Mừng chỉ có hai danh xưng Maria và Giêsu được xướng lên, mở đầu bằng Maria và kết thúc bằng Giêsu: “Kính mừng Maria đầy ơn phúc, Đức Chúa Trời ở cùng Bà, Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ và Giêsu con ḷng Bà gồm phúc lạ”, nghĩa là kết nối với Mẹ để được nối kết với Con của Mẹ, kết nối với Đức Maria để rồi nối kết với Chúa Giêsu. Qua Mẹ Maria đến với Chúa Giêsu.

Nhưng kết nối với Chúa Giêsu được thấy rơ nhất là qua những mầu nhiệm Mân Côi mùa Vui, Thương, Mừng như cách gọi truyền thống: Vui trong mầu nhiệm Nhập Thể Đức Giêsu xuống thế làm người sống cho mọi người; Thương trong mầu nhiệm Tử Nạn Đức Giêsu chịu chết chuộc tội cho cả nhân loại và Mừng trong mầu nhiệm Phục Sinh Đức Giêsu bước vào vinh quang mở ra tương lai cho mọi sinh linh.

Đây là sự kết nối nền tảng và là đỉnh cao. Thiếu nó, kết nối với Đức Maria dẫu có vẫn c̣n lỏng lẻo, chưa có nó kết nối dẫu đậm đà vẫn chưa vươn tới đẫy đà cần thiết.

3) Kết nối với mọi người trong Chúa Kitô nhờ lời chuyển cầu của Mẹ Maria.

Thực ra đây là hệ lụy tất nhiên của hai mối kết nối nói trên. Một khi liên đới với Đức Maria để hiệp thông với Đức Kitô, tất nhiên mọi người là anh chị em hiệp thông với nhau, nhưng chính ở đây lại mở ra một nhăn giới đầy lạc quan tin tưởng hy vọng cho tất cả những ai lần hạt Mân Côi.

Với Kinh Mân Côi, tín hữu nhận biết người Ấn Độ là anh em của ḿnh, người Châu Âu sung túc cũng nhận ra người Somali đói nghèo là chi thể của ḿnh, người Kinh cảm nhận hơn nữa người Thượng gần gũi với ḿnh. Tại sao ta lần hạt ở nhà thờ, gia đ́nh, trên đường……? Tại sao ai cũng lần hạt được, từ giáo sĩ đến giáo dân, từ trí thức đến nông dân, từ em thơ đến các cụ? Thưa bởi v́ Kinh Mân Côi b́nh đẳng phổ cập, chẳng những phù hợp với mọi người mà c̣n củng cố hiệp thông với mọi người. Buồn hay vui người ta đều lần hạt, đám cưới th́ lần hạt xin hạnh phúc đời này, c̣n đám tang th́ lần hạt xin hạnh phúc đời sau.

Nếu Kinh Mân Côi có được xem là vũ khí th́ vũ khí ấy lại là t́nh thương san sẻ có sức mạnh gắn hàn liên kết hiệp thông. Bằng Kinh Mân Côi, người ta san sẻ cho nhau sứ điệp Tin Mừng như lễ Mân Côi hôm nay theo lịch sử là ghi dấu chiến thắng Lépante năm 1571 giữa Hồi Giáo và Công Giáo, nhưng theo tinh thần lại là ghi dấu một sức mạnh khi mọi người hiệp thông trong Kinh Mân Côi.

Tŕnh bày Kinh Mân Côi là lời kinh kết nối không có tham vọng đem lại cái ǵ mới mà chỉ muốn lặp lại ư muốn của Đức Maria và Giáo Hội ở một ḥa âm mới hơn trong mối hiệp thông. Để với những ai đă quen lần hạt hằng ngày, xin được kiên tŕ. Kinh Mân Côi giúp nối mạng tâm linh cho tâm t́nh bộc bạch thành tâm sự dễ dàng, nhanh chóng. Kinh Mân Côi c̣n là người bạn chân t́nh, dễ tính, trung thành luôn sẵn sàng hiện diện mọi lúc, mọi nơi.

Một lần làm phép xâu chuỗi cho bà cụ và cô gái, thấy họ kính cẩn trong cách trao và nhận, tôi chỉ vào túi ḿnh và nói với hai người: tôi cũng có chuỗi kinh. Tất cả đều cười vui. Mong rằng không chỉ có chuỗi kinh để lần hạt chu toàn nhiệm vụ, mà c̣n có chuỗi kinh biết hiệp thông nối kết với nhau và cầu nguyện cho nhau.

  
 

7. Mẹ Mân Côi – Mẹ chiến thắng

(Trích trong ‘Với Cả Tâm T́nh’ - ĐGM. Vũ duy Thống)

Lễ Đức Mẹ Mân Côi gợi nhớ về một trận chiến. Năm 1571, trước sức mạnh đe dọa của Hồi Giáo trên phần đất nước Ư, Đức Giáo Hoàng Piô V đă kêu gọi con cái ḿnh chung sức bảo vệ. Các vua chúa Công Giáo Châu Âu đáp lời. Đạo binh Thánh Giá lên đường ra tiền tuyến. Hậu phương yểm trợ bằng Kinh Mân Côi. Ngày 7 tháng 10, kết thúc binh lửa ở vịnh Lépante, với phần thắng nghiêng về phía Công Giáo. Người ta mở lễ ăn mừng. Mẹ Mân Côi từ đó có thêm danh hiệu là Mẹ Chiến Thắng.

Ngày nay, cuộc chiến mang màu tôn giáo ấy đă lùi xa vào dĩ văng. Đạo binh Thánh Giá cũng chẳng c̣n. Nhưng vẫn c̣n đó danh hiệu Mẹ Chiến Thắng. V́ thế, vấn đề không phải là mặc cảm để mà nhức nhối, hoặc háo thắng với nhiều hời hợt, mà chính là b́nh tĩnh chiêm ngắm chân dung Đức Maria Chiến Thắng đă được ghi dấu hiền ḥa qua Kinh Mân Côi.

1) Mẹ chiến thắng trên chính phận ḿnh.

“Kính mừng Maria đầy ơn phúc”. Lời thiên sứ truyền tin ngày nào được đưa vào phần đầu của Kinh Kính Mừng như muốn làm nổi bật lên sáng kiến của Thiên Chúa đă thương chuẩn bị Mẹ từ thuở ban sơ cho mầu nhiệm Con Chúa làm người. Điều này thật quan trọng và chính yếu. Nhưng ở phần ch́m của Kinh Kính Mừng, như bài Phúc Âm ghi lại, là một thái độ đáp ứng không kém quan trọng của Đức Maria đối với thánh ư Chúa. Phần ch́m ấy là tiếng “Xin Vâng”.

“Xin Vâng” là tiếng nói của một tâm hồn rộng mở vốn đă quen t́m trong suy niệm tiếng nói muôn thuở của Thiên Chúa. “Xin Vâng” là tiếng vắn gọn như phản ứng xuất thần, mà thực ra là cả một tiến tŕnh đ̣i hỏi hy sinh chính bản thân ḿnh để đánh đổi. “Xin Vâng” là tiếng một lần dâng lên sẽ không bao giờ rút lại, một lần đoan hứa sẽ có giá trị suốt đời, một lần cúi đầu đáp tiếng là sẽ cúi đầu chấp nhận tất cả, cho dẫu đó là bất trắc của dịp Giáng Sinh hay là lưỡi gươm của ngày Dâng Con, hoặc là đắng cay nghiệt ngă nhất của chiều Tử Nạn. “Xin Vâng” là tiếng hiền ḥa của người khiêm nhường, chỉ dám nhận ḿnh là tôi tớ, nhưng lại là tiếng vinh quang đưa người khiêm nhường ấy bước lên thiên chức làm Mẹ Thiên Chúa.

Rơ ràng tiếng “Xin Vâng” đă thay đổi phận đời Đức Maria. Và ở đây, xin được gọi đó là một chiến thắng: chiến thắng của thánh ư Chúa trên cuộc đời Đức Maria đă trở nên chiến thắng của Đức Maria trên chính số phận đời thường của ḿnh.

V́ thế, hôm nay, nếu đọc lên kinh “Kính mừng Maria đầy ơn phúc”, th́ hăy vui mừng thêm nữa để nhận ra rằng ơn phúc của Thiên Chúa dẫu đă tiềm ẩn nơi Đức Maria, nhưng chỉ thực sự tỏ hiện qua tiếng “Xin Vâng”, để nhớ măi h́nh ảnh Đức Mẹ chiến thắng trên chính phận ḿnh.

2) Mẹ chiến thắng trên mỗi phận người.

“Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội”. Phần sau của Kinh Kính Mừng là lời cầu nguyện xem ra độc lập với phần trước, mà thực ra chỉ là một tâm t́nh duy nhất. Nếu phần trước là lời kính mừng Đức Mẹ Chiến Thắng trên chính phận ḿnh để trở nên “Đức Mẹ Chúa Trời”, th́ phần sau là lời kính mừng Đức Mẹ Chiến Thắng trên mỗi phận người tín hữu, qua mẫu gương trinh trong thánh đức. Do đó, danh hiệu “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời” chính là lời kính mừng trang trọng và cao quư Giáo Hội dành cho Đức Maria. Đó cũng là chiến thắng chung cuộc Đức Maria đă đạt được trong đời ḿnh.

Nhưng chiến thắng vinh quang ấy chẳng những không đẩy Đức Mẹ lên cao để xa cách cuộc đời dương thế, mà ngược lại, c̣n đem Mẹ đến gần gũi nhân loại hơn cả bao giờ. V́ thế, không lạ ǵ khi kính mừng Đức Mẹ trong vinh quang, tín hữu bỗng dưng nghĩ về đời ḿnh, không phải để xót xa phận ḿnh tội lỗi cho bằng cảm nhận mối tương quan “Mẹ Thiên Chúa – Mẹ Giáo Hội” một cách chân t́nh với ḷng trông cậy.

Bên kia lời “cầu cho chúng con là kẻ có tội” là cả một t́nh mẫu tử thiêng liêng. Là Mẹ Thiên Chúa, Mẹ có dư thánh đức để mà chiến thắng tội lỗi, nhưng là Mẹ Giáo Hội, Mẹ vẫn liên hệ với đời tín hữu như là phần đời của Mẹ. Nếu tín hữu nhận ḿnh là kẻ có tội mà vẫn dám cầu xin “Thánh Maria”, và nếu ngước trông lên Mẹ thánh đức mà vẫn không ngại tŕnh bày cuộc đời tội lụy, th́ đó là v́ đă tín nhiệm và cậy trông vào tấm ḷng người mẹ.

Mẹ đă chiến thắng phận ḿnh, Mẹ cũng sẽ chiến thắng trên mỗi phận người tín hữu bằng cách khơi lên sự thánh thiện cho lui xa dần những phần tội lụy.

3) Mẹ Chiến Thắng – Mẹ Mân Côi

Phác vẽ chân dung Đức Mẹ Chiến Thắng qua Kinh Mân Côi như trên, thiết tưởng cũng một phần nào đó khơi lối đi vào ngày lễ hôm nay, đồng thời muốn xác tín về vị trí Đức Maria trong mầu nhiệm Hội Thánh, và nhắc nhở gián tiếp về vai tṛ của Kinh Mân Côi trong đời sống mọi kẻ tin.

Mừng lễ Mẹ Mân Côi không c̣n là mừng về một chiến thắng quân sự nào, mà chính là mừng về một chiến thắng c̣n lớn lao và cốt thiết hơn ở trong tấm ḷng của Đức Maria và ở trong nỗi ḷng của mỗi người con của Mẹ. Đó là chiến thắng của ơn thánh trên tội lỗi, để gợi mở những chiến thắng khác của những điều thiện hảo tốt lành trong đời sống mọi người. Mừng lễ Mẹ Mân Côi cũng không chỉ mừng cho Mẹ mà thực ra là mừng cho mọi kẻ tin, bởi lẽ Đức Mẹ trong mầu nhiệm Giáo Hội chính là kẻ đi trước bước lên chiến thắng và v́ thế, trong Chúa Kitô, Mẹ trở thành Đấng che chở cầu bầu, phù trợ cho mọi tín hữu biết cậy nhờ Mẹ khi khao khát chiến thắng của ơn cứu độ trên chính phận ḿnh.

Và mừng lễ Mẹ Mân Côi hôm nay chính là khẳng định mối liên hệ sâu bền giữa hai danh hiệu “Mẹ Mân Côi – Mẹ Chiến Thắng”, để thấy được rằng muốn có chiến thắng không thể xao lăng lần hạt Mân Côi; và nếu yêu mến lần hạt Mân Côi, sẽ có ngày bước vào chiến thắng. Kinh Mân Côi là một vũ khí, nhưng là vũ khí ḥa b́nh luôn đem lại hiệu quả tích cực. Ai yếu đuối, Kinh Mân Côi đem cho sức mạnh; ai tội lỗi, Kinh Mân Côi dắt về ơn thánh; ai bất hạnh, Kinh Mân Côi giúp b́nh tĩnh t́m ra hướng lối vươn lên; ai khô khan, Kinh Mân Côi giúp khám phá ra những ánh lửa vẫn c̣n ẩn giấu trong những đám tro tưởng như nguội lạnh. Chỉ v́ một lẽ, trong Kinh Mân Côi là hiện diện của Đức Mẹ Chiến Thắng.

Có một truyện kể lâu lắm rồi: hai thôn đạo tranh chấp nhau về một mảnh đất giáp ranh mà thôn nào cũng nhận là của ḿnh. Chiến tranh lạnh, chiến tranh nóng nổ ra. Khối kẻ u đầu sứt trán. Cuối cùng cha xứ phải giải ḥa và đem miếng đất giáp ranh ấy vào làm của chung gọi là “đất Đức Bà”, đồng thời cho dựng một tượng đài Đức Mẹ ở đấy. Hết tranh chấp, thôn trên thôn dưới mỗi tối quây quần lần hạt vui vẻ. Người ta gọi đó là đài Đức Mẹ Ḥa B́nh, nhưng cha xứ lại rất tâm đắc: đó là đài Đức Mẹ Chiến Thắng: thắng chia rẽ, thắng hận thù, thắng tội lỗi.

Lạy Đức Mẹ Chiến Thắng, xin cầu cho chúng con. Amen.

  
 

8. Mân Côi, bản tóm lược Tin Mừng

(Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’)

Trên một chuyến xe lửa về Paris, một sinh viên trẻ tuổi ngồi bên một cụ già. Chỉ ít phút sau khi đoàn tàu chuyển bánh, cụ già rút trong túi áo ra một chuỗi tràng hạt và từ từ ch́m đắm trong cầu nguyện. Người sinh viên quan sát cử chỉ của cụ già với vẻ bực bội. Sau một hồi lâu, xem chừng như không c̣n đủ kiên nhẫn nữa, anh ta mới lên tiếng:

- Thưa ông, nếu tôi không lầm th́ ông vẫn c̣n tin những chuyện nhảm nhí ấy chứ?

Cụ già điềm nhiên trả lời?

- Đúng thế, tôi vẫn tin. C̣n cậu, cậu không tin sao?

Người sinh viên cười một cách ngạo mạn và quả quyết:

- Lúc nhỏ tôi tin, nhưng bây giờ làm sao tôi có thể tin những chuyện ấy nữa. Khoa học đă thực sự mở mắt cho tôi. Ông cứ tin tôi đi, hạy quăng chuỗi tràng hạt ấy đi, và hăy học hỏi những khám phá mới. Ông sẽ thấy rằng những ǵ ông tin từ trước đến giờ đều là mê tín dị đoan cả.

Cụ ǵ b́nh tĩnh hỏi người sinh viên:

- Cậu vừa nói về những khám phá mới của khoa học. Cậu có cách nào giúp tôi hiểu được điều nầy không?

Người sinh viên hăng hái đề nghị:

- Ông cứ cho tôi địa chỉ, tôi sẽ gởi đến cho ông một quyển sách. Ông sẽ tha hồ đi vào thế giới của khoa học.

Cụ già từ từ rút trong túi áo ra một thiếp và trao cho người sinh viên. Đọc qua tấm danh thiếp, người sinh viên bỗng xấu hổ đến tái mặt và lặng lẽ rời sang toa khác. Bởi v́ trên tấm danh thiếp ấy có ghi: “Louis Pasteur viện nghiên cứu khoa học Paris”.

Anh chị em thân mến,

Louis Pasteur là một nhà bác học thời danh của viện nghiên cứu khoa học Paris. Cuộc đời nghiên cứu khoa học của ông gắn liền với việc cầu nguyện và cầu nguyện với tràng chuỗi mân côi. Ngược lại, con người sống trong thời đại khoa học kỹ thuật ngày nay chỉ đề cao tính thực dụng, đề cao những ǵ mang lại hiệu quả cụ thể, tức thời, giải đáp những nhu cầu cuộc sống. V́ thế, người ta dễ lơ là với việc cầu nguyện, cho rằng cầu nguyện chẳng mang lại cái ǵ cụ thể cho cuộc sống, chỉ thấy mất thời giờ, nếu không cho là chuyện nhảm nhí, mê tín dị đoan.

