|| Trang Chủ || Chia sẻ || Tập san || Thông hiệp ||

 

SUY NIỆM CHÚA NHẬT 26 THƯỜNG NIÊN - Năm C

Lời Chúa: Am 6, 1a.4-7; 1Tm 6,11-16; Lc 16, 19-31

 

MỤC LỤC

1. Tiền bạc.

2. Liên đới – ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

3. Có một vực thẳm.

4. Hai khuôn mặt trái ngược nhau.

5. Môi trường đức tin.

6. Lazarô sẽ không bao giờ tự măn.

7. Giàu có và nghèo khó - McCarthy.

8. Bác ái bắt đầu từ nhà ḿnh - McCarthy.

9. Chú giải của William Barclay.

10. Chú giải của R. Gutzwiller

11. Chú giải của Noel Quesson.

12. Chú giải của Fiches Dominicales.

13. Người phú hộ giàu có và Ladarô nghèo khổ.

14. Thế giới cuả t́nh yêu.

15. Giấy thông hành Nước Trời

16. Tôi có đọc Kinh Thánh hay không?.

17. Sống trong thế giới trái ngược.

18. Tiền bạc.

19. Giàu có.

20. Dại dột

21. Suy niệm của Lm. Phạm Thanh Liêm.

22. Suy niệm của JKN

 

1. Tiền bạc

Tại sao ông phú hộ lại bị trầm luân trong hoả ngục?

Câu trả lời thật đơn sơ: sở dĩ như vậy v́ con tim ông đă trở thành chai đá. Mặc dù sống trên nhung lụa, ăn sang mặc quư, thế mà ông lại không hề biết ra tay giúp đỡ cho Lagiarô, là kẻ bần cùng, luôn ngồi trước cửa nhà ông, để trông mong một chút của bố thí dư thừa.

Xem thế, chúng ta thấy: tiền bạc cũng như vật chất là những ơn huệ Chúa tặng ban. Chúng ta được phép sử dụng trước hết là để bảo đảm một cuộc sống ấm no, xứng đáng với phẩm giá con người, cho chính bản thân, cũng như những người thân yêu. Thế nhưng ngoài mục đích đó ra chúng ta c̣n có bổn phận phải chia sẻ và giúp đỡ những người chung quanh, nhất là những kẻ bần hàn túng thiếu, như người xưa đă bảo: Hữu lộc bất khả hưởng tận. Có tiền bạc không nên hưởng một ḿnh. Chính những hành động bác ái yêu thương này sẽ có một giá trị vô song v́ khi chúng ta thương giúp người khác là chúng ta thương giúp cho chính Chúa. Khi chúng ta làm phúc bố th́ là chúng ta hành động một cách khôn ngoan, tạo cho ḿnh một kho tàng ở đời sau.

Để giúp chúng ta hiểu điều đó, tôi xin kể lại một câu chuyện. Ư nghĩa của câu chuyện này, là hăy biết dùng tiền bạc vật chất để tạo cho ḿnh những bè bạn, sẽ bênh vực và giúp đỡ chúng ta bước vào quê trời:

Ông chủ một thửa vườn chôm chôm nọ, sáng hôm ấy thấy hai em nhỏ đứng ngoài cổng, đưa mắt nh́n vào những trái chôm chôm chín đỏ mà thèm thuồng. Ông là một người yêu thích trẻ nhỏ, nên cho gọi hai em lại và bảo: Hai em cứ việc vô vườn mà ăn, nhưng không được đem trái nào đi. Trước khi hai em ấy về, ông đă khám qua các túi và hài ḷng v́ không thấy một trái chôm chôm nào. Nhưng sau đó ông lấy làm lạ v́ thấy hai em cứ đi dọc theo hàng rào, rồi thỉnh thoảng lại cúi xuống lượm một cái ǵ đó. Đoán được cái mẹo vặt của hai em, ông cho gọi hai em lại và vặn hỏi. Hai em đành phải thú nhận rằng ḿnh có ném mấy quả ra ngoài hàng rào, để rồi sau đó sẽ lượm và đem về cho em. Ông chủ khen hai em đă hành động khôn ngoan và cho phép hai em được mang những quả chôm chôm ấy đi.

Hai em nhỏ là mỗi người chúng ta. Ông chủ là Thiên Chúa. C̣n thửa vườn là thế gian, nơi chúng ta đang sống. Những trái chôm chôm là những sự tốt lành chúng ta có được, chẳng hạn như tiền bạc, cơm gạo, áo quần. Những sự tốt lành ấy chúng ta không thể đem theo khi giă từ cuộc sống. Tuy nhiên chúng ta có một phương cách hành động, để ném vào đời sau những cái chúng ta đang có, đó là chúng ta hăy biết chia sẻ phần tiền bạc vật chất ấy cho những người nghèo khổ và giúp đỡ cho những người túng thiếu...

Điều này Chúa không cấm mà c̣n khuyến khích chúng ta nữa, bởi v́ trong ngày phán xét Chúa sẽ nói với chúng ta: Khi Ta đói, các ngươi đă cho ăn; khi Ta khát các ngươi đă cho uống; khi Ta ḿnh trần, các ngươi đă cho mặc; khi ta đau yếu và bị cầm tù, các ngươi đă viếng thăm… Nếu hành động khôn ngoan như thế, chúng ta sẽ xứng đáng là những người con cái Chúa và chắc chắn chúng ta sẽ được Chúa ân thưởng bội hậu. Bởi v́ giúp đỡ người khác chính là cách thức chúng ta đầu tư cho cuộc sống mai sau.

 
 

2. Liên đới – ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

Toàn cầu hóa đă giúp nhân loại phát triển t́nh liên đới. Nhân loại trở nên một cộng đồng sinh mệnh. Sự an nguy không c̣n của riêng ai mà là của tất cả mọi người. Cứu người chính là cứu ḿnh. V́ một thảm họa nếu không sớm được ngăn chặn, sẽ mau chóng lan tràn khắp thế giới. Liên đới đang trở thành đức tính không thể thiếu được trong đời sống hiện tại. Nó không chỉ là một việc làm thiện nguyện mà c̣n là một nhiệm vụ cấp bách của mọi công dân trên hành tinh. Biết sống liên đới, nhân loại đang đi vào con đường Phúc Âm.

Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu đă nhiều lần nhắc đến t́nh liên đới. Phải liên đới v́ mọi người đều là anh em với nhau. Phải liên đới v́ đó là điều kiện vào Nước Trời.

Bài Phúc Âm hôm nay cho ta thấy điều đó. Có lẽ khi đọc bài dụ ngôn này, có nhiều người bất măn tự hỏi: “Ông nhà giàu đâu có tội ǵ mà phải xuống hỏa ngục. Ông không gian tham, trộm cắp, bóc lột. Tiền của do công sức mồ hôi nước mắt ông làm ra, ông có quyền ăn xài chứ? Giàu có đâu phải là tội?”.

Vâng, giàu có đâu phải là một tội. Tuần trước Chúa Giêsu đă cho ta thấy giá trị tích cực của tiền bạc khi dạy ta hăy dùng tiền của mua lấy bạn hữu để họ đưa ta vào cuộc sống vĩnh cửu. Tiền bạc, nếu biết sử dụng, sẽ có giá trị tích cực. Nhưng nếu không biết sử dụng, sẽ trở thành nguy cơ.

Nguy cơ thứ nhất là: tiền bạc có thể mê hoặc tâm hồn.

Khi đó tiền bạc sẽ trở thành sợi dây trói buộc. Tâm hồn mê tiền bạc giống như con chim bị cột, không cất cánh bay cao, bay xa được. Đó là trường hợp chàng thanh niên đạo đức trong Phúc Âm. Anh đến hỏi Chúa Giêsu làm thế nào để được sống đời đời. Anh muốn vươn lên, muốn tiến bộ trên đường đức hạnh. Nhưng tiền bạc đă ngăn cản bước tiến của anh. Chúa Giêsu cất tiếng gọi anh. Nhưng tiền bạc đă trói buộc bước chân. Và anh bỏ cuộc quay về. Đành cam chịu với nếp sống tầm thường xưa cũ.

Nguy cơ thứ hai là: tiền bạc dễ làm cho trái tim thành xơ cứng, chai đá.

Người có nhiều tiền bạc dễ rơi vào t́nh trạng tự măn. Tự măn với những ǵ ḿnh có, người giàu sẽ không cần tới ai khác và v́ thế sẽ không chú ư đến những người chung quanh. Đó là trường hợp ông nhà giàu trong bài Phúc Âm hôm nay. Ông có nhà cao cửa rộng, mặc toàn gấm vóc lụa là, ngày ngày yến tiệc linh đ́nh. Chỉ mải mê hưởng thụ, ông không có thời giờ nghĩ đến người khác. Ladarô nằm thoi thóp bên cửa nhà mà ông không nh́n thấy. Ladarô có rên rỉ v́ đau đớn, đói khát ông cũng không nghe thấy. Tự măn đă khiến trái tim ông khép chặt lại, biến ông thành vô cảm trước những đau khổ của tha nhân. Những mẩu bánh dư thừa, ông đâu có tiếc ǵ. Thế nhưng ông chẳng có thời giờ nghĩ đến Ladarô. Và người ta vất những mẩu bánh dư thừa vào thùng rác trong khi Ladarô mơ ước được những mẩu bánh dư ăn cho đỡ đói. Tự măn đă biến ông nhà giàu thành ích kỷ, thiếu t́nh liên đới.

Nguy cơ lớn nhất mà tiền bạc có thể dẫn tới: đó là làm cho ta mất hạnh phúc đời đời.

Hạnh phúc trên Nước Trời là một cuộc sống hiệp thông trong t́nh yêu của Chúa Ba Ngôi. T́nh yêu của Chúa Ba Ngôi là một t́nh yêu dâng hiến trọn vẹn. Cho đi tất cả để nhận lănh được tất cả. Những người ích kỷ không biết cho đi, không biết chia sẻ, không thể tham dự vào sự sống hiệp thông này. V́ thế, người ích kỷ là người tự chọn con đường xuống hỏa ngục. Kẻ khép cửa ḷng trước nỗi khốn cùng của tha nhân, là người tự đào huyệt chôn ḿnh. Người sống thiếu t́nh liên đới là người tự trục xuất ḿnh ra khỏi Nước Trời.

Bây giờ th́ chúng ta hiểu tại sao ông nhà giàu lại bị đày đọa trong hỏa ngục. Ông nhà giàu không có tội ǵ. Ông chỉ có tội thiếu sót: thiếu sót t́nh liên đới, thiếu sót sự chia sẻ. Trước đây ông đóng kín cửa để tự ngăn ḿnh với Ladarô. Nay cánh cửa đó biến thành vực sâu thăm thẳm chia cắt hai người. Trước kia ông chỉ cần xoay nắm mở cửa là gặp được Ladarô. Nay ông không tài nào vượt qua được vực thẳm ngăn cách. Trước kia ông nghĩ sẽ không bao giờ cần tới Ladarô. Nay ông biết ḿnh cần Ladarô cho ḿnh một giọt nước th́ đă trễ. T́nh liên đới nếu không tạo lập ở thế gian, khi chết rồi sẽ không c̣n cơ hội nữa.

Qua dụ ngôn này, Chúa muốn dạy ta biết: Ta sống trong cuộc đời không đơn lẻ, nhưng sống với người khác. Người ta không phải là những đường thẳng song song không bao giờ gặp nhau. Trái lại vận mệnh chúng ta đan xen vào nhau. V́ thế trách nhiệm liên đới là không thể thiếu được. Do đó cần phải quan tâm đến những người chung quanh ḿnh. Sự quan tâm này không phải tự nhiên có được, nhưng phải tập luyện hằng ngày. Phải rèn luyện một trái tim nhạy bén biết cảm thương những cảnh ngộ bất hạnh. Phải rèn luyện một trái tim quảng đại sẵn sàng chia sẻ với những anh em thiếu thốn.

Lạy Chúa, xin mở mắt con để con nh́n thấy Chúa trong những anh em sống chung quanh con. Xin mở tai con để con nghe được tiếng họ đang than van đau khổ. Xin mở trái tim con để con biết chia sẻ với mọi người những niềm vui, nỗi buồn của họ. Amen.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

1) Tôi có quan tâm đến những người sống chung quanh tôi, đặc biệt những người nghèo khổ không?

2) Đời sống tôi cần đến người khác cả về phương diện tự nhiên lẫn phương diện siêu nhiên. Tôi có ư thức điều đó không?

3) Một đời sống quá đầy đủ có thể là nguy cơ cho đời sống thiêng liêng. Tôi làm cách nào để tránh rơi vào nguy cơ này?

4) Tại sao ông nhà giàu phải vào hỏa ngục?

 
 

3. Có một vực thẳm

Suy Niệm

Tài sản của ba người Mỹ giàu nhất thế giới c̣n lớn hơn tài sản của 48 nước kém phát triển.

Bill Gates giàu hơn 100 triệu người Mỹ nghèo nhất. Chỉ cần 40 tỉ đô la của ông, Liên Hiệp Quốc đủ chi tiêu cho giáo dục cơ bản, sức khỏe, nước sạch và vệ sinh cho cả thế giới trong một thời gian dài.

Khi nh́n sự chênh lệch giữa ông nhà giàu và Ladarô, chúng ta thấy bức tranh hiện thực của thế giới.

Hố sâu ngăn cách giữa giàu nghèo ở đô thị, giữa đô thị và nông thôn, càng lúc càng lớn.

Có 800 triệu Ladarô đang đói nghèo cùng cực. Hơn một tỉ Ladarô bệnh tật không được chăm sóc. Vẫn có bao người chết đói mỗi ngày, v́ không được hưởng ǵ từ các bàn tiệc rơi xuống.

Ông nhà giàu trong dụ ngôn có thấy, có biết Ladarô, nhưng thấy mà như không thấy có Ladarô trên đời. Tiện nghi vật chất đă thành bức tường kín. Ông sống an toàn măn nguyện trong khoảng không gian riêng. Chính ông đă tạo ra một vực thẳm ngăn cách.

Không cần Chúa, cũng chẳng cần biết đến anh em. Có thể nói vực thẳm đó lớn dần và kéo dài măi đến đời sau.

Hỏa ngục là sự tự cô lập ḿnh không thể đảo ngược được. Chẳng ai có thể cho tôi một giọt nước.

Vực thẳm ngăn cách con người ở đời sau là do chính con người đă tạo ra từ đời này.

Ông nhà giàu bị phạt, không phải v́ ông đă bóc lột ai, nhưng v́ ông không bị sốc chút nào trước sự chênh lệch ghê gớm giữa ông và Ladarô.

Từ sốc mới nẩy sinh thức tỉnh, và dẫn đến hoán cải.

Nhiều nước giàu vẫn trợ giúp các nước nghèo, nhưng không muốn loại bỏ sự bất b́nh đẳng.

Các nước nghèo vẫn bị bóc lột về tài nguyên, nhân công, và bị nô lệ cho những món nợ không sao trả hết.

Ông nhà giàu bị phạt không phải v́ ông đă nhận nhiều, nhưng v́ ông đă không san sẻ những ǵ ḿnh nhận.

Giàu không phải là một tội, của cải tự nó không xấu.

Có bao người giàu tốt như Dakêu, Nicôđêmô, Giuse Arimathia.

Nhưng giàu sang có thể dẫn đến cám dỗ nguy hiểm: Tích trữ, tham lam, hà tiện, khép kín, tự măn, hưởng thụ, bị ám ảnh bởi đồng tiền, bị mê hoặc bởi lợi nhuận.

Chúng ta có thể nghèo của cải, nhưng giàu có về các mặt khác: giàu kiến thức chuyên môn, giàu thế lực ảnh hưởng, giàu sức khỏe, giàu t́nh bạn t́nh yêu, giàu niềm vui, ơn Chúa.

Hăy tập nh́n xuống để thấy bao người dưới ḿnh.

Chia sẻ là lấp vực thẳm, nâng người khác lên bằng ḿnh.

Ước ǵ chúng ta để cho Lời Chúa hoán cải, để thấy trách nhiệm của ḿnh trước những Ladarô nằm ngay nơi cửa, trong khu xóm... Chỉ cần bớt chút dư thừa, xa xỉ của chúng ta cũng đủ làm nhiều người no nê hạnh phúc.

Gợi Ư Chia Sẻ

Theo ư bạn, đâu là những nguyên nhân đưa đến sự chênh lệch lớn lao giữa kẻ giàu người nghèo? Có cách nào làm giảm bớt sự chênh lệch đó không?

Nếu bạn là Bill Gates, với tài sản 50 tỉ đô la, bạn có muốn làm ǵ cho người nghèo trên thế giới không?

Cầu Nguyện

Lạy Cha, xin cho con ư thức rằng tấm bánh để dành của con thuộc về người đói, chiếc áo nằm trong tủ thuộc về người trần trụi, tiền bạc con cất giấu thuộc về người thiếu thốn.

Lạy Cha, có bao điều con giữ mà chẳng dùng, có bao điều con lăng phí bên cạnh những Ladarô túng quẫn, có bao điều con hưởng lợi dựa trên nỗi đau của người khác, có bao điều con định mua sắm dù chẳng có nhu cầu.

Con hiểu rằng nguồn gốc sự bất công chẳng ở đâu xa.

Nó nằm ngay nơi sự khép kín của ḷng con.

Con phải chịu trách nhiệm về cảnh nghèo trong xă hội.

Lạy Cha chí nhân, vũ trụ, trái đất và tất cả tài nguyên của nó là quà tặng Cha cho mọi người có quyền hưởng.

Cha để cho có sự chênh lệch, thiếu hụt, v́ Cha muốn chúng con san sẻ cho nhau.

Thế giới c̣n nhiều người đói nghèo là v́ chúng con giữ quá điều cần giữ.

Xin dạy chúng con biết cách đầu tư làm giàu, nhờ sống chia sẻ yêu thương. Amen.

  
 

4. Hai khuôn mặt trái ngược nhau

Suy Niệm

Dụ ngôn cho ta thấy hai khuôn mặt trái ngược nhau: một ông nhà giàu dư ăn dư mặc, một anh nhà nghèo bệnh tật nằm đói lả, không đủ sức xua đuổi những con chó đến quấy rầy.

Hai người ở gần nhau, chỉ cách nhau một cái cổng vẫn thường khép, nhưng lại thật xa nhau.

Ông nhà giàu biết mặt, biết tên anh nhà nghèo, nhưng ông chẳng mảy may quan tâm, v́ ông bận tổ chức tiệc tùng và mời quan khách.

Ladarô đă chết trong cảnh đói nghèo và bệnh tật. Ông nhà giàu cũng chết.

Cái chết đồng đều cho mọi người, nhưng số phận sau cái chết lại khác nhau.

Không phải chỉ v́ giàu mà ông nhà giàu bị phạt, nhưng v́ ông đă khép cửa và khép ḷng, đă ung dung hưởng thụ quyền sở hữu “hợp pháp”, đă không chấp nhận chia sẻ điều ḿnh có dư thừa.

Ông nhà giàu hẳn đă thấy Ladarô, nhưng đă sống như thể không có anh ta, v́ ông loay hoay vun quén cho hạnh phúc của ḿnh.

Không phải chỉ v́ nghèo mà anh nhà nghèo được thưởng, được hạnh phúc ngồi trong ḷng tổ phụ Abraham, nhưng v́ anh chấp nhận số phận hẩm hiu của ḿnh, và trông cậy vào sự trợ giúp của Thiên Chúa.

Thế giới văn minh lại càng đào sâu hố ngăn cách giữa nước giàu và nước nghèo, giữa thiểu số người giàu và đa số người nghèo.

Chính tôi cũng giàu về một mặt nào đó: giàu trí tuệ, giàu bạn bè, giàu thế lực, giàu chỗ đứng trong xă hội, giàu đời sống thiêng liêng.

Hố sâu chỉ được lấp đầy bằng cách mở tung cánh cửa yêu thương và chia sẻ, nh́n nhận tài nguyên thế giới là của mọi người, nh́n nhận quyền sống của từng người, sống như một nhân vị, sống như con cái Thiên Chúa, sống như anh chị em tôi.

Mỗi người chúng ta đều có một Ladarô chờ ngoài cửa, nếu chúng ta mở cửa và mời người đó đồng bàn, th́ chúng ta sẽ trở nên người giàu có thực sự, và trưởng thành viên măn trong nhân cách.

Dù người chết hiện về, dù kẻ chết sống lại cũng chẳng làm chúng ta hết chai đá.

Chỉ Lời Chúa mới khiến chúng ta sám hối ăn năn, mở ḷng trước tha nhân và Thiên Chúa (x. 1Ga 3,17).

Gợi Ư Chia Sẻ

Con người chỉ trưởng thành khi biết quên ḿnh và quảng đại hiến ḿnh phục vụ tha nhân. Bạn có đo được sự trưởng thành của ḿnh dựa trên nguyên tắc đó không?

Ai cũng giàu có về một phương diện nào đó. Bạn thấy ḿnh giàu có về mặt nào? Bạn có nghĩ rằng cho đi sẽ làm bạn thêm giàu có không?

Cầu Nguyện

Lạy Chúa, xin cho con nh́n thấy những người nghèo ở quanh con, ở trong gia đ́nh con, đang cần đến con.

Bất cứ ai đang cần đến con đều là người nghèo, xin cho con thấy Chúa trong họ.

Dần dần con hiểu rằng cả người giàu cũng nghèo, nghèo v́ cần thấy đời họ có ư nghĩa.

Dần dần con chấp nhận rằng cả bản thân ḿnh cũng nghèo và cần đến người khác.

Lắm khi con cần một nụ cười, một ánh mắt, một lời thăm hỏi đỡ nâng.

Cám ơn Chúa v́ đă dựng nên chúng con ai cũng nghèo về một mặt nào đó và ai cũng cần đến người khác. Như thế là chúng con được mời gọi sống cho nhau, làm cho nhau thêm giàu có.

Cám ơn Chúa v́ Chúa cũng nghèo, v́ Chúa rất cần đến chúng con để hoàn thành công tŕnh cứu độ.

Xin cho con khiêm tốn nhận ḿnh nghèo để nhận lănh, can đảm nhận ḿnh giàu để hiến trao. Amen.

 
 

5. Môi trường đức tin

Phần đầu dụ ngôn người phú hộ xấu tŕnh bày dưới một h́nh thức bóng bảy lời giảng dạy mà các ngôn sứ nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Nhờ thế chúng ta biết rơ h́nh phạt cuối cùng nào chờ đợi những kẻ sống trong xa hoa mà tuyệt nhiên không động ḷng bố thí cho kẻ cùng khổ nằm dưới mái hiên nhà ḿnh. Dụ ngôn nhấn thêm vào khía cạnh thảm hại một cuộc sống ích kỷ vật chất, vào sự bất lực không mở rộng được tâm hồn đón nhận đức tin. Đó là phần kết của dụ ngôn. Đức Kitô dạy rằng cuộc sống vĩnh cửu được chuẩn bị ngay từ đời này. Nếu cách sinh hoạt ở thế gian khiến cho tâm hồn khép kín đối với đức tin, th́ mai ngày sẽ không thể đón nhận hạnh phúc vĩnh cửu. Vấn đề nghiêm trọng nhất bây giờ là có sẵn sàng đón nhận đức tin hay không –chắc hẳn dụ ngôn muốn chúng ta quan tâm đến việc ấy. Đức tin nảy rễ trong những tâm hồn tự do, khiêm hạ, khao khát yêu thương.

1) Tự do của tâm hồn.

Đây là sự tự do quyết định thái độ trước những cơ hội hưởng thụ dễ dàng mà thế gian và tiền bạc hiến cho một số người. Khi tiền bạc từ địa vị kẻ tôi tớ nhảy lên địa vị chủ nhân ông, nó trở nên ám ảnh người ta không lúc nào ngơi. Cái hại căn bản của tiền bạc là nó ngăn chặn chuyển động của tâm hồn đi t́m Nước Thiên Chúa trước hết mọi sự. Tiền bạc là công cụ cho hưởng thụ, uy quyền và chiếm đoạt; tiền bạc làm đồi bại những tâm hồn nào không biết tự vệ, chịu để nó sai khiến. Khi con người buông ḿnh theo sức cuốn hút của tiền bạc, con người đâm ra mù quáng về hai diện. Trước hết, mất ư niệm về Thiên Chúa và không nghe thấy tiếng gọi của đức tin –mất luôn cả ư niệm về chính ḿnh và không nghe thấy những đ̣i hỏi của đức công bằng. Trong một thế giới đóng kính như thế, nếu có những lúc thấy vắng thiếu Thiên Chúa, thấy anh em đau khổ th́ cũng thản nhiên cho là thường, chẳng đáng bận tâm. Sa đoạ tới mức ấy chính v́ đă mất hết quyền tự do làm một con người thật sự, mất quyền tự do cao quư để có thể chấp nhận đức tin.

2) Tâm hồn khiêm hạ dễ chấp nhận.

Sự thể tiến tŕnh mặc khải phải qua những trung gian nhân loại. Một số người xử sự như mấy người Do thái xưa kia đối với Đức Kitô, họ muốn Thiên Chúa tỏ ḿnh ra cho họ trong ánh hào quang chói loà của một quang cảnh hiển linh không ai chối căi được. Họ chẳng hiểu ǵ hết. Trước nhất, chẳng ai thấy được Thiên Chúa mà không chết v́ thế. Tiếp đến, nh́n thấy sự thật hiển nhiên, người ta vẫn có thể không tin. Rất nhiều người Do thái chứng kiến Đức Giêsu làm phép lạ cho con bà goá ở Naim và ông Ladarô ở Bêtania sống lại. Vậy mà tất cả đám đông ấy có tin vào Đức Kitô không? Tại sao họ vẫn cứng ḷng? Họ không tin v́ tâm hồn họ không có đức khiêm hạ, họ không đầu hàng sự thật trước mắt. Tâm hồn khiêm hạ th́ chấp nhận những định chế nhân loại (ví dụ Giáo Hội) do Đức Kitô lập ra để truyền thông đức tin.

3) Đức tin sống động th́ có t́nh yêu thương.

Luật truyền lớn nhất của Đức Kitô là kính mến Thiên Chúa trên hết mọi sự và thương yêu kẻ khác v́ Thiên Chúa. Nếu chẳng may tâm hồn sa đoạ, trở nên khô cằn, thậm chí khả năng yêu thương bị tê bại, th́ làm sao có thể đón nhận một đức tin đồng thời cũng là một t́nh yêu? Thửa đất cơ bản thiết yếu cho đức tin bám rễ và lớn mạnh chính là môi trường của một tâm hồn trong sạch tươi mát, v́ chỉ những tâm hồn như thế mới có khả năng thật sự yêu thương.

 
 

6. Lazarô sẽ không bao giờ tự măn

(Trích trong ‘Mở Ra Những Kho Tàng’ - Charles E. Miller)

Trong suốt Thánh Lễ, chúng ta thường nghe Chúa Giêsu dạy về ư nghĩa của những dụ ngôn. Điều đó có thể đă giúp cho chúng ta tự hỏi: “Tôi là ai trong dụ ngôn đó?”. Chúa Nhật này, Chúa Giêsu nói môt câu chuyện rất mạnh mẽ về người giàu có không hề chú ư đến người ngheo trước cửa nhà ḿnh. Người phú hộ trong câu chuyện không có tên (ông ta có biệt danh là “Dives” từ này trong từ Latinh có nghĩa là giàu có). Có lẽ việc thiếu tên là một dấu hiệu để cho chúng ta suy nghị xem chúng ta là người nào và người đó là người tự măn, thỏa măn với những ǵ ḿnh đang có và v́ thế mà ông ta đă không chú ư tới Lazarô nơi cổng nhà ḿnh, ngay khi Lazarô bị ốm rất nặng, ḿnh bao bọc đầy những mụn, rất đói và ông ta thèm thuồng nh́n những miếng bánh vụn rơi từ bàn người phú hộ xuống đất nhưng không có mà ăn.

Cũng có một cách khác để thấy chúng ta trong dụ ngôn ngày hôm nay. Trước đây chúng ta đồng ư rằng chúng ta được cảnh báo để nh́n thấy và chăm sóc những người có những nhu cầu khẩn thiết, chúng ta có thể làm tốt hơn để nhận biết rằng tất cả chúng ta là Lazarô. Hay chính xác hơn chúng ta có thể là như thế trong phạm trù thiêng liêng chứ không theo một cách thể lư.

Không có sự cứu chuộc bởi Đức Kitô th́ chúng ta tồi tàn hơn Lazarô. Chúng ta không có những mụn nhọt bên ngoài nhưng bên trong chúng ta th́ đầy tội lỗi. Chúng ta đă thiếu những của ăn không chỉ là những bánh vụn nhưng là Ḿnh Thánh và Máu Thánh của Chúa. Chúng ta ở ngoài cổng của Giáo Hội, nếu không có Đức Kitô chúng ta sẽ không bao giờ bước qua ngưỡng cửa nhà của Người ở trên mặt đất này, để một ngày kia chúng ta bước vào ngôi nhà đời đời ở trên trời.

Thiên Chúa đă thương xót chúng ta. Người đă gửi Con của Người là Thượng Tế tối cao, là Đấng trung gian của chúng ta, Đấng đă băng qua khoảng cách lớn lao của vực thẳm tội lỗi mà Abraham đă nói với người giàu có khi bị tách riêng ra khỏi Thiên đàng. Thiên Chúa đă cho chúng ta đức tin để tin vào quyền năng cứu chuộc của sự chết Đức Kitô, và để âu yếm chân lư về sự Phục Sinh của Ngài và sự Phục Sinh đó là nguồn mạch bảo đảm cho niềm hy vọng vững chắc của chúng ta. Thiên Chúa đă trao cho chúng ta sự khôn ngoan để trân trọng và yêu mến Thánh Thể như là Ḿnh Thánh và Máu Thánh của Chúa đă hiến thân v́ chúng ta, Máu quư giá của Ngài đă đổ ra v́ chúng ta.

Cách thiêng liêng chúng ta có thể giống như Lazarô trong sự khốn khổ thể lư của ông nhưng chúng ta đă trở thành giống ông khi ông được nâng lên bởi các thiên thần. Chúng ta là những kẻ đă được chúc phúc thật sự v́ Chúa Giêsu đă không đối xử với chúng ta như là người phú hộ đối xử với Lazarô. Để thực hành ứng dụng mà Chúa Giêsu đă giới thiệu trong dụ ngôn, hăy để chúng ta tưởng tượng rằng Lazarô trở lại trên mặt đất này. Thế bạn có nghĩ rằng ông ta sẽ chểnh mảng như người phú hộ, người đàn ông giàu có đó không? Thế bạn có nghĩ rằng ông sẽ lờ đi với những người bây giờ có hoàn cảnh khốn khổ như ông ta không? Các bạn có tin rằng Lazarô sẽ làm bất cứ điều ǵ để thương xót người khác hơn là những kẻ chỉ có thể cho những người ăn xin những miếng bánh vụn từ bàn của ông rơi xuống không?

Nhưng không cần chúng ta tưởng tượng Lazarô đă trở về từ cơi chết. Chúng ta là những Lazarô, tất cả mọi người chúng ta đều làm như thế. Tất cả những ǵ mà Thiên Chúa đă làm cho chúng ta sẽ là sự thúc đẩy cho chúng ta trở nên quảng đại đối với những kẻ có nhu cầu, tử tế với những người không có sự an ủi và yêu thương hướng đến mọi người như Thiên Chúa đă hướng đến chúng ta. Trong kinh tiền tụng của Thánh Lễ, vị linh mục đă tuyên bố nhân danh chúng ta: “Lạy Cha, chúng con xưng tụng Cha ở mọi nơi, dâng lên Cha lời cảm tạ”. Lời kinh phụng vụ tạ ơn của chúng ta sẽ thúc đẩy chúng ta luôn luôn và ở mọi nơi, để cư xử với mọi người bằng t́nh yêu quảng đại mà Thiên Chúa đă tŕnh bày cho chúng ta trong người Con của Người, vị Tư Tế và là vị Cứu Chuộc chúng ta.

 
 

7. Giàu có và nghèo khó - McCarthy

Ông phú hộ và Ladarô sống trong những thế giới khác nhau. Ông phú hộ mặc áo dài tía; Ladarô mặc áo quần rách rưới. Ông phú hộ ăn cao lương mỹ vị mỗi ngày, Ladarô không có ǵ để ăn. Ông phú hộ mạnh khỏe, Ladarô ḿnh đầy mụn nhọt. Ông phú hộ sống trong lâu đài, Ladarô sống trước cổng ông nhà giàu.

Thật vậy, nói rằng họ sống trong những thế giới khác nhau là một cách nói giảm nhẹ. Họ sống trong một thế giới trái ngược nhau. Ông phú hộ sống trong một khu vườn; Ladarô sống trong một sa mạc. Ông phú hộ sống trong một thiên đàng trần gian; Ladarô sống trong một địa ngục loài người. Và dù thế giới riêng của họ khác nhau như ngày và đêm, chúng lại ở cạnh nhau.

Ladarô sống ở bên lề thế giới của ông phú hộ. Và v́ anh ở ngoài cổng nhà ông phú hộ nên mỗi ngày anh nh́n vào thiên đàng mà anh đă bị trục xuất. Dù anh ao ước được đi vào thế giới của ông, anh cũng không dám ấp ủ hy vọng được ngồi vào bàn. Anh sẽ sung sướng biết bao khi được làm đầy bụng bằng những mảnh vụn thức ăn từ bàn của ông phú hộ rơi xuống. Nhưng anh không có được, không phải v́ không thể làm được việc đó mà chỉ v́ không ai muốn làm việc đó cho anh.

Dĩ nhiên, người ở vị trí tốt nhất để giúp đỡ anh Ladarô là ông phú hộ. Ông có thể dễ dàng bước vào thế giới cô độc và tuyệt vọng của Ladarô để tiếp xúc với anh. Nhưng ông đă không làm. Ông khép kín, không chỉ lâu đài mà cả tâm trí và tâm hồn ông lại.

Ladarô thuộc vào hạng người nghèo nhất. Thế nhưng trong một ư nghĩa nào đó, ông phú hộ c̣n nghèo hơn. Thế nghĩa là thế nào? Câu chuyện nhỏ sau đây sẽ cho chúng ta hiểu điều đó.

Một nhà doanh nghiệp đậu chiếc xe đời mới của ông vào lề đường và đi làm một vài công việc. Khi ông trở lại chiếc xe, ông thấy một cậu bé nghèo khoảng mười một tuổi đang quan sát chiếc xe với đôi mắt đầy vẻ thán phục và thèm muốn.