Nếu việc cầu nguyện nói chung bị quên lăng như thế, th́ h́nh thức cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi lại càng khó khăn nhiều hơn nữa. Nhất là chuỗi Mân Côi được thực hành với niềm tin tưởng có vẻ ma thuật, phù phép sẽ không c̣n thu hút nổi người ngày nay, nhất là giới trẻ. Họ chỉ thấy đó là công việc tẻ nhạt, mất thời giờ và hoàn toàn máy móc. Có người lại c̣n mặc cảm khi lần chuỗi Mân Côi, v́ nghĩ rằng đó là việc đạo đức của các bà già và con nít!

Chính v́ vậy, cần phải đổi mới việc lần chuỗi Mân Côi. Việc đổi mới nầy hệ tại ở chỗ khám phá nội dung và giá trị Tin Mừng của tràng chuỗi Mân Côi. Trong Tông huấn “Ḷng sùng kính Đức Maria” (Marialis Cultus), Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đă không ngừng nhắc đến kinh Mân Côi là một kinh bản chất Tin Mừng, là kinh Tin Mừng, là bản tóm lược Tin Mừng. Tin Mừng ở đây là Tin Mừng Cứu Độ. Tin Mừng ấy không nơi nào được vang lên với tất cả niềm hân hoan phấn khởi cho bằng lời kinh “Ave Maria” mà chúng ta đọc là “Kính Mừng Maria” thay v́ trong nguyên ngữ Hy Lạp có nghĩa là “Hăy vui lên, Maria!” khi thiên sứ loan báo Tin Mừng cứu độ. Tin Mừng cứu độ mà bao đời hằng ấp ủ trong hy vọng, giờ đây được thực hiện nơi người thiếu nữ Sion mang tên Maria, v́ Maria đă được Thiên Chúa tuyển chọn để trở thành Mẹ của Con Ngài, Mẹ của Đấng mà nơi Ngài ơn cứu độ được hoàn thành. V́ thế, Maria được ban một tên mới: “Hăy vui lên, Người đầy ơn phúc” là tên mới của Đức Mẹ. Đọc lên lời kinh “Kính mừng Maria” là reo lên niềm vui ơn cứu độ. Ơn cứu độ mà chúng ta được hội nhập vào, khởi đi từ ḷng Thiên Chúa thương xót và thông qua thái độ đầy tin tưởng, cậy trông của Đức Maria.

Nội dung Tin Mừng cứu độ là chính Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, từ khi giáng sinh đến cuộc sống, lời rao giảng, cái chết và sự phục sinh của Ngài. Thế mà chuỗi Mân Côi là bản tóm lược cuộc đời của Chúa Giêsu với những biến cố chính yếu nhất: “Từ khi thụ thai và những mầu nhiệm của thời thơ ấu cho đến giờ phút cao điểm của biến cố Vượt Qua cuộc Tử Nạn hồng phúc và Phục Sinh vinh quang – và cho đến hồng ân tuôn đổ xuống trên Giáo Hội ngày lễ Ngũ Tuần cũng như trên Đức Trinh Nữ trong ngày kết thúc cuộc hành tŕnh trần gian đă được đưa cả xác hồn về quê hương thiên quốc” (MC số 45). V́ vậy có lạ ǵ khi nói chuỗi Mân Côi là bản tóm lược Tin Mừng.

Anh chị em thân mến,

Khi lần chuỗi Mân Côi cùng với lời kinh Kính Mừng Maria được lặp đi lặp lại như một điệp khúc vui, chúng ta được mời gọi đi vào tâm t́nh của Mẹ Maria, dọc theo những biến cố của cuộc đời của người Con yêu dấu: những tâm t́nh khiêm nhu, nghèo khó, yêu thương, vâng phục, tín thác… Đây là những giá trị của Tin Mừng. Chúng ta phải quay về với Tin Mừng, phải đọc lên trong ḷng bản hiến chương Nước Trời, nơi đó, những kẻ nghèo khóc, hiền lành, đau khổ, trong sạch, biết xót thương, biết xây dựng ḥa b́nh… được công bố là kẻ có phúc, là con Thiên Chúa, là kẻ chiếm lănh Nước Trời. Chỉ khi đó, chúng ta mới hiểu được cuộc đời của Đức Maria, mới nhận ra vẻ đẹp sáng ngời vốn chỉ là tăm tối đối với thế gian. Lần chuỗi Mân Côi là cùng với Đức Maria và qua Ngài thêm một lần xác tín lại hằng ngày những giá trị của Tin Mừng, những giá trị mà tất cả những ai xưng ḿnh là môn đệ Đức Kitô không thể không biết đến và lấy làm lẽ sống cho đời ḿnh.

Nói rằng chuỗi Mân Côi là kinh Tin Mừng, ngay lập tức chúng ta đi đến hệ luận: không thể lần chuỗi Mân Côi cách máy móc và chỉ chú trọng đến số lượng. Bởi một lẽ đơn giản và minh bạch là Tin Mừng không chấp nhận thái độ đó. Chính Chúa Giêsu đă nói: “Khi cầu nguyện th́ các ngươi chớ lăi nhăi như người ngoại. Họ tưởng hễ nói nhiều th́ sẽ được nhận lời” (Mt 6,7). Thái độ phải có là lần chuỗi Mân Côi với tinh thần của Tin Mừng, cũng chính là tâm t́nh của Đức Maria: “Người giữ kỹ mọi điều ấy và hằng suy đi nghĩ lại trong ḷng” (Lc 2,19; 2,51). Đó là biết lắng nghe Lời Chúa, suy niệm và thi hành.

Thưa anh chị em,

Lần chuỗi Mân Côi là cùng với Đức Maria làm lại cuộc hành tŕnh của cuộc sống. Cùng với Đức Maria nh́n lại những biến cố cơ bản trong chiều dài lịch sử cứu độ, và qua những biến cố đó, nh́n vào những biến cố hôm nay, của cá nhân, gia đ́nh, xă hội và Giáo Hội trong ánh sáng Tin Mừng. Lần chuỗi Mân Côi là cùng với Đức Maria đi t́m một lời đáp trả cho những vấn đề của cuộc sống hôm nay, lời đáp trả thấm nhuần ḷng tin, niềm hy vọng và dám chấp nhận dấn thân trong hành động cụ thể, trong những lựa chọn đầy can đảm như Mẹ Maria đă dấn thân cả cuộc đời v́ Nước Trời.

Không có lời cầu nguyện đích thực khi chưa dám sáp nhập toàn bộ con người và cuộc đời ḿnh vào mối liên hệ với Thiên Chúa. Cũng không thể có việc lần chuỗi Mân Côi đích thực khi chưa dấn ḿnh cùng với Đức Maria vào nẻo đường của Thiên Chúa.

 
 

9. Kinh Mân Côi

Có một ông trùm đă nói với cha sở như sau:

- Chỉ tại cái tivi mà gia đ́nh con không c̣n lần hạt vào buổi tối nữa. Người ta thích quây quần bên nhau để giải trí, hơn là để cầu nguyện.

Cũng chính ông trùm ấy đă nói về cậu con trai của ḿnh, khi được nhắc nhở là hăy vào nhà thờ sớm, trước thánh lễ, để cùng với mọi người đọc kinh, th́ cậu ấy đă tŕ hoăn và trả lời:

- Nhà thờ chưa lần hạt xong.

Và ông trùm ấy đă phát biểu với nhiều tiếc xót:

- Vào thời chúng con, người ta chờ nhà thờ đông đủ rồi mới lần hạt, c̣n bây giờ th́ khác, người ta lần hạt để chờ mọi người tới đông đủ.

Lời than thở đầy tiếc xót trên đây của ông trùm phản ảnh được phần nào thái độ hiện nay đối với việc đọc kinh Mân côi tại gia đ́nh cũng như tại nhiều xứ đạo.

Để phục hồi ḷng tôn sùng kính mến Mẹ qua việc đọc kinh Mân côi, thiết tưởng chúng ta nên nhắc lại những hậu quả to lớn mà kinh Mân côi đă đem lại cho chúng ta.

Trước hết, với kinh Mân côi chúng ta cùng Mẹ sống lại những chặng đường quan trọng trong cuộc đời của Chúa Giêsu và đi sâu vào những mầu nhiệm chính yếu của lịch sử ơn cứu độ. Từ đó chúng ta sẽ nhận ra những tín hiệu Phúc âm cho những chặng đường của niềm tin hôm nay trong cuộc sống cá nhân, gia đ́nh và xă hội cũng như Giáo hội.