- Thưa ông, có phải chiếc xe này của ông? Cậu bé hỏi.

- Phải. Ông ta đáp.

- Nó đẹp quá. Ông phải trả bao nhiêu tiền để mua nó?

- Nói thật với chú bé là tôi không biết.

- Ông muốn nói ông mua nó và không thể nhớ đă trả bao nhiêu?

- Này chú bé, tôi không nói tôi mua nó. Đây là một món quà mà bạn tôi cho tôi.

- Ông muốn nói bạn ông cho ông và ông không mất một xu nào để mua?

- Đúng thế!

- Tôi ước ǵ tôi…

Nhà doanh nghiệp tin chắc rằng cậu bé sẽ nói tiếp “Tôi ước ǵ tôi có một người bạn như thế”. Nhưng cậu bé lại nói: “Tôi ước ǵ tôi có thể là một người bạn như thế”.

Và ông ta kết luận: “Đây là ḿnh trong bộ áo quần ḷe loẹt với chùm ch́a khóa và một chiếc xe đời mới trong tay. C̣n kia là cậu bé áo quần rách rưới. Tuy nhiên tâm hồn cậu có nhiều t́nh yêu thương hơn ḿnh. Và trong ư nghĩa đó, cậu giàu sang hơn ḿnh… Tôi thật sự xúc động đến nỗi lấy xe chở cậu và người bạn của cậu bị chứng sốt tê liệt lúc c̣n nhỏ làm chân tay co rút lại, cho cả hai đi một ṿng với chiếc xe của tôi. Đó là những giờ hạnh phúc nhất của đời tôi”.

Ông phú hộ phải chịu thứ nghèo nàn tệ hại nhất, đó là sự nghèo nàn của tâm hồn. Tâm hồn ông ta trống rỗng ḷng thương xót và yêu thương.

Ông không muốn cho Ladarô dù là những mảnh vụn thức ăn trên bàn của ông. Cả những con chó hoang ngoài phố c̣n tử tế với Ladarô hơn ông ta.

Người giàu có bị của cải làm tổn thương cũng như người nghèo bị cái nghèo của họ làm tổn thương. “Cái xấu lớn nhất trong thế giới ngày nay là thiếu vắng t́nh yêu – sự thờ ơ khủng khiếp đối với người lân cận ngày càng phổ biến” (Mẹ Têrêxa).

Khoảng cách giữa ông phú hộ và Ladarô đang phát triển thành một vực thẳm khổng lồ. Những đứa trẻ trong thế giới thứ ba biết viễn cảnh nào đang chờ đợi chúng. Một phóng viên hỏi một thiếu niên: “Cháu muốn làm ǵ với cuộc đời ḿnh?”. “Cháu muốn sống để nh́n thấy tuổi hai mươi”. Câu trả lời là như thế.

 
 

8. Bác ái bắt đầu từ nhà ḿnh - McCarthy

Một tối nọ, một người giàu có nằm mộng và thấy một giấc mơ khó chịu. Trong giấc mơ, ông thấy một đám đông người nghèo, bị bệnh tật dày ṿ, những người đói lả kêu cầu ông giúp đỡ. Khi ông thức dậy sáng hôm sau, nhớ lại giấc mơ của ḿnh, ông quyết định bắt đầu dấn thân vào một chiến dịch làm điều thiện. Ngay sáng hôm đó, không bỏ phí thời gian, ông ngồi vào chiếc xe Mercedes để đi xem cần phải giúp cho người nghèo cái ǵ.

Vừa mới đi qua cổng chính của ṭa nhà th́ ông thấy một người ăn mày ngồi trên mặt đất, hai tay đưa ra để cầu xin bố thí. Ông nhà giàu rất bối rối khi nh́n thấy hoàn cảnh khốn khổ của người ăn mày. Ông lưỡng lự một lúc rồi ra lệnh cho tài xế nhấn ga chạy tiếp. Ông không muốn dừng xe lại để chỉ gặp một người ăn mày dù hoàn cảnh của người ăn mày này có khốn khổ đến đâu.

Ông đi dọc ngang khắp thành phố và nhận thấy rằng vấn đề to lớn hơn và nhu cầu th́ nhiều hơn ông nghĩ. Khi ông quay về nhà lúc chiều tối, đầu óc ông đầy ắp những kế hoạch, lược đồ, dự án. Vấn đề duy nhất là phải bắt đầu ở chỗ nào. Phải chăng ông sẽ bắt đầu với một bệnh viện, một trường học, một xí nghiệp hoặc một nơi nào đó?

Khi về đến cổng ṭa nhà, ông nhận thấy người ăn mày vẫn c̣n ở đó, ngay tại vị trí lúc ban sáng. “Chỉ cần tưởng tượng con người nghèo khổ này ngồi đây suốt ngày trong cái nắng cháy da!”, ông tự nhủ. Một lần nữa ông cảm thấy động ḷng trắc ẩn nhưng một lần nữa, ông lại đi qua không dừng lại.

Tối hôm đó ông có một giấc mơ khác. Ông lại nghe thấy những tiếng kêu cứu khác. Nhưng lần này không phải từ một đám đông, nhưng từ một cá nhân. Cá nhân này là người ăn mày mà ông đă thấy ở cổng nhà ông. Sáng hôm sau khi thức dậy ông biết rơ ḿnh phải bắt đầu ở chỗ nào.

Mẹ Têrêxa nói: “Tôi luôn luôn nói rằng yêu thương bắt đầu từ nhà ḿnh: trước hết ở nhà bạn rồi đến thị trấn hoặc thành phố của bạn. Yêu thương một người ở xa th́ dễ, nhưng không dễ khi yêu thương những người sống với chúng ta hoặc ở gần chúng ta. Tôi không đồng ư với cách thức to lớn để thực hiện các công việc – yêu thương bắt đầu với một cá nhân. Để yêu thương một người, bạn phải tiếp xúc và trở nên gần gũi với người ấy. Bạn phải đến tiếp xúc với người nghèo. Khi bạn làm điều đó, bạn vượt qua con nước to lớn ấy. Không c̣n những “triệu” người ấy mà một vài người bạn hiện đang tiếp xúc, gần gũi”.

Mẹ Têrêxa kể lại câu chuyện sau đây: “Một lần nọ ở Bombay có một hội nghị lớn về t́nh trạng nghèo khổ. Khi tôi đến nơi, ngay trước cửa của địa điểm trong đó hàng trăm người đang nói về lương thực và cái đói, tôi thấy một người đang hấp hối. Tôi đưa người ấy về nhà chúng tôi dành cho người hấp hối. Người ấy chết ở đó. Người ấy chết v́ đói. Trong lúc những người ở bên trong nói về việc làm thế nào để trong mười lăm năm, chúng ta sẽ có thật nhiều lương thực và thế này thế kia – c̣n người đàn ông đó th́ đă chết.

“Tôi không bao giờ coi các đám đông là trách nhiệm của tôi. Tôi nh́n vào cá nhân. Tôi chỉ có thể yêu thương một người ở mỗi lúc. Tôi chỉ có thể nuôi sống một người ở mỗi lúc. Tôi nhặt một người. Có lẽ nếu tôi không nhặt một người, tôi sẽ không thể nhặt đến 42.000 người. Toàn bộ công việc chỉ là một giọt nước trong đại dương. Nhưng nếu tôi không đặt giọt nước ấy vào, hẳn đại dương sẽ ít đi một giọt. Đối với bạn, cũng giống thế. Trong gia đ́nh bạn, cũng giống thế”.

Người giàu có không mong cứu vớt thế giới. Nhưng ông ta có thể giúp đỡ người ăn mày trước cổng nhà ḿnh.

CÂU CHUYỆN KHÁC

Một tu sĩ lang thang đến một ngôi làng. Ông đang định nghỉ qua đêm dưới một gốc cây th́ một dân làng chạy đến gặp ông và nói: “Xin thầy cho con viên ngọc quư”.

- Anh định nói về viên ngọc nào? Người tu sĩ khẽ hỏi.

- Tối qua con có một giấc mơ: nếu con đi ra bên ngoài làng lúc chạng vạng tối, con sẽ gặp được một tu sĩ và vị này sẽ cho con một viên đá quư, làm con trở nên giàu có măi”.

Tu sĩ lục lọi trong túi xách, t́m thấy một viên ngọc và lấy ra. “Đây có lẽ là viên ngọc mà anh nói đến”, ông nói và đưa nó cho người dân làng. “Tôi t́m thấy nó trong rừng, cách đây mấy ngày. Anh hăy nhận lấy nó”.

Người đàn ông cầm viên ngọc và ngắm nghía với vẻ thán phục. Nó là một viên kim cương, viên lớn nhất mà anh ta chưa bao giờ thấy. Anh ta đem nó về nhà. Nhưng suốt đêm, anh ta trằn trọc trên giường, không thể ngủ được. Sáng sớm hôm sau anh ta trở lại gặp vị tu sĩ và nói: “Suốt đêm qua, con đă suy nghĩ nhiều. Thầy hăy lấy lại viên kim cương này. Thay vào đó, hăy cho con sự giàu có nào làm thầy cho đi viên kim cương ấy dễ dàng đến thế”.

Người giàu có sống bằng đời sống tinh thần bên trong, người b́nh thường sống bằng đời sống bên ngoài – điều mà người kém cỏi lại thấy cần và mong muốn.

 
 

9. Chú giải của William Barclay

H̀NH PHẠT CHO NHỮNG AI KHÔNG QUAN TÂM ĐẾN NHỮNG NỖI KHỔ CỦA THA NHÂN

Dụ ngôn về người quản gia bất trung dạy ta cách sử dụng của cải cách hợp lư. Dụ ngôn về người phú hộ Ladarô nghèo được Chúa dùng để cảnh cáo những người nghe khỏi lạm dụng của cải. Trong câu chuyện này Chúa không dạy rằng nên làm giàu là tội lỗi hoặc tất cả người nghèo đều được cứu. Ngài muốn nói đến cái hiểm họa nghiêm trọng của việc sử dụng tiền bạc cách ích kỷ. Tội của người phú hộ không phải ở trong cách làm giàu hay trong sự giàu có của ông, cũng chẳng phải trong nếp sống kém đạo đức của ông, mà ở một điều đă được mô tả rơ ràng là trong khi ông ta sống xa xỉ ích kỷ, th́ có một người thiếu thốn khổ sở ngay trước nhà ông mà không được ông giúp đỡ.

Chúng ta rút tỉa một số dạy dỗ trong dụ ngôn này.

1. Trước hết dụ ngôn dạy tất cả mọi người đều phải chết, và chết chưa phải là hết v́ vẫn c̣n một đời sống bên kia cửa tử, và đời sống ấy là hậu quả của đời sống này:

Ngay sau khi chết con người được ṭa án Thiên Chúa xét xử về đời sống trên trần thế để đáng lănh thưởng hay bị chịu phạt.

Trên trần gian, của cải vật chất cũng như các đau khổ, đều là tạm bợ, sẽ mau qua, nó chấm dứt với cái chết, và bởi sự chết cũng chấm dứt thời gian thử thách và khả năng làm lành hay làm ác, rồi bắt đầu từ đó vui ḷng thưởng công hay chịu đau khổ h́nh phạt tùy theo hậu quả của đời sống trên trần.

Theo như giáo lư của Giáo Hội: linh hồn của những người chết trong ơn nghĩa Chúa sẽ được lên thiên đàng ngay hay sau một thời gian thanh luyện nếu cần: “Chúng tôi tin có sự sống đời đời. Chúng tôi tin rằng tất cả những người chết trong ơn nghĩa Chúa Kitô, hoặc c̣n phải thanh luyện trong luyện ngục, hoặc ngay sau khi rời bỏ thân xác, được Chúa Giêsu đem về thiên đàng như người trộm lành, đều là dân Thiên Chúa bên kia cửa tử, tử thần sẽ bị vĩnh viễn chiến bại ngày phục sinh khi các hồn người được kết hợp lại với thể xác”. (Phaolô VI, tuyên xưng đức tin Công Giáo).

2. Tiếp theo là bài học chính yếu của dụ ngôn, dụ ngôn đề cập đến vấn đề sử dụng ích kỷ của cải trần gian.

Chúng ta cần phác hoạ hai nhân vật trong câu chuyện để thấy được điểm này.

- Trước hết là người giàu. Mỗi câu văn đều làm tăng thêm sức sống sa hoa của ông ta. Ông thường mặc áo tía hồng và áo gai mịn đó là cách nói về hai bộ áo của thầy tế lễ thượng phẩm với giá từ ba mươi đến bốn mươi Anh kim một số tiền khổng lồ, trong khi lương công nhật một người chỉ được bốn xu Anh, ông ta ăn cao lương mỹ vị hàng ngày. Từ ngữ chỉ đồ ăn ở đây dành cho những tay sành điều, chuộng những món ăn đắt tiền và hiếm có. Ông ta ăn như vậy mỗi ngày, tức là chủ ư phạm điều răn của Chúa. Điều răn Chúa không những cấm làm việc trong ngày sabat, mà cũng c̣n nói “ngươi hăy làm việc trong sáu ngày” (Xh 20,91) trong một xứ mà được ăn thịt mỗi tuần mộ lần và vẫn phải làm việc suốt sáu ngày trong tuần đă là may mắn rồi, th́ người nhà giàu này quả là một tên lười biếng, chỉ ăn chơi. C̣n Ladarô cứ chờ đợi từng mẩu bánh nhỏ rớt xuống từ bàn tiệc của người nhà giàu. Trong thời Chúa Giêsu, khi ăn không dùng dao, nĩa hay khăn, nhưng dùng tay mà ăn, và trong những nhà giàu có, người ta dùng những mẩu bánh ḿ nhỏ lau tay cho sạch rồi ném bánh đó. Ladarô chỉ đợi những mẩu bánh này.

- Nhân vật thứ hai là Ladarô. Lạ thay, Ladarô là một nhân vật duy nhất trong truyện ngụ ngôn được nêu tên riêng. Tên đó có nghĩa là “Chúa là sự giúp đỡ của tôi”. Ông là người ăn mày, ḿnh ông đầy ung nhọt. Ông yếu đuối đến nỗi không thể đuổi lũ chó hoang ở đường phố, chúng đem mơm bơ bẩn đến làm khổ ông.

Cảnh tượng thế gian là như vậy, rồi tức khắc biển đổi sang một cảnh khác, khi cả hai bước qua cửa tử, trong đó Ladarô được vinh hiển, c̣n tên nhà giàu bị gia h́nh. Tội của người nhà giàu này là tội ǵ? Ông ta không tống cổ Ladarô ra khỏi cổng nhà, đă không phản đối mà vẫn để cho Ladarô nhận lấy những miếng bánh từ trên bàn của ông ta vất xuống. Ông đă không giơ chân đá Ladarô mỗi khi đi qua, đă không có ḷng độc ác với Ladarô kia mà! Tội của ông ta là tội đă không quan tâm đến Ladarô, là kiểu “cháy nhà hàng xóm b́nh chân như vại”, là chấp nhận Ladarô như một phần của cảnh đời và chỉ đơn giản nghĩ rằng việc Ladarô sống trong đau khổ, đói khát, c̣n ông ta ch́m ngập trong xa hoa sung túc, chỉ là việc tự nhiên không thể tránh khỏi được, như có người đă nói “Không phải v́ ông ta đă làm những điều quấy mà bị sa địa ngục, nhưng chính v́ ông ta không quan tâm đến các điều lành phải làm nên mới xuống đó”.

Lấy câu chuyện này làm điểm tựa, Đức Gioan Phaolô II đă ban huấn tại sân vận động Yaukee: “Người giàu này bị h́nh phạt v́ ông không quan tâm tới người khác, v́ không để ư ǵ tới Ladarô đang nằm trước cổng nhà ông chờ đợi từng mẩu bánh từ bàn ông ăn rơi xuống. Đức Kitô không bao giờ lên án việc có tài sản, nhưng Người đưa ra những lời nghiêm khắc chống lại những người sử dụng của cải vật chất cách ích kỷ, không chú ư ǵ tới người khác…

Chúng ta phải luôn luôn nhớ, dụ ngôn người giàu và nghèo này. Câu chuyện đó phải đào tạo lương tâm chúng ta. Đức Kitô đ̣i buộc ta phải mở rộng ḷng với anh chị em sống trong khó nghèo. Với những người giàu, những người khỏe mạnh, những người có được một bảo đảm kinh tế, Chúa đ̣i buộc phải rộng ḷng đối với người nghèo, những người sống trong các nước chưa phát triển”. Nói như thế Đức Thánh Cha cũng chỉ nhắc lại điều mà Công Đồng Vaticanô II đă khẳng định: “Các giáo phụ và các tiến sĩ của Giáo Hội dạy rằng mọi người có bổn phận nâng đỡ người nghèo và không phải chỉ giúp đỡ bằng của cải dư thừa. Trước con số quá lớn những người đói khổ trong thế giới. Thánh Công Đồng tha thiết kêu gọi mọi người “hăy cho kẻ sắp chết đói của ăn, v́ nếu không cho họ ăn là giết chết họ” (MV 69).

Về một phương diện khác, dụ ngôn này về giá trị cao cả của con người, độc lập hoàn toàn với địa vị xă hội, văn hóa tôn giáo, t́nh trạng giàu nghèo… Ḷng kính trọng nhân phẩm này diễn tả việc ta phải giúp đỡ những ai khi gặp cảnh xấu số về tinh thần cũng như vật chất. “Vậy mỗi người phải coi người đồng loại – không trừ ai như “cái tôi thứ hai”, cho nên trước hết phải quan tâm đến sự sống của họ và quan tâm đến những phương tiện cần thiết giúp họ sống một đời sống xứng đáng, chứ đừng bắt chước người giàu có kia đă không săn sóc tới Ladarô bất hạnh” (MV 27).

Tội của người nhà giàu này là ông ta thấy những đau khổ túng cực của thế giới mà không cảm thấy thương xót, buồn rầu, ông ta đă nh́n thấy một người đói khổ và không làm ǵ để cứu giúp. H́nh phạt cho người này là h́nh phạt của một người đă không hề chú ư, quan tâm đến kẻ khác. Cần phải nhớ lời cảnh cáo đáng sợ ở đây: tội của người giàu ở đây không phải là ông đă làm ǵ xấu xa nhưng là đă không làm ǵ cả trước những đau khổ của kẻ khác.

Một thí dụ khác của việc tôn trọng nhân phẩm là phân phối cân bằng tài nguyên thế giới, và những nỗ lực bảo vệ con người, kể cả các thai nhi, như Đức Phaolô đệ lục đă phát biểu trước Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ngày 4-10-1965: “Chính trong tổ chức của quư vị, mạng sống con người, ngay cả trong vấn đề sinh sản, phải được đặc biệt tôn trọng và được bảo vệ. Nhiệm vụ của quư vị là làm thế nào để có dồi dào cơm bánh trên bàn ăn nhân loại, chứ không phải là cổ vơ kiểm soát sinh sản một cách giả tạo và phi lư, nhằm giảm bớt số người tham dự bữa tiệc đời sống”.

3. Bài học cuối cùng liên quan tới lời yêu cầu của người giàu xin cho anh em ông.

Có thể là v́ t́nh thương mà xin, nhưng cũng rất có thể ngầm bào chữa rằng nếu được soi sáng nhiều hơn, hẳn ông đă không phạm tội đáng buồn như thế.

Có thể có người trong chúng ta cảm thấy khó chịu khi lời ông ta xin cho anh em được cảnh cáo lại bị từ chối. Nhưng sự thật hiển nhiên là nếu người ta đă nắm được chân lư của lời Thiên Chúa, và nếu ở ngay trước mắt họ có kẻ buồn rầu cần an ủi, có kẻ thiếu thốn cần trợ giúp, có kẻ đau khổ cần giúp đỡ, song họ không động ḷng và không làm ǵ hết, th́ không c̣n ǵ khác để thay đổi ḷng họ. Cuộc đối thoại giữa người giàu đau khổ và cụ tổ Ápraham là nổi bật linh động để ghi sâu vào ḷng thính giả giáo huấn Chúa dậy qua dụ ngôn. Hỏa ngục là thế giới của ghen ghét, không có chỗ nào cho cảm thương tha nhân, chí có thù ghét ngự trị. Khi Ápraham nói với người giàu: “giữa chúng tôi đây và các con có cả một vực thẳm lớn”. Cụ muốn nói sau khi chết và sống lại th́ không c̣n ăn năn nào nữa. Những kẻ dữ sẽ không ăn năn và đi vào Nước Chúa; người lành không phạm tội và không sa xuống hỏa ngục được, một vực thẳm lớn không thể vượt qua mà!

Chúng ta sẽ hiểu hơn với lời giải thích của thánh Gioan Kim Khẩu: “Tôi xin anh em, quỳ xuống chân anh em mà nài xin, anh em hăy ăn năn, hăy sám hối mà trở về với Chúa, hăy sống tốt lành hơn, trong khi chúng ta c̣n hưởng được quăng thời gian vắn này, để chúng ta không phải than khóc cách vô ích như người giàu kia khi chúng ta chết, và khi mà những tiếng khóc than chẳng đem lại một an ủi nào. V́ ngay cả khi chúng ta có một người cha, người con, một người bạn hay bất cứ một nhân vật nào đi nữa có thế giá bên cạnh Chúa, không ai có thể giải cứu chúng ta khỏi những hành động của chúng ta, chính chúng ta kết án chúng ta”.

 
 

10. Chú giải của R. Gutzwiller

KHÓ NGHÈO và SANG GIÀU.

Trong Tin mừng Thánh Luca, các diễn từ về vấn đề ‘hư mất’ kết thúc đẹp đẽ với dụ ngôn người con hoang đàng. Các diễn từ về của cải trần gian mà kết thúc là dụ ngôn người giàu hưởng thụ và Lagiarô khốn khổ.

Ở đây, tŕnh thuật không có ư nói đến khía cạnh xă hội, dầu sự tương phản giữa người phú hộ và Lagiarô được diễn tả bằng những nét sâu sắc. Dụ ngôn cũng không có ư (dầu người ta giải thích như thế) nói đến sự nhẫn tâm thiếu bác ái. Nếu hiểu theo nghĩa này, người ta ưa thêm thắt những lời không có trong nguyên văn. Khi nói ‘Lagiarô ước được ăn những mụn bánh rớt từ bàn ăn’ cho đỡ đói. Người ta nghĩ nên thêm: ‘Nhưng không ai thèm cho’. Thực tế câu này đă được thêm vào; Hơn nữa diễn từ của Abraham cũng ám chỉ không ít ư tưởng đó.

Dụ ngôn trước hết nhắm ám chỉ đến quan niệm sai lầm của các biệt phái, v́ họ coi thịnh vượng đời này là dấu chỉ ơn lành của Thiên Chúa và nghèo nàn là dấu chỉ bị ruồng bỏ. Dưới mắt họ, thế giới bên kia chỉ có ích lợi thứ yếu. Những người Saducêo, không tin đời sau, hành vi đạo đức chủ yếu nhắm tới quyền lợi và công bằng trong tương quan giữa Thiên Chúa và con người. Nó đ̣i hỏi mỗi người cố gắng hành động tốt, tức là giữ giới luật Chúa, lănh nhận ngay khi c̣n ở trên dương gian phần thưởng mà họ có thể được.

Người lành sẽ được thịnh vượng, kẻ ác gặp bất hạnh. Ở trần gian này nếu mọi sự tốt đẹp, có nghĩa là con người đă làm hài ḷng Thiên Chúa; bằng không th́ v́ tội lỗi ngự trị trong ḷng họ. Đó là nguyên nhân người Biệt phái chế diễu Chúa Giêsu v́ Ngài đ̣i hỏi phải từ bỏ lạc thú ở đời này. Yêu sách này mâu thuẫn gay gắt với xác tín tôn giáo của họ, và dụ ngôn khai triển sự tương phản đó một cách không kiêng nể.

Hai nhân vật đối đầu nhau: một người sống trong xa hoa, không thiếu thứ ǵ và một người nghèo sống trong cảnh khốn khổ cùng cực, kéo lê cuộc sống đáng thương cho đến lúc chết. Trong khoảnh khắc, cảnh huống thay đổi hoàn toàn v́ ở thế giới bên kia, sự tương phản đôi bên cũng gay gắt nhưng theo chiều hướng đảo ngược. Người hành khất được hạnh phúc trong ḷng Abraham, c̣n người giàu có phải chịu muôn vàn đau khổ.

Thịnh vượng trần thế không minh chứng giá trị đạo đức và sự hậu đăi của Thiên Chúa; cũng như nghèo khó không minh chứng sự bại hoại luân lư và việc Thiên Chúa ruồng bỏ. Người biệt phái đă quan niệm sai lầm. Thiên Chúa phán đoán hoàn toàn khác. Đó là ư nghĩa của dụ ngôn.

Cho nên không thể rút ra những hệ luận thiêng liêng căn cứ vào một vài chi tiết trong bài trần thuật này: chẳng hạn các khổ h́nh dành cho người phú hộ hưởng thụ là biểu hiệu những khổ h́nh của hoả ngục. Đó chỉ là một h́nh ảnh, việc an nghỉ trong ḷng Abraham cũng thế…

Cũng không thể áp dụng trên khía cạnh luân lư khi nói đến đức bác ái hay sự từ khước ư muốn của Thiên Chúa. Thực sự, dụ ngôn không có ư nói người phú hộ cứng ḷng và Lagiarô nhẫn nhục chấp nhận số phận. Chúng ta chỉ nói đến một chủ đích riêng của dụ ngôn: minh chứng rằng cảnh ngộ trần thế và bên ngoài không liên quan tới trạng thái tâm hồn. Đó là điều dụ ngôn muốn nói.

Giải thích này, vào đúng thời của nó, đă đả phá được quan niệm sai lạc của Biệt phái, đ̣i hỏi họ phải thay đổi toàn bộ cảm nghĩ… Ngày nay tầm quan trọng của nó vẫn c̣n. Người ta luôn luôn đánh giá cuộc đời của ḿnh cũng như của người khác theo tiêu chuẩn vật sở hữu bề ngoài. Nếu một người có tiền, ăn sung mặc sướng, sẽ được coi là người biết tổ chức tốt đời của ḿnh.

Vở kịch đời sẽ thay đổi hoàn toàn ở màn hai khi bước qua thế giới bên kia. Chúng ta không ngại thán phục người quyền thế, người hùng mạnh, họ đă đạt thành công, ‘đă làm được một cái ǵ’ và chúng ta thương cảm cho người yếu đuối v́ cuộc sống của họ đầy thất bại và không có được may mắn. Ở điểm này, Thiên Chúa cũng không nghĩ như chúng ta. Không nên xét đoán theo quy tắc nền tảng của Kitô giáo.

Tuy nhiên, con người tỏ ra xung khắc với giáo lư đó. Cho nên ở cuối dụ ngôn, Đức Kitô quả quyết họ không muốn nghe Môisen và các tiên tri, và ngay cả một người chết sống lại đến bảo họ rằng họ đang sống không đúng với đường lối của Thiên Chúa, họ không thể thay đổi lập trường. Ở đời sau, người trước sẽ thành sau, sau sẽ thành trước; nghèo sẽ thành giàu và giàu sẽ thành nghèo; hèn kém sẽ thành quyền thế và ngược lại.

‘Chúa hạ bệ những ai quyền thế và nâng cao mọi kẻ khiêm nhu; kẻ đói khát, Chúa ban của đầy dư, người giàu có lại đuổi về tay trắng’. Đức Kitô đă đến trần gian và Ngài đă nhắc đi nhắc lại điều đó một cách hết sức rơ ràng. Nhưng người ta không tin và cũng không muốn tin Ngài… Sự đời trần gian đối với họ c̣n hơn của thiêng liêng, đời sống hiện tại hơn đời sau. Họ thích cuộc sống như người phú hộ hơn là số phận của Lagiarô, dù họ có biết trong thế giới bên kia sự thể sẽ hoàn toàn thay đổi.

Thực họ khó xét lại quan điểm và lề lối suy nghĩ của ḿnh.

 
 

11. Chú giải của Noel Quesson

Đức Giêsu đă nói dụ ngôn này: “Có một ông nhà giàu kia, mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đ́nh”

Đức Giêsu đă trông thấy điều đó. Bấy giờ đă có những bất b́nh đẳng... giữa những người quá giàu, và những người quá nghèo.

Lại có một người nghèo khó tên là Ladarô, mụn nhọt đầy ḿnh, nằm trước cổng ông nhà giàu

Chúng ta nhận thấy rằng ông nhà giàu không có tên: Mỗi người chúng ta chắc hẳn có thể nhận ra ḿnh nơi ông ta. C̣n người nghèo có cái tên “Ladarô”. Trước mắt Thiên Chúa, Ladarô là một con người. Và cái tên mà Đức Giêsu cho anh (đây là lần duy nhất mà một nhân vật của dụ ngôn có một cái tên cụ thể) có đầy ư nghĩa: Trong tiếng Do Thái, El'azar có nghĩa là “Thiên Chúa - phù hộ”. Chúng ta đi đoán điều ǵ nơi ông nhà giàu bị... chê trách. Đó là ông ta đă đặt mọi niềm tin cậy vào sự giàu cồ của ông, vào nhân tính. Trái lại điều Đức Giêsu thán phục nơi người nghèo khó là dù thiếu thốn hết mọi sự của trần gian, anh chỉ trông cậy vào Thiên Chúa sẽ giúp đỡ anh.

Thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rớt xuống mà ăn cho no. Lại thêm mấy con chó cứ đến liếm ghẻ chốc anh ta

Chúng ta chớ quên rằng chính Đức Giêsu đă dùng cách mô tả bi thảm này: Bên trong nhà, người ta chè chén trong cảnh xa hoa; bên ngoài, kế bên là cảnh khốn cùng, giữa hai bên là một cái cổng. Cái cổng này ví như một “vực thẳm” phân cách giàu nghèo. Hai vũ trụ song song. Ông nhà giàu sống trong một thế giới khép kín trên chính ḿnh, và không vượt qua cái cửa của ngôi nhà.

Phải sự giàu có, tài sản của chúng ta ngăn không cho chúng ta “thấy được” những người khác. Và người nghèo khó, ḿnh đầy mụn nhọt, nằm bên ngoài trước cổng ông nhà giàu, dường như cũng không tận mắt nh́n thấy ông nhà giàu mà Đức Giêsu đưa lên sân khẩu.

Ngày 3 tháng 7 năm 1980 tại Sao Pau-lô ở Braxin, Đức Giáo Hoàng Gioan Phao lô II đă áp dụng dụ ngôn này vào thế giới hiện đại một cách tập thể: “Những làn sóng di dân chen chúc nhau trong những khu nhà ổ chuột bất xứng nơi nhiều người mất hết niềm hy vọng và chết trong cảnh bần cùng. Trẻ em, thanh niên, người lớn không t́m thấy không gian sống để phát triển đầy đủ các năng lực thể chất và tinh thần, đi lang thang trong các đường phố nơi nhung làn sóng, xe cộ chạy tấp nập giữa những ṭa nhà bằng bê-tông... Bên cạnh những khu phố ở đó. Người ta sống với mọi tiện nghi hiện đại, tồn tại những khu phố khác thiếu thốn đủ mọi thứ cơ bản nhất... Nhiều khi sự phát triển trở thành một sự thuật lại khổng lồ dụ ngôn ông nhà giàu và Ladarô, sự kề cận của cảnh xa hoa và cảnh khốn cùng càng làm trầm trọng t́nh cảm ức chế của những người không may mắn”

Đó đúng là điều Đức Giêsu đă nói:

Những mô tả ấy có tác động tôi điều ǵ không?

Thế rồi người nghèo này chết, và được thiên thần đem vào ḷng ông Abraham. Ông nhà giàu cũng chết, và người ta đem chôn. “Dưới âm phủ, đang khi chịu cực h́nh”

Vậy đây là một sự lật ngược hoàn cảnh t́nh thế.

Người nghèo đă ở giữa hỏa ngục trên trần gian. Bởi lẽ có những hoàn cảnh khốn cùng là một hỏa ngục thật sự. Giờ đây, ngươi ấy được hạnh phúc. Trong khi ông nhà giàu trước đây không thiếu thứ ǵ, giờ đây phải khốn khổ. Một trong những điểm đáng lưu ư của hai dụ ngôn, là Chúa không nói rằng người nghèo sống đức hạnh, và ông nhà giàu sống xấu xa. Đơn giản người này th́ nghèo, người kia th́ giàu, thế thôi. Ông nhà giàu không bị buộc tội đă ăn cắp của Ladarô hoặc đă bóc lột anh bang một nghiệp vụ khéo léo về bất động sản hay thương mại, hoặc không trả lương Ladarô cho công bằng, hoặc đă ngược đăi, bóc lột anh. Chúa cũng không nói rằng ông nhà giàu không bố thí cho Ladarô: Chỉ đơn giản là ông không nh́n thấy anh ta! ông đă để một vực thẳm khủng khiếp giữa ông và người nghèo. Họ xa nhau, người này xa cách người kia.

Ông ta ngước mắt lên, thấy tổ phụ Abraham ở tận đàng xa, và thấy anh Ladarô trong ḷng tổ phụ. Bấy giờ ông ta kêu lên: ‘Lạy tổ phụ Abraham, xin thương xót con, và sai anh Ladarô nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ trên lưỡi con cho mát; v́ ở đây con bị lửa thiêu đốt khổ lắm!

Dĩ nhiên không nên t́m kiếm một sự mô tả thế giới bên kia trong những h́nh ảnh này. Đức Giêsu chỉ sử dụng những sơ đồ của tư tưởng người đồng thời. Người không thể nói cách khác để người ta hiểu Người: Thế giới bên kia được h́nh dung (!) như một âm phủ bao la (“Shéol”) với những thân thể (!), những cái lưỡi, ngón tay, lửa, nước, ở một nơi mà những kẻ bị kết án nh́n từ xa những người được ưu tuyển cách ḿnh bằng một vực thẳm. Điều rơ ràng bên kia những h́nh ảnh b́nh dân làm sự đảo ngược những điều kiện ở trần gian. Giờ đây chính ông nhà giàu cần đến anh nhà nghèo.