Trong sinh hoạt của Giáo hội, kinh Mân côi luôn được cổ vơ bởi v́ lời kinh này đă đem lại cho chúng ta h́nh ảnh về Mẹ Maria, h́nh ảnh một người mẹ luôn gần gũi, gắn bó và mật thiết với chúng ta. Vậy chúng ta có đọc kinh Mân côi trong ư hướng ấy hay không?

Tiếp đến, với kinh Mân côi chúng ta sẽ được nhờ Mẹ mà đến cùng Chúa, Đấng Cứu độ của chúng ta. Tất nhiên, có nhiều con đường để đến cùng Chúa, nhưng con đường được Mẹ chỉ dạy sẽ là con đường chắc chắn nhất, bảo đảm nhất và an toàn nhất, bởi v́ Mẹ là người gần gũi với Chúa hơn bất cứ tạo vật nào.

V́ thế, các nhà đạo đức vốn thường đưa ra một kinh nghiệm quí giá, đó là:

- Per Mariam, ad Jesum, nhờ Mẹ mà đến cùng Chúa.

Vậy chúng ta có lần hạt với cảm nghiệm đó không?

Và sau cùng, với kinh Mân côi chúng ta c̣n được Mẹ bầu cử trước mặt Chúa. Nhờ lời bầu cử của Mẹ, chúng ta sẽ lănh nhận được những ơn lành hồn xác, như ḷng mong ước.

Lời van xin của kinh Kính mừng: Cầu cho chúng con là kẻ có tội khi này và trong giờ lâm tử…Đă gói ghém tất cả nỗi ḷng của chúng ta qua mong ước được thánh hóa hôm nay và được cứu rỗi ngày mai.

Chiến thánh tại vịnh Lépante năm 1571 gắn liền với kinh Mân côi mà ngày lễ hôm nay là một nhắc nhở, cũng đă ghi sâu trong tâm trí chúng ta một h́nh ảnh khác nữa về Mẹ Maria, đó là Mẹ luôn che chở và cầu bầu cho chúng ta. Vậy chúng ta có lần hạt trong tâm t́nh này hay không?

Tạp chí “Kiến thức ngày nay” có một bài viết về những người phụ nữ giàu nhất thế giới,trong đó có nữ hoàng Elisabeth nước Anh. Tài sản của nữ hoàng trị giá hàng tỷ đô la. Thế nhưng, khi đọc bài báo ấy, chúng ta cảm thấy nó lạnh lùng, nó xa vắng bởi v́ nó chẳng liên quan ǵ tới chúng ta.

Thế nhưng, khi thoáng nghe những bài hát về Mẹ, chúng ta bỗng cảm thấy nao nao con tim và ngọt ngào cả tâm hồn, bởi v́ chúng ta thấy trước mặt ḿnh tấm ḷng của một người mẹ giàu t́nh thương và nhân ái.

Tuy nhiên, điều quan trọng đó là bản thân chúng ta có biết t́m đến với Mẹ và nhất là t́m đến với Mẹ qua lời kinh Mân côi, như Mẹ đă truyền dạy hay không?

 
 

10. Cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi – ĐGM. Bùi Tuần

Trong lịch phụng vụ, tháng 10 có tên là tháng Mân côi. Suốt tháng này, Hội Thánh khắp nơi hướng về Đức Mẹ một cách đặc biệt. Ḷng sùng kính của dân Chúa đối với Đức Mẹ trong thời gian này mang một đặc điểm riêng. Đó là cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi.

Mân côi chính là hoa hồng. Như thể, bằng chuỗi Mân côi, Hội Thánh trở thành một vườn hồng mênh mông, hương thơm sắc đẹp, dâng lên Mẹ hiền.

Lịch sử chuỗi Mân côi là một hành tŕnh dài. Hành tŕnh đó mang nhiều gợi ư. Những gợi ư này có thể giúp chúng ta cầu nguyện bằng chuỗi Mân côi một cách sốt sắng, vừa hợp với truyền thống, vừa sát với thời sự.

Chuỗi Mân côi đốt lên lửa mến.

Lịch sử cho thấy kinh Mân côi được thành h́nh do động lực sùng kính Đức Mẹ. Người được nhắc tới nhiều trong lịch sử kinh Mân côi là thánh Đaminh, đấng sáng lập Ḍng Giảng thuyết. Ngài qua đời năm 1221. Một số tài liệu quả quyết rằng chính Đức Mẹ đă trao cho thánh Đaminh chuỗi Mân côi. Xung quanh thánh Đaminh c̣n một số tu sĩ nhiệt thành, như tu sĩ Dominique ḍng Chartreux thành Trèves, tu sĩ Alain de la Roche ḍng Đaminh thành Lille.

Các vị này đă có những đóng góp quan trọng. Tất cả các ngài đều là những tông đồ của Đức Mẹ. Với ḷng xác tín, hăng hái, nhiệt thành, các ngài rao giảng, truyền bá kinh Mân côi. Trước hết là trong các cơ sở Ḍng, sau là tại các giáo xứ của nhiều giáo phận Âu Châu.

Phong trào đọc kinh Mân côi sau đó được tổ chức thành các hiệp hội. Các người trong hiệp hội liên đới với nhau bằng chia sẻ đời sống thiêng liêng. Nhận thấy phong trào kinh Mân côi đem lại nhiều kết quả lớn lao và mau lẹ cho đời sống đức tin, Toà Thánh đă công nhận, khuyến khích và ban nhiều ân xá.

Năm 1475, tại Cologne, chính hoàng đế nước Đức là Fredéric III, hoàng hậu và hoàng tử đă xin ghi tên vào hội kinh Mân côi. Nhờ vậy, chuỗi Mân côi có thêm uy tín.

Uy tín đó không phải là lư do để phong trào kinh Mân côi lan rộng. Lư do lan rộng chính là tính cách Kinh Thánh và b́nh dân của chuỗi Mân côi.

Các lời kinh của chuỗi Mân côi đều được đúc kết từ Kinh Thánh. Các mầu nhiệm suy gẫm trong chuỗi Mân côi cũng được rút ra từ Kinh Thánh. Số 150 kinh Kính Mừng cũng là để nhớ lại số 150 thánh vịnh của Cựu Ước.

Tuy nền tảng là Kinh Thánh, nhưng chuỗi Mân côi được sắp xếp một cách b́nh dị, dễ đọc, dễ hiểu, hợp với b́nh dân. Miệng đọc kinh, ḷng suy gẫm, tay lần chuỗi hạt, đó là một h́nh thức đạo đức b́nh dân thấy có ở nhiều tôn giáo truyền thống như Phật giáo, Hồi giáo.

Với h́nh thức đạo đức này, kinh Mân côi đă đốt lên lửa mến trong các tâm hồn. Nhiều tâm hồn trước kia nguội lạnh đă được ơn trở về.

Chuỗi Mân côi thắp sáng niềm hy vọng cứu độ.

Lịch sử cho thấy: Khi khấn cầu ơn nọ ơn kia, nhiều người đă dựa vào chuỗi Mân côi như một nguồn để t́m sức mạnh cậy trông.

Năm 1571, trước cơn đe doạ đạo Chúa bị tàn phá, Đức Thánh Cha Piô V, đă truyền cho Hội Thánh cầu nguyện bằng chuỗi Mân côi, với hy vọng Chúa sẽ cứu. Khấn cầu đó đă được Chúa chấp nhận. Chiến thắng ở vịnh Lepante ngày 7 tháng 10 năm 1571 đă là cơ sở để Đức Thánh Cha thiết lập lễ Đức Mẹ Mân côi. Hằng năm cứ đến ngày 7 tháng 10, Hội Thánh đề cao chuỗi Mân côi như một nguồn hy vọng.

Năm 1629, trước cơn dịch tả nguy hiểm lan rộng trên nước Ư, tu sĩ Timoteo Ricci đă lập ra chuỗi Mân côi liên tiếp. Thầy tính rằng: Mỗi năm có 8.760 giờ. Căn cứ vào đó, thầy làm ra 8.760 tấm vé. Mỗi vé ghi tháng, ngày, giờ. Rồi cho rút thăm. Ai được vé nào th́ cam kết đọc chuỗi Mân côi tháng ngày giờ đó. Mục đích có ư xin ơn chết lành cho những người hấp hối, xin ơn trở lại cho những người tội lỗi, xin ơn b́nh an cho các dân tộc.