Ông Abraham đáp: ‘Con ơi, hăy nhớ lại: suốt đời con, con đă nhận phần phước của con rồi; c̣n Ladarô suốt một đời chịu toàn những bất hạnh. Bây giờ, Ladarô được an ủi nơi đây, c̣n con th́ phải chịu khốn khổ. Hơn nữa, giữa chúng ta đây và các con đă có một vực thẳm lớn, đến nỗi bên này muốn qua bên các con cũng không được, mà bên đó có qua bên chúng ta đây cũng không được’

Đức Giêsu một lần nữa tái khẳng định “đặc quyền của những người nghèo” bởi miệng của Abraham. Chúng ta, hăy nhớ lại. Bài Ca Ngợi Khen (Magrificat): “Kẻ đói nghèo, Chúa ban của đầy dư, người giàu có, lại đuổi về tay trắng” (Lc 1,52-53). Chúng ta hăy nhớ lại bài diễn từ phác họa chương tŕnh của Đức Giêsu ở hội đường Nagiarét: “Chúa đă xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn” (Le 4,18). Chúng ta hăy nhớ lại mối phúc thật và mối họa: “Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó; khốn cho các ngươi là những kẻ giàu có (Lc 6,20-24). Chúng ta hăy nhớ lại nhiều lời cảnh báo chống lại nguy cơ của những giàu có vật chất (Lc 12,15-21 - 16,9-11).

Đối với Đức Giêsu, sự giàu có bao gồm hai nguy cơ chết người:

1. Nó khép kín ḷng ḿnh với Thiên Chúa: Người ta bằng ḷng với những lạc thú trần gian mà quên đi đời sống vĩnh cửu là điều chủ yếu.

2. Nó khép kín ḷng ḿnh với những người khác: Người ta không c̣n nh́n thấy người nghèo nằm ngay cổng nhà ḿnh.

Chúng ta hăy lưu ư rằng, hỏa ngục dường như chỉ là sự kéo dài của t́nh trạng này: Xa cách Thiên Chúa như ở trần gian người ta vẫn thế; xa cách những người khác như ở trần gian Người ta vẫn thế. Một lần nữa, chúng ta ghi nhận rằng chính con người “tự phán xử ḿnh ngay từ trần gian này”.

H́nh phạt khủng khiếp ấy đơn giản là khoảng cách mà kẻ giàu có đă đặt ở giữa người ấy và Thiên Chúa, ở giữa người ấy và những người khác. Bởi v́ Nước Thiên Chúa là sự hiệp thông của t́nh yêu. Kẻ giàu có đă tự kết án chính ḿnh: “cái cổng nhà” hắn phân chia hai thế giới đă trở thành “vực thẳm”.

Tôi có tin chắc rằng tôi đang kiến tạo thiên đàng hay hoả ngục của tôi, mỗi lần tôi mở ḷng tôi cho Thiên Chúa hoặc cho những người khác, mỗi lần tôi khép kín ḿnh trong chính ḿnh? Trần gian này là nơi rèn luyện bước đầu của thiên đàng và hỏa ngục.

Người nào không yêu thương ở trần gian này đă tự loại ḿnh ra khỏi “bữa tiệc của Thiên Chúa” nơi chỉ có những người nghèo được vào, những người này đă “mở ḷng ḿnh ra cho những người khác”. Đức Giêsu đă mạc khải cho chúng ta thái độ và hữu thể của Thiên Chúa: Người là T́nh yêu phổ quát. Một người cha đă giết con bê béo và tổ chức một bữa tiệc linh đ́nh để đón nhận đứa con hoang đàng; Thiên Chúa là thế! Một người giàu có chè chén với bạn bè ḿnh để lợi dụng của cải ḿnh: Khác nhau biết bao!

Ông nhà giàu nói: ‘Lạy tổ phụ, vậy th́ con xin tổ phụ sai anh Ladarô đến nhà cha con, v́ con hiện c̣n năm người anh em nữa. Xin sai anh đến cảnh cáo họ, kẻo họ lại cũng sa vào chốn cực h́nh này’

Chi tiết này không thôi, sẽ chứng tỏ khi cần rằng người ta không thể dùng những h́nh ảnh ấy để mô tả thực tại đời sau: Nếu Thiên Chúa thấy t́nh cảm tốt lành nhỏ nhất trong một Người, th́ đương nhiên nơi này sẽ thôi không c̣n bị kết án nữa. T́nh yêu của Thiên Chúa th́ vô tận. Nhưng ở đây, chúng ta có một cảnh dựng để đưa vào câu trả lời sẽ theo sau.

Ông Abraham đáp: ‘Chúng đă có Mô-sê và các Ngôn Sứ, th́ chúng cứ nghe lời các vị đó.' Ông nhà giàu nói: ‘Thưa tổ phụ Abraham, họ không chịu nghe đâu, nhưng nếu có người từ cơi chết đến với họ, th́ họ sẽ ăn năn sám hối’

Vậy một lần nữa, chúng ta đứng trước một lời yêu cầu làm những đấu chỉ khác thường. Ông hăy làm cho chúng tôi một phép lạ để tôi tin? ông hăy xuống khỏi cây thập giá, nếu ông là Con Thiên Chúa! ông hăy gieo ḿnh từ nóc Đền thờ xuống. Một số Kitô hữu luôn luôn tiếp tục dựa vào các phép lạ và những lần hiện ra. Đức Giêsu từ chối các dấu chỉ giật gân (Lc 11, 16-29; Mc 8, 11-12; Mt 2,38; 16,1).

Ông Abraham đáp: ‘Mô-sê và các Ngôn Sứ mà họ c̣n chẳng chịu nghe, th́ người chết có sống lại, họ cũng chẳng chịu tin’

Thật vậy, sự sống lại của Ladarô, em trai của Mácta và Maria ở Bêtania, không những không thuyết phục được những người Pharisêu và các giáo trưởng, mà c̣n thúc đẩy họ có quyết định loại trừ Đức Giêsu (Ga 11, 45-53). Con đường chân chính duy nhất đến với đức tin không phải là một phép lạ nhăn tiền nhất mà là sự khiêm nhường lắng nghe Lời Chúa (Môsê và các ngôn sứ)... sự khiêm nhường và chú tâm nh́n thấy các nhu cầu của anh em chúng ta (người anh em đang đau khổ bên cạnh tôi)...

Nhưng Đức Giêsu xem ra đă khẳng định rằng số phận những người giàu đó đă khô cứng một cách bi thảm: Tính ích kỷ sự buông thả thái độ vô tôn giáo, thái độ khép kín ḷng họ... sau cùng làm họ “không thể đọc được những dấu chỉ của Thiên Chúa”. Thỉnh thoảng, cái chết theo lẽ tuần hoàn mà đến, nhắc họ rằng sự vô cảm tâm linh là điều bấp bênh, và sự giàu có không bảo vệ họ măi măi. Nhưng tất cả đều vô ích: tài sản của họ đă làm họ mù mắt trước những nỗi khốn khổ của người khác và trước sự mỏng ḍn của bản thân họ. Họ tự măn về chính họ... bị giam hăm trong của cải của họ... Thiên Chúa không cưỡng đoạt. Người không thể ép buộc một ai yêu mến.

Để kết luận suy niệm bài Tin Mừng này, chúng ta phải tự hỏi. Ai giàu có? Ai nghèo khó? Thành hay bại rất nghiêm trọng đến nỗi nếu áp dụng câu chuyện này cho những người khác sẽ tai hại như khi nói rằng: “Tôi đâu có phải là ông vua dầu hỏa”.

Hăy nh́n kỹ ḷng ḿnh... Nó có mở ra cho Thiên Chúa, cho người khác không?

Bạn có nghèo không?

 
 

12. Chú giải của Fiches Dominicales

GIỮA CHÚNG TA ĐĂ CÓ MỘT VỰC THẲM

VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI

1. Đừng đào thêm vực thẳm.

Trên hành tŕnh tiến về Giêrusalem nơi Người sẽ tự nguyện hiến mạng sống cho anh em đồng loại - Đức Giêsu bắt đầu bằng việc kể cho các môn đệ dụ ngôn người quản gia bất lương. Trước sự ngỡ ngàng của mọi người, Người kết luận với lời khen tên quản gia ấy và mời gọi “con cái ánh sáng” phải biết hành động “khôn khéo” giống như “con cái đời này”: “Hăy dùng tiền của bất chính mà tạo lấy bạn bè, pḥng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em nào nơi ở vĩnh cửu “.

Giờ đây, Người quay sang ngỏ lời với những người Pharisêu, “vốn ham hố tiền bạc” (họ quan niệm giàu có như dấu hiệu được Thiên Chúa chúc lành) và “cười nhạo Đức Giêsu”. Trong lúc dụ ngôn trước dạy cho chúng ta biết cách sử dụng của cải trần gian sao cho đúng, th́ dụ ngôn sau tŕnh bày mặt trái, qua câu chuyện về một người đă sử dụng của cải ḿnh. có cách sai lầm. Đây là dụ ngôn của riêng Luca, gồm ba cảnh. Mở màn, hai nhân vật xuất hiện: một giàu, một nghèo.

Người thứ nhất, mặc dù là nhân vật chính, lại không được nêu tên: “một viên phú hộ kia”, thế thôi; nghĩa là mỗi người đều có thể nhận ra chính ḿnh nơi ông. Kẻ thứ hai th́ lại có một cái tên gọi - chuyện hy hữu trong tất cả những dụ ngôn của Đức Giêsu - và là một cái tên có nghĩa biểu tượng: “Ladarô”, có gốc từ chữ “Ê-lê-a-da”, nghĩa là “Thiên Chúa phù trợ”.

Không chỗ nào nói Ladarô là một con người nhân đức; anh chỉ được giới thiệu là “một người nghèo”, “người nghèo” nói chung, không ai thấy không ai nghe. Cũng vậy, không một chỗ nào nói rằng viên phú hộ kia là một kẻ “ác ôn”, rằng ông đă vơ vét của cải một cách mờ ám, rằng ông đă chiếm đoạt, đă bóc lột một cách bất chính, đă lợi dụng hay ngược đăi Ladarô. Dụ ngôn trong Tin Mừng chỉ lưu ư chúng ta ở chỗ ông đă không ngó ngàng ǵ tới “người nghèo khó nằm trước cổng nhà ḿnh”, thế thôi ở đây chúng ta chứng kiến cảnh trái ngược trớ trêu của hai thế giới sát bên nhau. Một bên là thế giới cực kỳ xa hoa dư thừa, với viên phú hộ “mặc lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đ́nh”. Bên kia là thế giới thiếu thốn đến thảm hại của người nghèo khó, “nằm trước cổng, mụn nhọt đầy ḿnh”, “thèm được những thứ trên bàn ăn của viên phú hộ rơi xuống mà ăn cho no cũng chẳng được”; chỉ có mấy con chó cứ đến liếm ghẻ chốc anh ta. Giữa hai thế giới đó, chỉ có một “ngưỡng cửa”, một ranh giới, ngày càng được đào sâu một cách vô h́nh, được nới rộng cho tới một lúc tấm màn của cảnh một được buông xuống với cái chết đồng thời của cả hai nhân vật: “Thế rồi người nghèo nàn chết... ông nhà giàu kia cũng chết”

2. Một vực thẳm không thể vượt qua

Cảnh hai cho thấy cả hai nhân vật của chúng ta ở thế giới bên kia. Cái chết thay v́ làm cho họ xích gần lại với nhau, lại làm cho khoảng cách giữa họ trở thành vĩnh viễn. Sự thật cho thấy từ nay t́nh thế của họ đă hoàn toàn đảo ngược. Ladarô, kẻ ăn xin xưa kia trên trần gian, nay đă được thiên thần đem vào ḷng ông Abraham, hưởng vinh phúc vô tận. C̣n viên phú hộ th́ trái lại, trước đây hưởng thụ giàu sang, chẳng đoái hoài ǵ đến người nghèo nằm trước cửa nhà ḿnh nay phải ở “dưới âm phủ, đang chịu cực h́nh”. Ông năn nỉ tổ phụ Abraham sai Ladarô - ông nêu rơ tên, cái tên mà ông chẳng thèm biết tới khi c̣n sống trên đời - “nhúng đầu ngón tay vào nước nhỏ trên lưỡi con cho mát”.

Muộn quá rồi. Cuộc chơi đă măn! Cả Abraham lẫn Ladarô chẳng ai làm được ǵ cho ông nữa. Một cách vô thức, ông đă từng bước đào sâu thêm, giữa sự giàu có ích kỷ của ḿnh và cái khốn cùng của người nghèo trước cửa nhà một “vực thẳm” mà rốt cùng cái chết đă làm cho trở thành vĩnh viễn không thể vượt qua. Thua xa sự “khôn khéo” của người quản gia bất lương của Chúa nhật vừa qua, ông đă không biết “làm bạn” với Ladarô, để được anh “đón rước vào nơi ở vĩnh cửu”.

Theo nhận định của H. Cousin: “Vực thẳm” chia cách giữa những người đang được hưởng hạnh phúc quanh Abraham và những kẻ phải chịu cực h́nh dưới âm phủ, thực ra chỉ là sự nối dài của vực thẳm đă được đào sâu giữa cổng nhà nơi Ladarô đă nằm và bàn tiệc cao lương mỹ vị, mà suốt đời viên phú hộ kia đă chẳng làm ǵ để lấp cho đầy

3. Hăy nghe lời Chúa đừng chần chừ nữa.

Câu chuyện lại chợt bừng lên với lời năn nỉ của ông phú hộ xin cho năm người anh em c̣n sống trên trần.

Họ có thể cũng đang rơi vào thói ăn chơi hưởng thụ, không quan tâm ǵ tới người nghèo đang nằm trước cửa nhà ḿnh. Cả bọn năm người họ cũng đang lơ lửng trước tai hoạ nếu không có ai đó cảnh báo cho biết. “Xin tổ phụ sai anh Ladarô, ông nài xin, đến cảnh cáo họ, kẻo họ lại cũng sa vào chốn cực h́nh này”. Bởi nếu có sự can thiệp của ai đó “từ cơi chết” hiện về với họ, “th́ họ sẽ ăn năn sám hối”. Ao tưởng thôi - câu trả lời cho ông - nếu nghĩ rằng chỉ cần có ngươi từ cơi chết hiện về là họ sẽ chịu nghe, nếu “Môsê và các Ngôn sứ mà họ c̣n chẳng chịu nghe”: Luật Môsê và các Ngôn sứ đă chẳng từng dạy về việc sử dụng tiền của vật chất sao cho đúng ư'? Các ngài đă chẳng khuyên phải bác ái đối với người nghèo, chia cơm, sẻ áo với kẻ đói khát, niềm nở đối với khách lạ, đón tiếp kẻ bất hạnh sao? Sách Đệ Nhị Luật (15,7-11) truyền dạy: “Nếu giữa anh em có một người nghèo, th́ anh em ḷng có ḷng chai dạ đá cũng đừng bo bo giữ không giúp người anh em: Hăy mở rộng tay giúp người anh em khốn khổ, nghèo khó của anh em, trong niềm đất của anh em”. Và cả các Thánh vịnh cũng đă chẳng không ngừng lặp đi lặp lại rằng mọi kẻ nghèo khó, thấp cổ bé miệng, bị áp bức, bị bóc lột, đói khát, đều là những người bạn nghĩa thiết của Thiên Chúa sao? (xem Tv 112 Chúa nhật trước và Tv 145 hôm nay)

Bài học đă quá rơ. Nó được gởi đến tất cả những ai đang có nguy cơ bị tiền của làm cho điếc tai, mù mắt. Mong sao đừng chờ cho đến khi có một biến cố nào đó lay động, buộc họ phải quyết định. Tốt hơn hăy coi Lời Chúa cảnh báo hôm nay là nghiêm trọng. Đừng chậm trễ. Chậm trễ biết đâu sẽ muộn màng. H. Cousin kết luận: “Đại diện cho lối suy nghĩ khá phổ biến trong thế giới hôm nay viên phú hộ tưởng tượng rằng một phép lạ sẽ làm được cái mà Kinh Thánh làm không được. Lầm to! Một phép lạ, cho dù là phép lạ người chết sống lại, cũng không thể thay ḷng đổi dạ được những kẻ cứng ḷng không đón nhận sứ điệp của Lề Luật và các Ngôn sứ với ḷng tin. Người trong Hội Thánh, từng tuyên xưng Đức Giêsu chết và sống lại, cũng tồn tại một điều như thế. Biết bao phen chính chúng ta chẳng mơ tưởng giả như được chứng kiến phép lạ Chúa Phục sinh hiện ra, chắc chắn ḿnh sẽ lo ăn năn sửa đổi đời sống. Trong lúc Tin Mừng đang có đó, ngày cũng như đêm, trong tầm tay chúng ta!. Chỉ khi biết lắng nghe Lời Chúa, con người mới có thể hoán cải. Đó chính là sứ điệp lưu truyền lâu đời có sẵn tại trung tâm Lề Luật là các Ngôn sứ.

BÀI ĐỌC THÊM:

1. Sức mạnh của Tin Mừng.

“Không mệt mỏi, Đức Giêsu nhiều lần dề cập đến sự đảo lộn những giá trị khi Nước Thiên Chúa đến. Trong thực tế, Người đă lừng vấp phải sự cứng ḷng của những người Pharisêu, thánh Luca nói, họ vốn “ham hố tiền bạc là... cười nhạo Đức Giêsu”. Họ như một bức tường trơ trơ do cái vẻ công chính bề ngoài dưới mắt thiên hạ. Họ không muốn để ḿnh bị lay động. Đức Giêsu cảnh cáo họ: “Thiên Chúa biết ḷng các ông”. Không phải tất cả những ǵ người đời ái mộ, khâm phục đều thực sự có giá trị. Chỉ có đôi mắt của Thiên Chúa mới thấu suốt được giá trị đích thực của mọi vật. Ngay cả Lề Luật, vững bền như “đất trời” v́ là Lề Luật của Thiên Chúa, cũng không thể là cái cớ được đưa ra để khước từ Tin Mừng của Nước Trời: vượt qua cả Lề Luật là sức mạnh của Nước Trời, đ̣i con người phải đấu tranh với bản thân để phá vỡ cái vỏ bên ngoài giam hăm cái tâm tốt lành trong mỗi người.

Đức Giêsu c̣n dùng một dụ ngôn nữa để diễn tả sự đáo ngược t́nh thế mà tin Mừng nước trời đến loan báo: số phận của viên phú hộ và anh Ladarô là một minh hoạ. Viên phú hộ, xưa kia sống xa hoa hưởng thụ, nay bị đày xuống âm phủ. Anh Ladarô, xưa bị quên lăng, khinh thường, nay được đem vào ḷng Abraham. T́nh thế đà hoàn toàn lật ngược, vô phương kêu trách. Và Đức Giêsu nhấn mạnh: phải lo tỉnh ngộ sớm. Sẽ chẳng có dấu hiệu phi thường nào, chẳng có một ai từ cơi chết hiện về để đánh thức chúng ta khỏi cơn mê. “Chúng ta có Môsê va các Ngôn sứ, th́ chúng cứ nghe lời các vị đó!”. Chúng ta c̣n có hơn nữa: Tin Mừng của chính Đức Giêsu. Tuy nhiên, giống như những người Pharisêu xưa, chúng ta khó tránh được thói nô lệ vẻ bề ngoài, khó lột bỏ được những mặt nạ của ḿnh xuống và biết nh́n mọi hoàn cảnh bằng cái nh́n của Thiên Chúa chúng ta sợ sức mạnh của Tin Mừng. Cầu xin Thiên Chúa, với tất cả ḷng kiên tŕ của Người, ra sức mở mắt cho chúng ta, ban cho chúng ta ḷng dũng cảm để dấn thân vào cuộc chiến của Tin Mừng.

2. Trên những nẻo đường của t́nh liên đới

(G. Bouche, trong “Le ciel sur la terre”, trg 61).

Nỗi khổ đau của thế giới vẫn réo gọi chúng ta qua những h́nh ảnh trên ti vi, với bao h́nh hài con người tàn tạ, những bộ mặt thờ thẫn và ánh mắt tuyệt vọng.

Tiếng than đói khổ của nhân loại vẫn hằng ngày vọng đến chúng la qua tiếng kêu gọi không lời đáp ứng của những tổ chức nhân đạo đang xin mọi người rộng tay cứu giúp những con người đang chết lần chết ṃn v́ thiếu cả những nhu cầu tối thiểu, hiện đang sống không xa noi ở quá đầy đủ tiện nghi của chúng ta.

Chúng ta thường xuyên phải chứng kiến hay nghe nhắc đến cái nghèo ở khắp nơi, xa xôi hay sát bên cửa nhà chúng ta. Chúng ta cảm thấy đau ḷng. Chúng ta muốn làm cái ǵ đó để vơi nhẹ nỗi khổ đau và lầm than. Nhưng biết làm ǵ đây?

Giúp tiền giúp bạc th́ lại ngán nạn thất thoát ăn bớt. Trực tiếp hành động qua trung gian một ai đó chúng ta quen biết và tín nhiệm, th́ lại không thấy được những nhu cầu cấp bách nhất, cũng như không giải quyết tận gốc rễ những bất hạnh.

Cống hiến một phần đời ḿnh phục vụ trung các tổ chức liên đới và cứu trợ, mặc dù biết rằng đó chỉ là muối bỏ biển. Bênh vực những phong trào và báo chí đấu tranh cho một thế giới tốt đẹp hon, cũng như đấu tranh cho các dân tộc nghèo được làm chủ vận mạng của ḿnh.

Chúng ta có bổn phận phải can thiệp để ủng hộ những người có uy tín không chịu khoanh tay đứng nh́n cảnh anh em ḿnh đói khổ, bệnh tật, lấy cớ phải tôn trọng quyền lợi, luật pháp, công ước.

Góp tiếng nói với tất cả những ai đang đấu tranh cho một trật tự mới của thế giới, của nền kinh tế và của các quốc gia. Thành tâm cầu nguyện xin Thiên Chúa cho chúng ta biết mở rộng đôi mắt và hướng chúng ta đến một trái đất thực sự là mái ấm cho mỗi người và là nơi Thiên Chúa có thể hiện diện.

Điều nào cũng phải làm, mỗi thứ một chút! Tuỳ ơn Chúa và phương tiện của mỗi người.

Sau hết, chúng ta cần có một quan niệm về hạnh phúc phù hợp với hồng ân mà Thiên Chúa muốn ban tặng cho muôn loài hơn là việc chiếm hữu cho thật nhiều của cải, chỉ làm cho chúng ta đầy ứ về vật chất nhưng khô kiệt về tâm hồn...

Phải chăng Thiên Chúa mới đúng là “người từ cơi chết” đến kêu gọi chúng ta như thế?

 
 

13. Người phú hộ giàu có và Ladarô nghèo khổ

Một câu chuyện kể rằng, có một em thiếu nhi con nhà giàu, học giỏi và đạo đức đến cầu nguyện với Chúa rằng, con chúc tụng và tạ ơn Chúa đă cho con sinh ra trong một gia đ́nh đạo đức và hạnh phúc. Nhưng tại sao Chúa lại cho người bạn thân của con phải cực khổ, gia đ́nh nghèo khó, bố hắn là lao động chính trong gia đ́nh nay bị đau nặng. Mấy anh chị em vừa phải bán vé số, bán báo vừa đi học nay phải nghỉ v́ không đóng học phí. Chúa không thưởng bạn của con sao?

Chúa trả lời: Con thật là một thiếu nhi ngoan, một người bạn tốt biết quan tâm đến người khác, biết nghĩ đến người bạn kém may mắn hơn ḿnh. Nhưng này con, con hăy nhớ rơ điều này là chính v́ Ta thương nó mà Ta đă dựng nên con và cho nó kết bạn với con.

Đă có lần Chúa Giêsu tuyên bố: “Người nghèo khó th́ luôn luôn ở với các ngươi”. Bài Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu đưa ra dụ ngôn về người phú hộ giàu có và Ladarô nghèo khó là một thực tế của cuộc sống trong xă hội trần gian, và đó cũng là phần nào hệ quả của Nước Trời mai sau. Hai h́nh ảnh trái ngược nhau luôn đi kèm với nhau, một bên là giàu có sống trên nhung lụa, ngày ngày yến tiệc linh đ́nh, c̣n một bên là cùng khổ, ghẻ lác và nghèo đói. Một bên là quằn quại trong lửa hỏa ngục, c̣n một bên là hạnh phúc ngồi trong ḷng Abraham trên thiên đàng. Nếu chỉ đọc bài Tin Mừng này với bài đọc I trích sách tiên tri Amos chúng ta tưởng có dị ứng sai lạc với những người giàu có và an phận trong sự khốn nạn của bần cùng. Đừng nghĩ rằng, Nước trời chỉ dành cho những người nghèo, c̣n những người giàu phải trầm luân dưới hỏa ngục. Chúng ta hăy đọc kỹ lại bài đọc II trích thơ thứ nhất của thánh Phaolô tông đồ gởi cho Timôthêu th́ chúng ta mới thấy rơ ư nghĩa của bài Tin Mừng này.

Giàu có chưa phải là hạnh phúc đích thực của con người. Có biết bao nhiêu người giàu có đă chẳng được b́nh an đó sao? Thậm chí có người phải vào tù ra khám, có những gia đ́nh phải tan nát đó sao? Và cũng đừng nghĩ rằng, người giàu có đương nhiên là bị loại ra khỏi Nước Trời. Thực tế lịch sử đă chứng minh cho chúng ta rằng, như thánh nữ Elizabeth, hoàng hậu nước Bồ Đào Nha; thánh Louis, vua nước Pháp. Họ là những vua chúa, hoàng hậu sống trên nhung lụa và đầy quyền lực, vậy mà họ đă nên thánh. Chúng ta cũng không nên cực đoan một chiều hiểu Nước Trời chỉ dành cho những người nghèo khổ để rồi chúng ta trở nên lười biếng, sống măi trong sự bần cùng, nghèo đói, khổ đau. Nhưng Nước Trời và hạnh phúc đích thực như thánh Phaolô đă xác tín chính là kiên vững trong đức tin và sốt sắng trong ḷng mến. Nó hệ tại ở việc lắng nghe Lời Chúa và tuân giữ giới răn của Ngài. Điều này đẵ được lặp đi lặp lại nhiều lần bằng nhiều cách trong các thời đại qua những ngôn sứ, đặc biệt qua Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, Chúa chúng ta. Chúng ta không thể nào an phận trong khó nghèo, chờ đợi được như Ladarô ngồi vào ḷng Abraham để nh́n cảnh cực kỳ nhốn nháo nơi âm phủ. Chúng ta lại càng không thể như anh em nhà phú hộ trong Tin Mừng chờ đợi một phép lạ mới chịu tin và sống giới răn của Chúa. Nhưng phải biết đón nhận và tạ ơn những hồng ân Chúa ban, để ta sống trở nên thánh thiện và công chính hơn.

Thánh thiện chính là tin tưởng vào ḷng yêu thương của Thiên Chúa, là biết quan tâm và quảng đại chia sẻ với người khác một cách vô vị lợi, không tính toán, không đ̣i hỏi, không lợi dụng.

Quả thật, không có cái giàu nào cho bằng cái giàu về t́nh thương và cũng không có cái nghèo nào cho bằng cái nghèo về tấm ḷng. Tuy nhiên, ơn Chúa không phải lúc nào cũng dễ chịu, nhưng đ̣i hỏi chúng ta biết can đảm đón nhận và tạ ơn. Cũng như thánh thiện không phải lúc nào cũng dễ dàng, nhưng chúng ta phải cố gắng kiên tŕ tập luyện và thi hành. V́ đó chính là con đường đưa đến với Chúa và được hạnh phúc không những cho đời sau mà cho cả đời này nữa. C̣n có biết bao nhiêu người như Ladarô nghèo khó xung quanh chúng ta, đang chờ đợi chúng ta yêu thương đón nhận và chia sẻ. Và rồi c̣n có biết bao cái nghèo cơi ḷng mà chúng ta phải tích lũy làm giàu, đó là ḷng yêu thương, ḷng quảng đại, sự nhẫn nại và hiền ḥa.

Xin Chúa cho mỗi người chúng ta trở nên người nghèo của Tin Mừng, để chúng ta khiêm tốn trước t́nh thương của Thiên Chúa và đón nhận ân sủng của Ngài, cho mỗi người chúng ta trở nên giàu có về ḷng nhân ái, để chúng ta quảng đại với hết mọi người.

 
 

14. Thế giới cuả t́nh yêu

“Ngươi đă được sự lành, c̣n Ladarô gặp toàn khốn khổ”

Chương 16 của Tin Mừng Luca được lồng vào giữa hai dụ ngôn mà mọi người nhất là người thừa tiền lắm của phải suy niệm nằm ḷng. Đó là dụ ngôn người quản lư bất lương (1-13) được đọc Chúa nhật tuần trước, và dụ ngôn về Ladarô và người phú hộ (19-31) của Chúa nhật hôm nay.

Hai dụ ngôn đều qui về một ư tưởng: người giàu có sẽ hư mất, sẽ trầm luân đời đời nếu không biết chia sẻ của cải với những người túng thiếu. Chúa Giêsu đem đối chiếu hai nhân vật thật tương phản: một nhà phú hộ chỉ biết tin cậy vào của cải để hưởng thụ, và một người nghèo khổ chỉ biết trông cậy vào Chúa, Ladarô có nghĩa là “Thiên Chúa giúp đỡ”.

Hai người cách xa nhau một trời một vực. Nhà phú hộ, nhà cao cửa rộng, trận vui suốt sáng trận cười suốt đêm. Người hành khất ngồi dưới đất đen. Gần nhau mà xa nhau. Mảnh vụn bánh từ bàn tiệc của nhà phú hộ rơi xuống cũng không đến tay người nghèo. Giữa hai người có một địa ngục, một vực thẳm. Người giàu có thể giơ tay lôi kéo người nghèo lên, nước giàu có thể cứu trợ nước nghèo khỏi phá sản. Có điều, họ có muốn không?

Điều bi đát là nhà phú hộ coi Ladarô như không có. Ông chỉ biết thụ hưởng, sống chết mặc bay.

Nhưng bi đát hơn: một đêm kia sự chết đánh gục cả hai người cùng một lúc. Ladarô được vào dự tiệc trên trời do Abraham chủ lễ, được “ngồi trong ḷng”, nghĩa là bên hữu vị tổ phụ (Ga 13,23). C̣n nhà phú hộ bị tống xuống biển lửa. Miệng ông khô đét không được một giọt nước để làm dịu cơn khát đang giày ṿ, như xưa Ladarô không được một vụn bánh rơi rớt để thoa dịu cơn đói hoành hành.

Hoàn cảnh và thời thế đă thay đổi.

Người giàu bị đuổi ra khỏi bàn tiệc, không phải v́ ông nhiều của, nhưng v́ ông bị của cải đè bẹp trong chiếc ḥm quí giá người ta mang đi chôn. Người nghèo cũng chết nhưng được các Thiên Thần “nâng bổng lên nơi ḷng Abraham”. Thế giới bên kia đă mở, một thế giới không phải của tiền bạc mà của t́nh yêu. Ai có t́nh yêu, yêu Chúa và yêu tha nhân, mới được vào.

Thời gian viên măn. Công tội được cân nhắc và báo đền.

Abraham nói: “Suốt đời con, con được toàn sự lành, c̣n Ladarô gặp toàn khốn khổ”. Một tuyên ngôn nặng nề v́ là một bản án vô phương giải toả.

Người chết đi, nhưng c̣n năm anh em ở lại. Họ cũng sống trong nhung lụa, coi người nghèo như không có trên mặt đất.

Có thể trong một ngày tang lễ, họ cũng đă đổ vài giọt nước mắt, nghe vài lời giảng thuyết: “Hỡi người hăy nhớ người là bụi tro, sẽ hoàn về tro bụi” (Stk 3,19). Nhưng rồi đâu lại vào đấy, Người đi đi măi, kẻ ở vẫn tiếp tục cuộc sống lạc hoan. Phải một phép lạ, một người chết hiện về may ra mới cảnh tỉnh được họ. Nhưng trong thực tế, họ đi “cầu cơ, gọi hồn” v́ ṭ ṃ, nhưng đời sống vẫn không thay đổi một gang một tấc.

Chỉ có Lời Chúa mới cứu văn, nếu họ biết lắng tai nghe.

Lạy Chúa, xin cho ḷng con đầy ưu ái, đầy t́nh thương cảm đối với tha nhân.

 
 

15. Giấy thông hành Nước Trời

Ngày xưa, bên Tàu có một ông vua tự cho ḿnh là người yêu nước thương dân, nhưng lại chẳng bao giờ để ư đến cảnh khổ của dân chúng. Trái lại, ông chỉ biết đến yến tiệc linh đ́nh, trang hoàng cung điện, xây cất dinh thự, sưu tầm những kỳ hoa dị thảo, để mong được nở mày nở mặt với lân quốc.

Một hôm, nhà vua nghe nói ở một ngôi chùa trong nước có một loại hoa hồng quí hiếm, từng bông hoa to đẹp rực rỡ, bao phủ cả một khu vườn. Nhà vua báo tin cho vị sư trụ tŕ là ông sẽ đến thăm để biết thứ hoa hồng quí lạ. Khi được tin báo và được biết giờ vua sẽ đến, vị sư liền cắt tất cả những đóa hồng xinh tươi đổ vào hố rác chỉ để lại một bông duy nhất đang thắm nở.

Vào đến vườn, nhà vua lấy làm lạ v́ thực tế khắc hẳn với tin đồn. Khi biết được sự việc, nhà vua hỏi vị sư tại sao làm như thế. Vị sư từ tốn trả lời:

- Thưa bệ hạ, nếu thần để tất cả các hoa nở rộ trên cành, bệ hạ sẽ không thưởng thức được vẻ đẹp của từng bông hoa. V́ thần biết bệ hạ chỉ có thói quen nh́n đám đông chứ không để ư đến từng cá nhân.

Thiên Chúa của chúng ta không có thói quen chỉ nh́n đám đông, nhưng Người quan tâm đến từng con người. Thiên Chúa yêu thương con người không có tính cách chung chung, nhưng Người chăm sóc cho từng người một. Mỗi một con người là một nhân vị, có nhân phẩm cao quí. Mỗi một con người là một tác phẩm tuyệt vời của Người, với những ơn riêng mà người khác không có được. Mỗi một con người là một bông hồng rực rỡ sắc mầu, thơm ngát hương hoa.

Người phú hộ trong bài Tin Mừng hôm nay sở dĩ phải trầm luân muôn kiếp, v́ ông ta đă không nh́n người nghèo khó Ladarô với cái nh́n ấy. Thậm chí ông cũng chẳng thèm nh́n con người khốn khổ ngày ngày lê lết bên cổng nhà ông.

Người phú hộ phải “chịu cực h́nh” không phải v́ ông nhiều của cải, nhưng v́ ông đă không san sẻ của cải cho người thiếu thốn, ngay cả những của thừa thăi trên bàn tiệc cũng chẳng đến tay người nghèo.