Từ sáng kiến đó, phong trào kinh Mân côi liên tiếp được thành lập và lan rộng. Năm 1657, Đức Giáo Hoàng Alexandre VII chấp nhận phong trào đạo đức này, và ban cho nhiều ân xá.

Năm 1826, trước nhu cầu truyền giáo cho các vùng xa xôi, bà Pauline Jaricot, thành Lyon, đă có sáng kiến lập ra phong trào “Kinh Mân côi sống”. Cứ 10 nguời th́ thành một nhóm nhỏ. Mỗi người trong nhóm cam kết đọc 10 kinh Kính Mừng mỗi ngày. Hơn nữa, mỗi người trong nhóm sẽ t́m thêm 5 người. Năm người này cũng hứa đọc 10 kinh Kính Mừng mỗi ngày. Và cứ thế nhân lên số người đọc kinh Kính Mừng.

Mỗi tháng, bà Pauline phổ biến cho các nhóm một bản suy gẫm Lời Chúa, hướng về truyền giáo.

Đầu thế kỷ XX, trước t́nh h́nh suy giảm đức tin tại Pháp, cha Joseph Eyquem lập ra những hội Mân côi. Sinh hoạt của những người theo hội này cũng là đọc 10 kinh Kính Mừng mỗi ngày. Ngoài ra, họ họp nhau mỗi tháng một lần. Cuộc họp không tổ chức ở nhà thờ, nhưng ở nhà tư, lúc ở nhà này, khi ở nhà khác. Cuộc họp gồm đủ mọi thành phần. Những tín hữu b́nh thường, những người ly dị, những người rối vợ rối chồng, những người xa tránh các bí tích. Họ cầu nguyện, trao đổi, chia sẻ và giúp đỡ nhau vượt qua các thử thách.

Nói chung, khi gặp những khó khăn nguy hiểm, cả trong đạo lẫn ngoài đời, người ta đă chạy lại với Đức Mẹ. Họ khẩn cầu Mẹ bằng chuỗi Mân côi. Và thực sự chuỗi Mân côi đă đem lại cho các tâm hồn những hy vọng lành thánh.

Chuỗi Mân côi mở kho tàng trái Tim Đức Mẹ.

Trước đây, chuỗi Mân côi được truyền bá bởi các thánh, và Hội Thánh. Nay, chính Đức Mẹ lên tiếng.

Tại Fatima, khi hiện ra với ba trẻ, Phanxicô, Giacinta và Lucia, Đức Mẹ đă mang chuỗi Mân côi. Đức Mẹ cũng đă khuyên người ta hăy năng cầu nguyện kinh Mân côi.

Tại Fatima, Lộ Đức và những nơi hành hương, chuỗi Mân côi ví như những chuỗi hoa hồng của các trái tim không ngừng dâng lên Đức Mẹ. C̣n Đức Mẹ, th́ luôn mưa những hoa hồng thiêng xuống cho các người chân thành cầu khấn. Hoa hồng nói đây là những ơn phúc phần hồn phần xác. Ơn phúc đủ loại, nhất là ơn sám hối, ơn trở về với Chúa, ơn đổi mới cuộc đời, ơn đi sâu vào Phúc Âm, ơn biết đón nhận thánh ư Chúa để trở thành cộng tác viên đắc lực của Đức Mẹ đồng công cứu chuộc.

Các ơn Đức Mẹ ban qua chuỗi Mân côi phát xuất từ trái tim Đức Mẹ. Trái tim ấy đầy t́nh thương và cũng đă chịu nhiều đau đớn, để cùng với Chúa Giêsu cứu chuộc nhân loại bằng hy sinh trên thánh giá. V́ thế có thể nói, các ơn đó đến từ trên, và chảy vào trong nội tâm mỗi người. Với nhận thức đó, chúng ta hiểu ư nghĩa lời Đức Mẹ nói với Bernadette ở Lộ Đức: “Mẹ không hứa cho con hạnh phúc đời này, nhưng hạnh phúc đời sau”. Tuy nhiên, ngay ở đời này, những ai lần chuỗi Mân côi, cũng sẽ được Đức Mẹ thương ban ơn, cách này hay cách khác.

Hiện nay, cuộc sống đang đặt ra nhiều vấn đề nan giải. Kinh Mân côi sẽ giúp chúng ta t́m được lối thoát. Lối thoát sẽ từ trên trái tim Đức Mẹ mà xuống và từ trong nội tâm ta mà ra. Nội tâm ta cầu nguyện sám hối. Trái tim Đức Mẹ sẽ làm chứng một cách sống động lời thiên thần đă nói với Đức Mẹ xưa: “Đối với Thiên Chúa, không có ǵ là không thể làm được” (Lc 1,37).

 
 

11. Thánh Mẫu Mân Côi

Chuỗi Mân Côi là quà tặng quí báu, Thiên Chúa và Đức Mẹ trao cho chúng ta. Người ta gọi chuỗi Mân Côi là kinh nguyện của người b́nh dân. Thực vậy, cho tới thế kỷ XII, Hội Thánh chỉ dùng 150 thánh vịnh làm kinh nguyện chính thức. Tới khi bà thánh Birgitta được ơn Chúa soi sáng mới đặt ra chuỗi 150 Kinh Kính Mừng để thay thế cho 150 Thánh vịnh. Các mầu nhiệm Mân Côi c̣n được gọi là cuốn sách Phúc âm rút gọn của người b́nh dân, bởi v́ sau này người ta thêm 15 mầu nhiệm vào kinh Mân côi. Cứ 10 kinh Kính mừng lại suy gẫm vê một mầu nhiệm mùa Vui, Thương hoặc Mừng.

Chuỗi Mân Côi rất cao quí v́ chính nội dung của nó như chúng ta vừa đề cập tới. Người biết xử dụng sẽ gặp được hiệu quả phi thường. Ngay trong sự tích việc thành lập ḷng sùng kính này đă đă ghi dấu bằng một phép lạ đặc biệt. Ngày kia trên đường đi Tây Ban Nha, hai thánh Đôminicô và Bernađo chẳng may bị sa vào tay quân cướp. Sau khi bóc lột tất cả, chúng bắt các Ngài phải làm nô lệ chèo thuyền. Một lần con thuyền bị băo đánh giữa khơi. Trong cơn nguy nan, thánh Đôminicô đă cầu xin Đức Mẹ và được Ngài hiện ra dạy phải lần chuỗi Mân Côi. Mọi người trong thuyền đều hứa sẽ thực hiện theo lời chỉ dạy của Mẹ. Băo tố liền tan biến.

Cũng chính thánh Đôminico, trong cuộc tranh đấu chống lại bè rối Albigeois năm126, một lần nữa được Đức Mẹ dạy cho biết phải dùng chuỗi Mân Côi làm khí giới. Thánh nhân đă dốc toàn lực phổ biến thực hành đạo đức này và được gặt hái được thành quả mĩ măn. Bè rối Albigeois hoàn toàn bị tiêu diệt.

Năm 1511, lịch sử được chứng kiến một thành quả vĩ đại của Kinh Mân Côi mang lại. Chính biến cố lịch sử này là nguồn gốc lễ kính Thánh Mẫu Mân Côi, Khi ấy quân Hồi Xâm lăng Au Châu, tàn phá những nơi họ đi qua, tiêu diệt dân công giáo. Cùng với việc triệu tập đạo quân thánh giá từ hai nước Ư và Tây Ban Nha, Đức Giáo hoàng Piô V kêu gọi mọi người chạy đến với Kinh Mân côi. Cuộc chiến quá chênh lệch đă diễn ra tại vịnh Lepante, nhưng với quân số ít ỏi và khí giới tồi tàn, người công giáo đă thắng trận vẻ vang trước đoàn quân Hồi giáo đông đảo và trang bị hùng hậu, từ Roma, Đức Giáo hoàng đă thấy được cuộc chiến thắng này và nói với các vị trong giáo triều hăy tạ ơn Chúa. Hôm đó là ngày 07 tháng 10. Đức giáo hoàng đă thiết lập một lễ để ghi nhớ chiến thắng này.

Lịch sử c̣n ghi lại nhiều thành quả kỳ diệu khác nữa của Kinh Mân côi. Chẳng hạn Kinh Mân côi đă mang lại chiến thắng tại Vienna ngày 12 tháng 9 năm1683, hay đă chấm dứt bệnh dịch tại Milan... Chuỗi Mân côi vẫn c̣n là một phương thế cứu rỗi hữu hiệu của mỗi tín hữu. Khi hiện ra tại Lộ Đức hay tại Fatima, Đức Mẹ đều kêu gọi chúng ta hăy siêng năng lần chuỗi Mân côi.