Người phú hộ phải tống xuống biển lửa không phải v́ ông đă làm ra nhiều của cải, nhưng v́ ông đă quá cậy dựa vào tiền của, trong khi người nghèo khó chỉ biết cậy dựa vào Chúa; Ladarô có nghĩa là “Thiên Chúa giúp đỡ”.

Vậy tội của người phú hộ chính là tội làm ngơ, tội phớt lờ, tội không nh́n, không nghe, không thấy những Ladarô đang van xin cứu giúp trong cơn túng quẫn cùng cực. Tội của người phú hộ chính là tội thiếu sót, tội đă không làm những ǵ lẽ ra ḿnh phải làm cho một ai đó đang cần trợ giúp. Bác sĩ Albert Schweitzer, người đă bán hết gia tài kếch xù của ông, xây một bệnh viện và dấn thân cứu giúp những con người cùng khổ nhất Châu Phi đă đặt ra câu hỏi cho chính ḿnh: “Làm sao chúng ta có thể sống hạnh phúc trong khi có biết bao người đang đau khổ?”

Sẽ có một ngày tất cả chúng ta bước vào một thế giới mà giấy thông hành không phải là tiền của nhưng chính là t́nh yêu. Chỉ có những ai yêu mến Thiên Chúa và thương yêu anh em mới được bước vào.

Sẽ có một ngày người phú hộ chẳng c̣n yến tiệc linh đ́nh, chẳng c̣n trận vui tới sáng, trận cười suốt đêm, nhưng sẽ phải đuổi khỏi bàn tiệc và lao xuống hỏa hào muôn kiếp.

Sẽ có một ngày người Ladarô nghèo khó chẳng c̣n lê lết dưới đất đen, không c̣n nhặt những miếng bánh vụn nơi bàn tiệc người phú hộ, nhưng sẽ được nâng lên “trong ḷng Abraham” vui hưởng hạnh phúc muôn đời.

Lời giảng của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II trong chuyến viếng thăm Hoa Kỳ lần đầu tiên ngày 2.10.1979 đáng cho chúng ta suy nghĩ: “Chúng ta không thể thờ ơ vui hưởng của cải và tự do của chúng ta nếu bất cứ ở vùng nào đó, người nghèo khó Ladarô của thế kỷ 20 vẫn c̣n đang đứng chờ chúng ta ngoài cửa… Các bạn đừng bao giờ bằng ḷng với hành vi chỉ cho họ những mẩu bánh vụn nơi bàn tiệc. Các bạn chỉ nên lo lắng cho đủ phần chính yếu của cuộc sống mà thôi chứ đừng t́m cách sống cho sung túc dư dật, để nhờ đó các bạn có thể giúp đỡ những người nghèo khổ. Đồng thời, các bạn hăy đối xử với họ như những thực khách trong gia đ́nh các bạn”.

Lạy Chúa, thánh Tôma Aquinô đă dạy: “Những người giàu có đă đánh cắp của người nghèo khó khi họ tiêu xài phung phí những của cải dư thừa”. Xin cho chúng con biết san sẻ cho nhau, để trái đất này trở nên sung túc và yêu thương, v́ giàu có thật là yêu thương và nghèo nàn thật là ích kỷ.

Xin dạy chúng con bí quyết làm giàu bằng cách chia sẻ cho nhau những của cải Chúa ban. Amen.

 
 

16. Tôi có đọc Kinh Thánh hay không?

Chúng ta có thể tưởng tượng đang chứng kiến cảnh này. Màn thứ nhất: một người giàu có sung sướng vui cười và Ladarô nghèo nàn khốn khổ. Màn thứ hai: người giàu có trở nên rất bất hạnh c̣n người nghèo kia đang ở cùng với các thiên thần. Luca thích loại đảo ngược này, và v́ ghét những người giàu, ông đă mài sắc ng̣i viết và viết bằng một văn phong xúc tích vô cùng:

“Người nghèo chết và được thiên thần mang vào ḷng Abraham. Người giàu cũng chết và người ta chôn ông”.

Chúng ta không dự vào quang cảnh đó, chính chúng ta là những người mà Chúa Giêsu muốn đánh động. Và trước tiên dụ ngôn không nói đến người giàu có “xấu xa”, nhưng đơn giản chỉ là “một người giàu có” và thậm chí sáu người giàu: người giàu quá cố và năm người anh em của ông ta c̣n sống. Trong khi tỏ cho chúng ta thấy họ mù và điếc đến độ nào, Chúa Giêsu cảnh cáo tất cả chúng ta: “Các ngươi đừng chờ đợi cái chết mở mắt cho ḿnh về sự sống”.

Người giàu có không “thấy” Ladarô. Ông đă không đuổi Ladarô xa ngôi nhà đẹp đẽ của ông, điều đó không làm ông rầy rà: ông không “thấy” ǵ cả. Thật là một sự mù ḷa kinh khủng. Một bà già chết v́ bị bỏ mặc, những người láng giềng nói: “Chúng ta đâu có thấy ǵ!”. Không phải tất cả những người sung sướng, tất cả những người giàu có đều có con tim chai đá, nhưng họ không thấy. Nhiều người tỏ ra có t́nh huynh đệ nếu họ thấy rơ hơn sự đau khổ chung quanh họ. Người giàu có muốn chia sẻ, họ sẽ được cứu sống.

Đối với người giàu này, quá trễ rồi. Cuối cùng, ông ta “thấy” Ladarô, ông cũng thấy điều phải trả giá đó là giàu tiền của mà nghèo t́nh thương yêu. Nhưng sự hiểu đời này không c̣n có thể giúp ǵ cho ông được nữa cả. Luca mô tả hết sức tỉ mỉ sự vĩnh cửu kinh sợ của kẻ đă từng “hạnh phúc” trước đây: Ông sẽ không bao giờ có thể vượt qua “vực thẳm lớn lao” được.

V́ không hoàn toàn xấu xa và rất gắn bó với gia đ́nh, cho nên ông muốn cảnh báo cho các anh em của ông.

- “Lạy tổ phụ Abraham,… xin sai anh đến cảnh cáo họ, kẻo họ lại cũng sa vào chốn cực h́nh này!”, ông nói với Abraham như thế.

Abraham nói: “Chúng đă có Mô-sê và các Ngôn Sứ, th́ chúng cứ nghe lời các vị đó”.

Người giàu có có tính hoài nghi. Ông đă có Lời Chúa, thế mà …. Cần phải khua chiêng gióng trống nhiều hơn nữa để làm cho người ta ăn năn thống hối.

- Không, Abraham nói, để ăn năn thống hối, không có ǵ mạnh mẽ hơn Lời Chúa.

Đó là điều mà Chúa Giêsu muốn nói với chúng ta:

Bài học của các dụ ngôn thường là nằm ở kết cục; nơi mà các nhà chú giải gọi là “mũi nhọn”. Ở đây, chính tầm quan trọng được gán cho Lời Chúa. Chúa Giêsu nói qua Abraham: “Chúng đă có Mô-sê và các Ngôn Sứ”.

Thậm chí tôi có thể dễ dàng vượt lên trên ích kỷ, tôi vẫn cảm thấy rơ ràng tôi cũng không thấy những người anh em của tôi và tôi điếc, không nhất quyết đi theo Chúa Giêsu. Đối với tôi dường như nếu có điều ǵ khác thường làm cho tôi xáo trộn, một sự mặc khải, một cuộc hiện ra chẳng hạn…

- Không, Chúa Giêsu nói, không có ǵ khác thường hơn là Lời Chúa. Các ngươi đă có Mô-sê và các Ngôn Sứ.

Tôi phải để cho ḿnh bị thương thật sâu do mũi tên này. Tôi có Kinh Thánh nhưng Kinh Thánh có được lật từng trang, được đọc một cách không mệt mỏi hay chăng? Chúng ta có Lời Chúa tại sao chúng ta c̣n t́m kiếm điều ǵ khác nữa?

 
 

17. Sống trong thế giới trái ngược

Đó là một ngày tháng bảy. Một người đàn ông ngồi ở bàn giấy trong một pḥng có máy điều ḥa. Nhiệt độ trong pḥng ở 23 độ, một nhiệt độ thích hợp. Ông ta cảm thấy đầy nghị lực. Từ cửa sổ ông nh́n thấy mặt trời đang chiếu sáng rực rỡ ở bên ngoài và thỉnh thoảng một cơn gió nhẹ lay động các ngọn cây. Đó là một ngày rất đẹp!

Ông ta nh́n một cậu thiếu niên đang làm việc trong sân. Căn cứ vào những động tác chậm chạp của cậu, người ta phải nghĩ rằng cậu là một tù nhân làm việc khổ sai. Cậu nghỉ ngơi thường xuyên. “Cậu ta có vấn đề ǵ? Làm sao mà một người trẻ tuổi lại lười biếng như thế?”. Người đàn ông tự hỏi.

Nhưng gần đến trưa, người đàn ông đi ra ngoài để làm một vài công việc. Ngay khi ông bước ra khỏi pḥng, ông đụng phải hơi nóng như những làn sóng cản đường. Nhiệt độ bên ngoài là 34 độ và độ ẩm của không khí khá cao. Bấy giờ ông mới biết cậu bé đă chống chọi với cái ǵ. Và trong một ngày oi bức như thế này, ông ngạc nhiên v́ cậu bé chưa bị ngất xỉu.

Mặc dù thế giới của ông được ngăn cách với thế giới của cậu bé chỉ bằng bề dày của một bức tường, hai thế giới ấy khác nhau nhiều lắm. Tuy nhiên nếu ông không rời khỏi thế giới của ông để bước vào thế giới của cậu bé, hẳn ông sẽ không bao giờ hiểu được sự khác nhau đó.

Chúng ta có thể cách người khác chỉ một tầm tay, nhưng sống trong một thế giới khác với người ấy. Tuy nhiên, chúng ta sẽ không bao giờ hiểu được sự khác nhau ấy trừ khi chúng ta rời bỏ thế giới của chúng ta và bước vào thế giới của người đó. Chúng ta không bao giờ hiểu được điều đó từ bên ngoài.

Ông nhà giàu (phú hộ) và Ladarô đă sống trong những thế giới trái ngược, dù rằng những thế giới này nằm bên cạnh nhau. Nhưng ông nhà giàu chưa lần nào bước vào thế giới của người nghèo. Ông không nh́n thấy Ladarô như một con người, càng không phải là người anh em mà ông có thể chia sẻ nhân tính chung. Ông lănh đạm, thờ ơ với Ladarô, và lănh đạm là một thói xấu lớn.

Làm sao có thể như thế được? Của cải làm cho một người chỉ nghĩ đến ḿnh. Chúng làm cho người ấy mù ḷa trước những nhu cầu của những người khác và làm cho tâm hồn người ấy chai cứng. Đó là một bi kịch thật sự. Một cá nhân hoặc một quốc gia đánh mất tâm hồn ḿnh khi cứ mải lo tích lũy những của cải lớn hơn.

Người giàu có không làm điều ǵ sai. Ông không làm tổn thương hoặc bóc lột người nghèo. Tuy nhiên, sau cùng “ông ta phải chịu cực h́nh trong âm phủ”. Ông ta bị lên án không phải v́ ông ta giàu có mà v́ ông không bày tỏ ḷng thương xót người nghèo. Ông sống chỉ v́ bản thân ḿnh.

Tội lỗi không chỉ v́ làm điều sai trái, mà c̣n là không làm điều tốt –tội không hoạt động, không làm ǵ và tệ hơn nữa là sự thờ ơ. Đây là một dụ ngôn làm xúc động. Không có cái kết thúc của một câu chuyện thần tiên– ít nhất là đối với ông phú hộ và ông này là nhân vật trung tâm của câu chuyện.

Xin Chúa, Đấng đă bước vào thế giới chúng ta một cách trọn vẹn, giúp chúng ta bước vào thế giới của những người đau khổ và thiếu thốn. Rồi khi đă có kinh nghiệm về đời sống của họ như thế nào, chúng ta chắc chắn sẽ được động viên để làm điều ǵ chúng ta có thể làm để giúp đỡ họ.

Là những người cần đến ḷng thương xót và nhân từ của Thiên Chúa, những người cầu nguyện với đôi bàn tay mở ra như những cái bát của người ăn mày, chúng ta đến lượt ḿnh phải cố gắng sống nhân từ, quảng đại và thương xót những người khác, bởi v́ mức độ chúng ta cho sẽ trở thành mức độ mà chúng ta nhận.

 
 

18. Tiền bạc

Vào thời Chúa Giêsu, hẳn rằng tiền bạc chưa chiếm được địa vị ưu tiên, địa vị số một như ngày nay, bởi v́ người ta c̣n sống gần gũi với thiên nhiên. Trong khi đó, ngày nay chúng ta không thể đi một bước mà không cần đến tiền bạc, thế mà lập trường của Chúa Giêsu về vấn đề tiền bạc lại thật là dứt khoát:

- Các con không thể làm tôi hai chủ, v́ nếu mến chủ này th́ sẽ ghét chủ kia. Cũng vậy, các con không thể vừa làm tôi Thiên Chúa lại vừa làm tôi tiền của được.

Như vậy, không thể nào có được sự thỏa hiệp, sự đi nước đôi và đội trời chung giữa Thiên Chúa và tiền bạc. Do đó, phải chọn lựa. Mà chọn lựa th́ vữa có nghĩa là chấp nhận, lại vừa có nghĩa là từ bỏ.

Đúng thế, nếu muốn làm đẹp ḷng Thiên Chúa, th́ chúng ta không thể nào làm tôi tớ cho tiền bạc, không thể nào qú gối thờ lạy tượng con ḅ vàng. Hơn bao giờ hết, ngày nay con ḅ vàng, biểu tượng của tiền bạc, đang hướng dẫn và lũng đoạn thế giới. Và số người thần phục nó thật là đông đảo. Để kiếm được tiền bạc, người ta sẵn sàng làm mọi sự, dám bán đi cả thân xác lẫn linh hồn, dám hy sinh cả danh dự lẫn thời giờ quí giá của ḿnh.

Sự chọn lựa căn bản này sẽ xác định hướng đi cho cuộc đời và sẽ đem lại những hậu quả thật trái ngược. Thực vậy, nếu tin tưởng và phụng thờ Thiên Chúa, chúng ta sẽ được b́nh an và hạnh phúc. C̣n nếu chạy theo tiền bạc và thế gian, chúng ta sẽ chỉ thấy được những gian tham và tội ác.

Đúng thế, Thiên Chúa của chúng ta không phải là một ông vua tàn bạo, một ông chủ hà khắc, nhưng là một người cha giàu ḷng nhân ái, luôn yêu thương và chăm sóc chúng ta. Để giúp chúng ta hiểu được điều đó, Chúa Giêsu đă đưa ra hai h́nh ảnh, h́nh ảnh chim trời và h́nh ảnh cánh hoa đồng nội. Và rồi Ngài đă kết luận:

- Các con c̣n quí giá hơn gấp ngàn vạn lần những cánh chim trời và những bông hoa đồng nội.

Dân ngoại thường lo lắng nhiều về vấn đề cơm áo gạo tiền, c̣n chúng ta, những người con cái Thiên Chúa, chúng ta vừa phải làm việc, nhưng lại vừa phải tin tưởng vào Ngài. Với niềm tin tưởng ấy, chúng ta chắc chắn sẽ t́m thấy sự b́nh an và hạnh phúc.

Thế nhưng, chúng ta có thể nêu lên một vài thắtc mắc. Thắc mắc thứ nhất: Đây có phải là một sự tin tưởng mù quáng, làm tê liệt mọi hoạt động của chúng ta hay không? Chắc chắn là không, bởi v́ Chúa Giêsu không bao giờ cho phép chúng ta lười biếng với thái độ ngồi chờ sung rụng. Hơn thế nữa, làm việc c̣n là một bổn phận của con người, như lời thánh Phaolô đă nói:

- Ai không làm th́ không đáng ăn.

Thắc mắc thứ hai: qua bài giảng trên núi về tám mối phúc thật, cũng như qua nhiều lần trong Phúc âm, Chúa Giêsu đă có một thái độ khinh chê tiền bạc. Điều này chỉ c̣ thể được thực hiện nơi các bậc tu tŕ, chứ c̣n chúng ta, sống giữa ḷng cuộc đời, làm sao chúng ta lại không cần đến tiền bạc? Không có tiền, làm sao chúng ta có được những phương tiện để sinh sống? Ấy là chưa nói tới những hậu quả thảm khốc do sự nghèo túng gây nên, như những bệnh tật phần xác và những tội ác phần hồn, v́ bần cùng sinh đạo tặc,

Điều băn khoăn này thật hợp t́nh và hớp lư. Tuy nhiên, chúng ta nên nhớ: tiền bạc là một tên đầy tớ tốt, nhưng lại lài một ông chủ hà khắc, giết chết mọi t́nh cảm tốt đẹp của chúng ta đối với Thiên Chúa cũng như đối với tha nhân.

Ông phú hộ qua đoạn Tin mừng hôm nay bị kết án hỏa ngục, không phải v́ ông ta giàu có, những v́ trái tim ông ta đă trở nên băng giá và chai đá, đă khép lại trước nỗi đau khổ của Ladarô nghèo túng.

Hơn thế nữa, kiếm sống bằng những nghề nghiệp và những cách thức chính đáng là điều tốt. Chính Giáo hội đă đưa ra cho chúng ta mẫu gương của Chúa Giêsu. Ngài cũng đă từng lao động vất vả.