Vậy khi mừng lễ Thánh mẫu Mân Côi, Giáo hội muốn chắc lại sức mạnh cứu rỗi vô song của Kinh mân côi và kêu gọi mọi người hăy năng lần chuỗi Mân Côi như phương thế hữu hiệu để cải thiện đời sống và xây dựng Nước trời.

  
 

12. Canh tân đời sống, lần chuỗi Mân Côi

“HĂY CANH TÂN ĐỜI SỐNG & LẪN CHUỖI MÂN CÔI MỖI NGÀY”

CÂU HỎI GỢI Ư

1. Đức Maria có vai tṛ ǵ trong Chương tŕnh Nhập thể và Cứu độ của Thiên Chúa?

2. Đức Maria và việc lần hạt Mân Côi.

3. Hăy học cùng Mẹ trên con đường theo Chúa Giêsu Ki-tô.

SUY TƯ GỢI Ư

1. Vai tṛ của Đức Maria trong Chương tŕnh Nhập thể và Cứu độ của Thiên Chúa:

1.1 Bài Tin Mừng về Truyền Tin trong Phúc Am Lu-ca cho chúng ta thấy vai tṛ quan trọng của Đức Maria trong Chương tŕnh Nhập thể và Cứu độ của Thiên Chúa. Như bao thiếu nữ Do Thái khác khi sắp đến tuổi lấy chồng, Maria cũng đă có chương tŕnh riêng của ḿnh. Người thanh niên mà nàng yêu thương và tính lấy làm chồng là Giu-se, thuộc chi tộc Đa-vít. Nhưng sau khi thiên sứ tŕnh bày về kế hoạch của Thiên Chúa và được giải đáp thắc mắc một cách thỏa đáng, th́ Maria đă mau mắn chấp thuận lời đề nghị của Thiên Chúa và phó thác cuộc đời ḿnh cho Ngài: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.”

1.2 Bài đọc 1 của Sách Tông đồ Công vụ cho chúng ta thấy vị trí của Đức Maria giữa các Tông Đồ, tức giữa ḷng Giáo hội sơ khai. Các vị chờ đợi Thánh Thần trong thanh vắng và cầu nguyện.

1.3 Bài đọc 2 của Thư Gá lát của Thánh Phaolô nói về việc Con Thiên Chúa sinh ra từ một phụ nữ theo đúng chương tŕnh của Thiên Chúa để cứu chuộc mọi người và làm cho mọi người trở thành con Thiên Chúa, có quyền gọi Thiên Chúa là Cha (Abba).

2. Đức Maria và việc lần hạt Mân côi.

2.1 Một trăm năm mươi Thánh vịnh đă được thay thế bằng 150 kinh Kính Mừng: Miệng đọc ḷng suy 15 Mầu Nhiệm Mân Côi: Năm Sự Vui, Năm Sự Thương và Năm Sự Mừng. Đó chính là bản tóm tắt cuộc đời của Chúa Giêsu Ki-tô và cũng là của Đức Maria, v́ hơn ai hết, Đức Mẹ đă cùng với Con bước các chặng đường Vui-Thương-Mừng ấy với tinh thần của lời “XIN VÂNG = FIAT!” mà Mẹ đă tuyên xưng trước khi Ngôi Lời Thiên Chúa đầu thai làm người trong cung ḷng Mẹ.

2.2 Khi chúng ta đọc sự tích về các cuộc Đức Mẹ hiện ra, dù ở Lộ Đức hay ở Fa-ti-ma, dù ở Gua-da-lu-pe hay ở Mễ Du, hay ở La Vang…. chúng ta đều thấy Đức Mẹ nhắn nhủ người tín hữu hăy canh tân đời sống và siêng năng lần hạt Mân Côi để làm đẹp ḷng Thiên Chúa: “Ta là Đức Mẹ Mân Côi, ta đă đến để cảnh báo các tín hữu canh tân đời sống và xin ơn tha thứ tội lỗi của họ. Họ không được xúc phạm đến Thiên Chúa nữa, v́ Ngài đă quá phiền muộn v́ tội nhân loại. Loài người hăy lần chuỗi Mân Côi. Họ hăy tiếp tục lần chuỗi hàng ngày.” (Thông điệp Đức Mẹ gởi cho chị Lu-xi-a 13/10/1917).

2.3 Thánh Đa Minh là người cố công rất lớn trong việc quảng bá việc đọc kinh Mân Côi trong Giáo hội, để cầu xin Chúa bảo vệ Giáo hội trước sự tấn công của kẻ thù.

Thánh Piô Năm Dấu Thánh chia sẻ: “Vũ khí của tôi là tràng hạt Mân Côi. Đức Mẹ không từ chối tôi điều ǵ khi tôi xin với Mẹ qua chuỗi Mân Côi. Muốn làm Đức Mẹ vui ḷng và muốn được Đức Mẹ thương yêu hăy lần chuỗi Mân Côi”.

C̣n cha Stefano Gobbi viết: “Chuỗi Mân Côi mang lại ḥa b́nh cho bạn. Với lời Kinh Mân Côi, bạn sẽ có thể nhận được từ Thiên Chúa hồng ân vĩ đại nhất là canh tân đời sống, thu phục các linh hồn về với Chúa trong sự ăn năn tội, t́nh yêu và thánh ân.” Và “Chuỗi Mân Côi là lời kinh của tôi. Những lời kinh này dù khiêm nhường và mong manh cũng sẽ nên như xích sắt để khóa lại quyền lực tối tăm của thế giới, kẻ thù của thế giới và của các tín hữu”

3. Hăy học cùng Đức Mẹ trên con đường theo Chúa Giêsu Ki-tô.

Chỉ có một ḿnh Thiên Chúa mới có thể cứu độ nhân loại. Chân lư ấy không bao giờ chúng ta được lăng quên! Đức Mẹ, dù là Mẹ Thiên Chúa cũng chỉ là tạo vật. Nhưng Mẹ là tạo vật hoàn hảo nhất của công tŕnh Tạo Dựng của Thiên Chúa và Mẹ là môn đệ “gương mẫu” nhất của Đức Giêsu. Tuy thế, Mẹ cũng đă phải vất vả, khổ đau trên con đường theo Đức Giêsu. V́ thế mà Mẹ có đủ khả năng, kinh nghiệm hướng dẫn, chỉ bảo chúng ta nếu chúng ta muốn bước theo Mẹ trên con đường theo Chúa! Chúng ta hăy chạy đến với Mẹ để học cùng Mẹ!

Hơn nữa Thiên Chúa đă có ư đặt Đức Mẹ bên cạnh Chúa Giêsu và giữa Chúa Giêsu và chúng ta. Nếu nhờ có Chúa Giêsu mà Thiên Chúa trở nên gần gũi với con người hơn, th́ cũng nhờ có Đức Mẹ mà chúng ta mạnh dạn và tin tưởng hơn khi dâng lời khẩn nguyện và tạ ơn lên Thiên Chúa.

NGUYỆN

Lạy Thiên Chúa là Cha, chúng con cảm tạ Cha đă ban Con Một Cha cho chúng con. Chúng con cũng cảm tạ Cha v́ Cha đă chọn cho Con Một Cha một người Mẹ tuyệt vời là Đức Maria. Cha đă đổ tràn ân sủng của Cha trên người Nữ Tỳ đặc biệt này. Chúng con xin ngợi khen và chúc tụng T́nh Thương và Quyền Năng của Cha!

Lạy Chúa Giêsu Ki-tô, Chúa đă sinh ra từ một người mẹ, đă lớn lên và trưởng thành bên cạnh Đức Maria và Thánh Giu-se, đă lên đường rao giảng Nước Trời với sự cộng tác của Mẹ, đă trao Mẹ cho thánh Gio-an trước giờ tắt thở. Chúng con cảm tạ và ngợi khen Chúa.

Lạy Chúa Thánh Thần là Đấng đă xuống tràn đầy trên các Tông Đồ và Đức Maria, để khai sinh Hội Thánh là Cộng đoàn của Chúa Ki-tô Phục Sinh. Xin Chúa xuống trên tất cả chúng con, để chúng con nhận được ánh sáng, b́nh an và sức mạnh cần thiết cho cuộc lữ hành của chúng con.

  
 

13. Kinh Mân Côi

Vào thế kỷ mười ba, bè rối Albigeois nổi lên ở miền nam nước Pháp, gây nhiều thiệt hại cho Giáo hội. Và theo truyền thuyết, chính Đức Mẹ đă hiện ra và truyền dạy thánh Đa Minh phép lần hạt Mân côi, như là một phương thế tuyệt diệu để cảm hóa bè rối. Và sự thật đă xảy ra đúng như thế. Chỉ sau một thời gian ngắn quảng bá việc lần chuỗi Mân côi, thánh Đa Minh đă dẫn đưa được 150.000 người theo bè rối trở về cùng Giáo hội. Và đó chính là nguồn gốc của kinh Mân Côi.

Tiếp đến, vào thế kỷ mười sáu, vua Thổ Nhĩ Kỳ đảm đạo quân Hồi giáo của ḿnh xâm chiếm Âu Châu. Sau khi lấy được đảo Chypre và Creta, ông ngang nhiên tuyên bố sẽ cho ngựa ăn cỏ trong đền thờ thánh Phêrô. Trước sự tấn công như vũ băo, cũng như trước áp lực nặng nề ấy, các nước Âu châu đă phải liên kết với nhau. Đồng thời, Đức Giáo Hoàng đă truyền cho mọi người phải ăn chay, cầu nguyện và nhất là lần chuỗi Mân côi. Sau cùng, đạo quân Công giáo đă dành được chiến thắng tại vịnh Lépante. Để cám ơn Đức Mẹ và để kỷ niệm chiến thắng lịch sử này, Đức Thánh Cha Piô V đă thiết lập lễ kính Mẹ Mân Côi hôm nay. Và đó chính là nguồn gốc của lễ Mẹ Mân Côi.

Rồi từ đó cho đến bây giờ, kinh Mân côi đă trở nên một việc đạo đức quen thuộc của người Công giáo. Vậy tại sao chúng ta lại ưa thích kinh Mân côi? Phải chăng v́ cỗ tràng hạt vừa nho nhỏ lại vừa xinh xắn? Phải chăng v́ kinh Kính mừng là một lời kinh vùa dễ đọc, lại vừa dễ thuộc, để rồi chúng ta có thể lần chuỗi ở mọi nơi và trong mọi lúc? Phải chăng v́ t́nh cảm của chúng ta thường dễ hướng tới người mẹ? Phải chăng qua ḍng thời gian, Mẹ đă nhiều lần hiện ra khuyên nhủ chúng ta hăy siêng năng lần hạt và hứa ban nhiều ơn lành qua việc đạo đức ấy?

Tất cả những lư do trên đều đúng nhưng c̣n mang nặng tính chất t́nh cảm. Nếu suy nghĩ, chúng ta sẽ thấy được ư nghĩa sâu xa và nội dung phong phú của kinh Mân Côi, khiến chúng ta càng yêu thích việc lần hạt nhiều hơn nữa.

Thực vậy, là một sáng kiến đạo đức được Mẹ đưa ra, nên chuỗi Mân côi có một h́nh thức thật đơn sơ: một trăm năm mươi kinh Kính mừng, mười lăm kinh Lạy Cha và mười lăm sự việc được xoay quanh mười lăm đề tài suy gẫm cụ thế và dễ hiểu.

Tuy h́nh thức đơn sơ, nhưng chuỗi Mân côi lại có được một nội dung phong phú. Thực vậy, kinh Lạy Cha và kinh Kính mừng là những kinh cao trọng nhất xuất phát từ Tin mừng. C̣n những mầu nhiệm suy gẫm là những biến cố được rút tỉa từ cuộc đời của Chúa Giêsu và Mẹ Maria. Chính v́ thế, chúng ta có thể gọi kinh Mân côi là một cuốn Phúc âm được rút ngắn của người tín hữu.

Vậy chuỗi Mân côi đem lại những hậu quả nào?

Cha Lacordaire nói:

- Con đường bảo đảm nhất để về trời là con đường của các bà già, bởi v́ các bà luôn có cỗ tràng hạt trong tay.

Chính Mẹ, khi hiện ra tại Phatima, cũng đă nói:

- Phanxicô sẽ được lên thiên đàng, nhưng phải lần hạt thật nhiều trước đă.

Nếu chúng ta đọc và sống kinh Mân côi, th́ kinh Mân côi sẽ là một bảo đảm cho phần rỗi của chúng ta. Tuy nhiên, ngay từ bây giờ, kinh Mân côi c̣n đem lại cho chúng ta nhiều an ủi và khích lệ, nhất là trong những giờ phút chúng ta gặp phải khổ đau và buồn phiền.

Có một anh lính trở về từ thế giới ngục tù đă cho biết như sau: Chính chuỗi Mân côi đă giúp anh ta cầu nguyện và thánh hóa những khổ đau trong những tháng ngày đen tối ấy.

Rồi anh ta kể tiếp:

- Khi bị thương và nằm lại trên chiến trường, tôi đă lần hạt. Liền sau đó hai người bạn bên cạnh cũng muốn lần theo. Thế là tôi dứt cỗ tràng hạt làm ba mẩu, mỗi người một mẫu để cùng nhau lần chuỗi. Và mẫu chuỗi ấy, tôi vẫn c̣n lần nó cho đến bây giờ. Nó măi măi sẽ là một kỷ vật thân thương nhất trong cuộc đời của tôi.

Hăy dâng lên Mẹ những cánh hồng thiêng liêng, đó là những lời kinh Mân côi sốt sắng để xin Mẹ nâng đỡ và phù trợ cho chúng ta luôn măi.

  
 

14. Lễ Đức Mẹ Mân Côi

Hôm nay Giáo Hội mừng lễ Đức Mẹ Mân Côi. Đây là một dịp để chúng ta suy niệm về Đức Mẹ và về một việc đạo đức rất phổ thông là việc lần chuỗi dâng kính Đức Mẹ.

Nhiều người trong chúng ta có một tràng chuỗi. Tràng chuỗi chúng ta không giống tràng chuỗi các nhà sư. Tràng chuỗi chúng ta có một lai lịch cổ xưa và nói được là thi vị hơn nhiều.

Vào thời Trung cổ, trong các nước Công giáo Tây Phương, người thanh niên, nhất là các thiếu nữ, có thói quen mang những tràng hoa trên đầu mà người ta gọi là chapel – nguồn gốc trong Pháp ngữ của danh từ chapeau là mũ và chapelet là tràng chuỗi.

Thánh Louis, vua nước Pháp, cấm các con, nhất là các nàng công chúa, không được mang tràng hoa trên đầu trong các ngày thứ sáu, để tưởng niệm đến mũ gai mà Chúa đội trong cuộc tử nạn.

Tràng hoa biến thành các chuỗi hoa, đội lên đầu Đức Mẹ để tỏ ḷng tôn kính. Trong khi đó, ở tu viện, các tu sĩ mỗi ngày đọc đủ một trăm năm mươi Kinh Kính Mừng dâng kính Đức Mẹ, vừa đọc vừa bái quỳ.

Từ tập tục bên ngoài đội hoa, bên trong bái quỳ, người ta đi dần đến việc lần chuỗi dâng kính Đức Mẹ. Tràng chuỗi trở nên tràng chuỗi Mân Côi.

Việc đạo đức ấy đă được Đức Mẹ chấp thuận, khi Người hiện ra với thánh Đaminh vào thế kỷ XIII. Thời ấy, bè rối Albigeois đă lan tràn nhiều nơi và phá hoại Giáo Hội rất nhiều. Thánh Đaminh và ḍng của ngài đă làm hết sức mà không sao cải hóa được những người theo bè rối ấy. Ngài cầu nguyện với Đức Mẹ và Đức Mẹ đă hiện ra dạy dùng tràng chuỗi Mân Côi làm khí giới thần hiệu để chinh phục bè rối ấy. Thánh Đaminh đă thành công nhờ tràng hạt Mân Côi.

Lễ Đức Mẹ Mân Côi mà chúng ta mừng hôm nay liên hệ đến một biến cố trong lịch sử Giáo Hội. Ngày 7 tháng 10 năm 1571, vua Hồi Giáo mang đại quân hướng về La Mă và thề hứa sẽ biến đền thờ thánh Phêrô thành một chuồng ngựa. Đạo binh Công Giáo đă ra nghênh chiến trong khi ở hậu phương giáo dân lần chuỗi Mân Côi cầu xin với Đức Mẹ. Người Công Giáo đă chiến thắng tại vịnh Lépante, Đức Giáo Hoàng Piô V đă thiết lập lễ kính Đức Mẹ Mân Côi này.

Đó là phần lịch sử, nhưng lịch sử thường gắn liền với đời sống. Sở dĩ tràng chuỗi Mân Côi đă được Giáo Hội chấp nhận và đă cổ vơ là v́ đó là một bản tóm lược Phúc Âm.

Lần chuỗi không phải là việc đọc một cách máy móc các kinh thường quen, mà là miệng đọc mà ḷng suy, suy gẫm các mầu nhiệm căn bản của Chúa Giêsu và Đức Mẹ. Mầu nhiệm năm sự Vui để sống lại với Đức Mẹ cuộc đời thơ ấu của Chúa; mầu nhiệm năm sự Thương để đi theo Chúa trên đường tử nạn; mầu nhiệm năm sự Mừng để cùng Đức Mẹ sống qua những ngày cuối cùng của Chúa.

V́ thế mà Lacordaire đă gọi tràng chuỗi Mân Côi là một cuốn Phúc Âm tóm lược.

Vậy chúng ta hăy siêng năng lần hạt, v́ chính Đức Mẹ cũng khuyến khích việc ấy trong những lần hiện ra ở Rue du Bac, Balê, ở Lộ Đức và Fatima.

Tại Rue du Bac ở Balê, Đức Mẹ nói cùng thánh nữ Catherine Labouret: Con hăy quan tâm đến việc lần chuỗi để tôn kính Mẹ.

Tại Lộ Đức, trong 18 lần hiện ra với Bernadetta, Đức Mẹ bao giờ cũng lần hạt và khuyên lần hạt. Mỗi lần ra hang đá, Bernadetta đến quỳ tại một chỗ nhất định. Cô nh́n lên hang đá, rút tràng chuỗi ra lần. Thế là trên bộng đá rực lên một bầu ánh sáng và trong bầu ánh sáng ấy, Đức Mẹ hiện ra.

Đức Mẹ cầm trong tay một tràng chuỗi bạc, hạt ngăn bằng vàng. Bernadetta nói: Đức Mẹ cũng lần hạt nhưng tất nhiên không đọc Kinh Kính Mừng mà chỉ cúi đầu, mấp máy đọc Kinh Sáng Danh kính Chúa Ba Ngôi.

Cách riêng, tại Fatima trong 6 lần hiện ra, Đức Mẹ đă khuyến khích lần hạt. Đức Mẹ dạy Phanxicô phải lần hạt mới được về thiên đàng. Đức Mẹ ban ba mệnh lệnh và một trong ba mệnh lệnh ấy là phải siêng năng lần hạt. Và Đức Mẹ tự xưng là Nữ Vương Mân Côi.

Tràng chuỗi Mân Côi là khí giới, là thuẫn đỡ trong đời sống. Chúng ta hăy dùng khí giới và thuẫn đỡ đó, để chống lại ma quỷ, nhất là để nhờ Đức Mẹ đưa ta đến với Chúa. “Ad Jesum per Mariam. Amen”.

  
 

15. Mẹ đầy ơn phước

Thời gian viên măn đă đến, người trinh nữ, dấu chỉ của lời hứa được loan báo trước kia giỡ đây được chỉ định rơ ràng cho chúng ta biết và chúng ta biết rơ đó là Đức Maria, Đấng làm cho tâm hồn ta tràn đầy tin tưởng và niềm vui khi nghe đến tên Ngài. Cùng với thiên thần Gabriel, chúng ta cất lên lời chào: “Kính mừng Maria, hăy vui lên, Maria”. Qua lời chào của thiên thần, Thiên Chúa mời gọi Maria hăy vui lên v́ thời giờ thực hiện lời hứa đă đến và làm sao Mẹ Maria không vui lên được, khi biết chính ḿnh đă được chọn để thực hiện lời hứa, để làm dấu chỉ loan báo hoàng tử ḥa b́nh sắp đến. Mỗi lần chúng ta chào chúa Mẹ Maria qua kinh Kính Mừng “Kính Mừng Maria đầy ơn phước” chúng ta tham dự vào niềm vui và niềm tri ân của Mẹ đối với Thiên Chúa.

Mẹ là Đấng đầy ơn phước, Đấng được Thiên Chúa chúc phúc. Mẹ thuộc hoàn toàn về người tôi tớ của Đức Giavê như được loan báo nơi sách tiên tri Isaia chương 42 câu 1: “Đây là tôi tớ Ta, Đấng Ta chọn và đẹp ḷng Ta mọi đàng. Mẹ được đầy ơn phước v́ Đấng sắp đến ngự nơi Mẹ là Con yêu dấu của Thiên Chúa”. Mẹ Maria được đầy tràn niềm vui. Mẹ là người đầu tiên được Thiên Chúa cho nếm trước niềm vui v́ Thiên Chúa nhập thể. Nhờ Thiên Chúa mạc khải, Mẹ Maria hiểu được sứ mệnh của Mẹ như là dấu chỉ niềm hy vọng, dấu chỉ Thiên Chúa chu toàn lời hứa của Ngài cho Israel, và suốt đời Mẹ sẽ là bài ca chúc tụng ḷng trung thành của Thiên Chúa, như Mẹ đă thốt lên nơi nhà ông Dacaria:

“Linh hồn tôi ngợi khen Chúa,

Ngài là Đấng trung tín như lời đă hứa

Abraham và con cháu ông”.

“Thiên Chúa ở cùng Bà”, Mẹ Maria đă từng suy niệm lời tiên tri loan báo trước về biến cố cứu rỗi sắp đến, nên giờ đây từng lời thiên thần nói ra cho Mẹ đều mang một ư nghĩa sâu xa. “Thiên Chúa ở cùng Bà”, giây phút quan trọng nhất của lịch sử đă đến, đó là lúc trinh nữ Maria hay tin và hiểu rơ thực tại Thiên Chúa ở cùng chúng ta, Emmanuel, một cách thật độc nhất vô nhị. Mẹ vui mừng gọi Thiên Chúa là Emmanuel, là Đấng ở cùng chúng ta. Mẹ vui mừng trước sự hiện diện của Thiên Chúa và chúng ta hiệp với Mẹ trong niềm vui và hết ḷng cảm tạ Thiên Chúa.

“Hỡi Maria, đừng sợ”, kinh nghiệm sự hiện diện của Thiên Chúa nơi chính ḿnh, không khỏi làm cho con người run sợ. Không phải Mẹ Maria cảm nghiệm Thiên Chúa hiện diện, nhưng Mẹ c̣n được mạc khải cho biết giờ đây, đến lúc lời hứa thành sự thật nơi Mẹ. Không bao giờ Mẹ Maria đă nghĩ đến việc cả thể này, Thiên Chúa mạc khải chính Ngài và ư định của Ngài cho Mẹ. Mẹ vui mừng lên như một niềm vui mừng đi kèm với sự run sợ, một sự run sợ thánh. Kinh nghiệm sống đời Kitô, chúng ta cũng thấy hai tâm t́nh này như Mẹ Maria, vừa vui và vừa sợ. Mẹ Maria nhờ ơn Chúa giúp đă thắng vượt cái sợ và phó thác tin tưởng hoàn toàn vào Chúa.

Xin Mẹ Maria giúp chúng ta được tham dự vào niềm vui của Mẹ, được trở thành dấu chỉ để Thiên Chúa thực hiện ơn cứu rỗi của Ngài nơi anh chị em chung quanh. Đặc biệt, trong ngày lễ của Mẹ hôm nay, chúng ta hăy dâng lời cầu nguyện lên Thiên Chúa Cha:

“Lạy Cha là Chúa tể trời đất,

Chúng con chúc tụng Cha

V́ Cha đă không mạc khải cho những kẻ khôn ngoan kiêu ngạo

Nhưng cho những kẻ bé nhỏ khiêm tốn

Cha đă chọn Mẹ Maria để thực hiện lời hứa cứu rỗi chúng con,

Nhờ lời cầu khẩn của Mẹ Maria

Đặc biệt trong ngày lễ của Mẹ hôm nay

Và nhân danh Chúa Giêsu Kitô,

Đấng Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng con”.

Xin cho chúng con nhận ra sự hiện diện của Người và vui mừng tiếp rước Người đến ở với chúng con. Và lạy Mẹ Maria, chúng con kính mừng Mẹ, Đấng đầy ơn phước. Mẹ đă lănh nhận mọi phúc lành của Thiên Chúa để giúp chúng con. Thiên Chúa ở cùng Mẹ; Ngài cũng đến ở với chúng con. Chúng con cũng sẽ cảm nghiệm được điều này như Mẹ, nếu chúng con biết sống trung thành với ơn gọi như Mẹ. Xin Mẹ cầu bầu cho chúng con được luôn sống trong niềm vui v́ được Chúa hiện diện bên cạnh, và đặc biệt trong chính chúng con.