Đồng thời, Giáo hội luôn bênh vực quyền lợi của giới lao động và chống lại những chèn ép và bóc lột của giới chủ nhân. Giáo hội như muốn nhắn nhủ chúng ta rằng:

- Hăy lao động, hăy kiếm tiền để làm cho cuộc sống này được tươi đẹp hơn, nhưng đồng thời phải dứt khoát gạt bỏ những bất công. Đừng bao giờ trở thành nô lệ cho tiền bạc. Hăy làm việc và hăy tin tưởng vào Thiên Chúa.

Chúng ta hăy nhớ lại lời Chúa Giêsu đă phán:

- Hăy t́m kiếm nước Thiên Chúa, rồi những sự khác sẽ được ban cho cac con sau.

  
 

19. Giàu có

Lời Chúa hôm nay mời gọi mỗi người chúng ta hăy xét ḿnh về thái độ sống đối với anh chị em xung quanh, nhất là trên b́nh diện sử dụng nguồn vốn Thiên Chúa ban cho.

Bài đọc I trích từ sách tiên tri Amos: “Khốn cho các ngươi là những kẻ phú quí tại Sion và tự kiêu trên núi Samaria”. Những lời này tự cảnh tỉnh mỗi người trong chúng ta có thái độ tự kiêu, ỷ lại vào của cải mà không nghĩ ǵ đến những anh chị em đang cần sự chia sẻ và t́nh liên đới của chúng ta.

Thử hỏi hiện có bao nhiêu người trong xă hội này hằng ngày đang lo lắng? Nhưng trớ trêu thay, không phải lo lắng v́ thiếu thốn nhưng lại lo lắng không biết phải ăn uống làm sao? Lo lắng không phải v́ thiếu mặc, nhưng lo lắng phải mặc những kiểu áo nào cho hợp thời trang, v́ có quá nhiều của cải dư thừa, không biết phải làm ǵ cho hết. Trong khi đó th́ hằng ngày bên cạnh ta, trước mắt ta, bên tai ta, ta có thể thấy, có thể nghe không biết bao nhiêu thảm cảnh của những anh chị em đang phải chết đói, đang cần của ăn áo mặc cho cuộc sống.

Trước viễn cảnh đau ḷng như vậy, có thể nào chúng ta im lặng, lăng quên được hay không? Mỗi người trong lănh vực của ḿnh và nhất là những anh chị em có trách nhiệm trong xă hội, trong môi trường sinh sống đều có bổn phận nghiên cứu để thăng tiến mức sống của những anh chị em khác. Những anh chị em nào có trách nhiệm nhiều th́ sẽ không thể nào ngủ yên khi chỉ lo t́m tư lợi cho ḿnh như người giàu có trong bài Phúc âm hôm nay. Ông vui sống an nhàn trong ngôi nhà sang trọng của ḿnh mà quên đi hay không thèm biết đến nỗi thống khổ và sự cần được trợ giúp của anh người nghèo Ladarô ngay trước cổng nhà ḿnh. Ông đă không thực thi t́nh liên đới bác ái chia sẻ và ông chỉ cảm thấy lời này khi qua đời. Lúc đó ông hiểu hơn: “Được lời lăi cả thế gian mà thiệt mất linh hồn nào được ích ǵ, người ta lấy ǵ mà đổi được linh hồn ḿnh”.

Một nhà tỷ phú trước khi chết đă phải thốt lên: “Nếu tôi có thể đổi hết phần gia tài tôi có để thêm vài phút sống nữa trên trần gian này th́ tôi sẵn sàng đổi”. Vài phút trên trần gian này có là bao so với sự sống đời đời. Vấn đề là chúng ta tin Chúa và tin vào sự sống đời đời hay không mà thôi.

Đối với những tín hữu b́nh thường là như vậy, rồi c̣n đối với những ai có trách nhiệm tôn danh Chúa lại c̣n phải đ̣i hỏi nhiều hơn nữa. Chúng ta được lưu ư điểm này nơi bài đọc II, lời của thánh Phaolô cảnh tỉnh người đồ đệ Timôthêô như sau: “Phần con, hỡi người của Thiên Chúa, hăy tránh xa những điều đó, hăy cố gắng trở nên người công chính đạo đức, giàu ḷng tin và ḷng mến. Hăy sống nhẫn nại và hiền lành. Con hăy thi đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp, v́ đức tin dành cho được sự sống đời đời. Chính v́ sự sống này mà con đă được Thiên Chúa kêu gọi và con đă nói lên lời tuyên xưng trước mặt nhiều nhân chứng.

Thực hiện được những điều này đ̣i buộc người tông đồ của Chúa không những phải biết sống bác ái, chia sẻ t́nh liên đới, không ham của cải giàu sang mà c̣n phải biết chăm lo cho ơn cứu rỗi, cho sự sống đời đời của những ai được trao phó cho ḿnh chăm sóc: “Hăy cố đạt lấy sự sống đời đời mà con đă được kêu gọi, và v́ đó con đă mạnh dạn tuyên xưng đức tin trước mặt nhiều nhân chứng”. Lời rao giảng của người đồ đệ Chúa cần phải đi đôi với việc làm, với đời sống đức tin, đức cậy và đức mến.

 
 

20. Dại dột

Bài Tin Mừng Chúa Giêsu đưa ra hai cảnh đối nghịch nhau một cách chát chúa, đó là số phận của nhà hộ phú và của người nghèo khổ Ladarô, ở đời này và đời sau. Ở đời này, người phú hộ ăn sung mặc sướng, lụa là gấm vóc, yến tiệc linh đ́nh mỗi ngày, sống trụy lạc và danh vọng, c̣n người nghèo khổ Ladarô th́ không ai đoái hoài, một người hành khất khốn cùng và bất lực, hằng ngày ngồi chầu chực trước cổng nhà người giàu có kia, hy vọng kiếm được chút ǵ để độ thân cho qua ngày.

Hai nhân vật này không phải ở hai chân trời xa cách nhau, nhưng ở kề bên nhau: người nghèo nằm ngay trước cổng nhà người giàu. Ở kề bên nhau nhưng không có quan hệ với nhau. Cuộc sống cứ kéo dài như thế cho đến khi người nghèo chết và người giàu cũng chết. Người nghèo chết, không thấy nói có ai chôn, chỉ có thiên thần đến đưa người ấy vào thiên đàng. C̣n người giàu chết th́ được chôn cất đàng hoàng. Chắc chắn đám tang của ông ta lớn lắm, có nhiều người đi đưa, có nhiều ṿng hoa, ṿng cườm, chắc cũng có nhiều người khóc nữa, nhưng không thấy nói có thiên thần đến đón ông ta. Như vậy, số phận của hai người đă đảo ngược: Ladarô được thưởng sung sướng, hạnh phúc. C̣n nhà phú hộ bị phạt khổ cực, bất hạnh.

Qua dụ ngôn này, Chúa Giêsu muốn dạy hai điều: thứ nhất, giàu có không phải là một tội và nghèo khổ cũng chưa hẳn là có phúc, nếu người ta không có tinh thần nghèo khó thực sự. Thứ hai: mối quan hệ giữa cách chúng ta sử dụng tiền của đời này và hạnh phúc vĩnh cửu đời sau.

Trước hết, giàu cócó phải là một tội trọng không và nghèo khó có phải là có phúc không? Chúng ta thấy dụ ngôn không đề cập tới một tội rơ rệt nào của nhà phú hộ, thế mà ông ta đă sa hỏa ngục, điều đó làm cho chúng ta có cảm tưởng nguyên việc giàu có đă là một tội. Không, giàu có tự nó không xấu cũng không phải là một tội, nếu không ai mà dám làm giàu nữa. Nhưng nếu những người giàu có coi tiền của, thay v́ là đầy tớ đă trở nên ông chủ, thay v́ là thụ tạo đă trở nên thần tượng, thay v́ là phương tiện đă trở nên mục đích. Hoặc những người giàu có chỉ biết ăn chơi phung phí mà không một chút động ḷng trắc ẩn trước những người nghèo khổ xung quanh ḿnh. Hoặc những người giàu coi tiền bạc là trên hết, hơn cả t́nh nghĩa. Những người giàu như thế th́ tiền của có thể chỉ đem lại cho họ đầy đủ, sung sướng ở đời này mà không ích ǵ cho họ ở đời sau. Hơn nữa, lại là một ngăn trở làm cho họ khó vào nước trời hay không vào được nước trời. Đó là trường hợp của nhà phú hộ trong dụ ngôn. Ông ta bị phạt, không phải v́ ông ta là phú hộ, nhưng v́ ông ta đă không phú hộ cho nên. Mặc dầu chúng ta có thể nghi ngờ về nguồn gốc tài sản của ông ta. Nhưng tội của ông ta không phải chỉ ở cách làm giàu bất chính, cũng không phải v́ ông ta là người giàu, nhưng v́ ông ta đă sử dụng tiền của một cách xa xỉ, ích kỷ, không biết chia sẻ, thương giúp người hành khất đói rách, nghèo khổ.

Ngược lại, nghèo khổ có phải là có phúc không? Có, chắc chắn có và cũng có thể là không. Thực vậy, nghèo khổ, nhất là nghèo đến cùng cực, có thể trở thành mối tội đầu thứ tám, thêm vào số bảy mối tội đầu đă có. Bởi v́ nghèo túng quá có thể làm cho người ta mắc nhiều tật xấu và tội ác: nghèo đưa đến tham nhũng, trộm cắp, láo xược và ngang tàng; nghèo làm cho người ta ghen tuông, bất măn, xa cách Chúa, coi nhẹ linh hồn ḿnh… Như vậy, nghèo đâu có phải là phúc. Rồi có biết bao người, bên ngoài nghèo nàn, túng thiếu, nhưng trong ḷng họ mơ ước, tham lam đủ thứ. Những người như thế chưa chắc đời sau sẽ được hạnh phúc. Do đó, không phải nguyên t́nh trạng nghèo khổ đă là công phúc, mà cần phải cóp tinh thần, có tâm hồn nghèo khó và biết chấp nhận t́nh trạng đó nữa. Như chúng ta thấy: công phúc của người hành khất Ladarô nghèo khổ, hệ tại ông ta biết chấp nhận cảnh nghèo khổ, bệnh tật, tuân theo thánh ư Chúa. Dĩ nhiên, sự chấp nhận này không ngăn trở người nghèo khổ cố gắng hành động phải lẽ, làm việc chính đáng đề thoát khỏi cảnh nghèo và bệnh tật.

Đàng khác, dụ ngôn c̣n nhằm nói lên mối quan hệ giữa cách chúng ta sử dụng tiền của với hạnh phúc vĩnh cửu. Tiền của vật chất Chúa ban cho chúng ta hưởng dùng để xây dựng, thăng tiến cuộc sống của ḿnh, đồng thời phát triển t́nh người, xây dựng yêu thươnggiữa người với người. Ai biết sử dụng như thế không những được ấm no hạnh phúc ở đời này mà c̣n bảo đảm cho cuộc sống hạnh phúc vĩnh cửu mai sau nữa trên nước trời.

Ngược lại, ai khư khư hưởng dùng một ḿnh, không bao giờ muốn giúp đỡ hay chia sẻ cho người khác, nhất là những người nghèo khổ, dù là một chút thôi, th́ sẽ bị Thiên Chúa xét đoán nghiêm ngặt. Bởi vậy, nếu ông phú hộ biết đem tiền của chia sẻ cho ông Ladarô, th́ ông đă sắm cho ḿnh kho tàng trên trời, và khi chết ông sẽ được thiên thần rước vào thiên đàng. Nhưng ông đă không hành động như vậy, nên ông đă mất tất cả và bị phạt muôn đời.

Lời Chúa hôm nay nhắc nhở chúng ta hai diều: thứ nhất, Chúa dạy chúng ta hăy sống theo đạo trung dung của trời. Chúng ta giàu có ư? Chúa bảo chúng ta: đừng coi tiền của trọng hơn nhân nghĩa. Nếu chúng ta nghèo khổ ư? Chúa bảo chúng ta: đừng lo lắng quá mà dùng những phương thế bất chính để có tiền của và cũng đừng buồn chán, v́ chúng ta đang ở trong một tư thế thuận lợi để vào nước trời. Thứ hai, Chúa dạy chúng ta: chỉ có một mục đích cho việc sử dụng tiền của vật chất, đó là sử dụng để đạt tới sự sống vĩnh cửu; và chỉ có một cách sử dụng đúng là sử dụng để đem lại hữu ích cho ḿnh và cho người khác. V́ thế, dụ ngôn hôm nay mời gọi mỗi người chúng ta hăy xét lại cách ḿnh sử dụng tiền của và cách ḿnh đóng góp tiền của trong việc phụng sự Thiên Chúa và phục vụ tha nhân.

  

 

21. Suy niệm của Lm. Phạm Thanh Liêm

ĐỜI SỐNG MỚI SAU CÁI CHẾT ĐƯỢC H̀NH THÀNH TỪ BÂY GIỜ

Nhiều người chê Ki-tô hữu là dại, v́ các Ki-tô hữu không tận hưởng những lạc thú trên đời, lại c̣n chuốc vất vả vào thân khi lao vào giúp đỡ người khác. Những người này nghĩ vậy, v́ họ chỉ biết đến họ, và không động ḷng trước nỗi khổ của bao anh em nghèo đói sống bên họ. Thế nhưng, chết đâu phải là hết. Và những người chỉ biết sống cho ḿnh, chỉ biết sống như thể chỉ có đời sống này, lại trở thành người dại sau khi chết.

Ai cũng phải chết

Không phải ai cũng giầu, cũng đẹp, cũng có địa vị. Nhưng có một điều rất công bằng cho mọi người: ai cũng phải chết. Cái chết làm người ta b́nh đẳng: chẳng ai mang theo ǵ với ḿnh ngoại trừ chính con người của ḿnh: không tiền bạc, không người thân, không quyền lực, không sắc đẹp, không kiến thức. Sinh ra trần trụi, chết cũng trần trụi.

Cái chết làm con người trở lại với con người thực của ḿnh. Cái chết giúp người ta nhận ra sự thật, và cố gắng sống cho ra người trong đời hiện tại. Trong nhăn quan này, cái chết không chỉ là mối họa, nhưng c̣n là một hồng ân cho những ai đang sống, v́ qua nó, con người nhận ra đâu là quê hương thật của ḿnh, đâu là điểm mà mỗi người sẽ đến. Chỉ lo đi bắt bướm t́m hoa trên đường, mà không lo hoàn tất nhiệm vụ của ḿnh, th́ quả là người dại biết bao.

Cái chết làm người ta đi vào vĩnh cửu

Thời gian thật là quư. V́ người ta có thể xây dựng và hoàn thành con người của ḿnh một cách tuyệt vời. Con người ḿnh như thế nào, tuỳ ḿnh khi sống trên đời này. Khi chết rồi, ḿnh không c̣n thay đổi được nữa. Thời gian trên trần thế, là thời gian của mỗi người, thuộc về mỗi người, mỗi người được quyền định đoạt và h́nh thành con người ḿnh theo như ḿnh muốn. Với tự do Chúa ban, không ai h́nh thành đời ḿnh, nếu không phải chính ḿnh. Chỉ cần một giây thôi, cũng đủ làm cho người ta ra khác, được sống hạnh phúc vĩnh cửu hay không. Một giây thôi, quư như thế nào.

Cũng khó mà diễn tả tại sao cái chết lại làm người ta thành vĩnh cửu. Theo nhăn quan của thánh Ynhă Loyola, ma quỷ và những người ở dưới hoả ngục vẫn luôn chống đối và nguyền rủa Thiên Chúa. Thái độ người ta chọn lúc chết, là thái độ vĩnh hằng của người đó. Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy như thể người giầu vẫn thương anh em của ông ta c̣n đang sống, nên đề nghị Abraham cho người về. Chúng ta biết rằng, bởi v́ đây là dụ ngôn, nên không phải tất cả đều có ư nghĩa và phải được giải thích. Dụ ngôn trong bài Tin Mừng hôm nay dạy con người hăy sống sao, để khi chết được hạnh phúc vĩnh cửu. Mỗi người phải chọn lựa ngay trong đời sống của ḿnh, với những lời dạy dỗ của những người được sai tới với họ. Họ không cần phải chờ người chết hiện về, hoặc thiên thần tới nói với họ. Như vậy, những người sống với chúng ta, những người nói Lời Chúa cho chúng ta rất quan trọng. Không ai thay thế họ cho chúng ta. Đừng đ̣i người chết hiện về để nói.

Hôm nay là ngày hồng phúc, hôm nay là ngày cứu độ

Hôm nay, với những điều kiện tôi có và hoàn cảnh cùng những người xung quanh tôi, tôi phải sống cho ra người, h́nh thành con người của tôi. Người nghèo ăn xin, không có ǵ, vẫn có thể h́nh thành con người của anh ta cách trọn vẹn. Những người làm vệ sinh đường phố, những người quét rác ngoài đường, những giám đốc xí nghiệp lớn, hay những bác sĩ kỹ sư, đều ngang nhau trong việc h́nh thành đời ḿnh. Nếu một bác sĩ không tận tâm cứu giúp bệnh nhân, là bác sĩ dở. Bác sĩ đó cũng tương tự như người giầu không có ḷng thương với người nghèo ăn xin Ladarô. Nếu một công nhân quét đường mà không làm tṛn bổn phận của ḿnh, th́ cũng dở như một giám đốc xí nghiệp không cố gắng để xí nghiệp được trao cho ḿnh phát triển. “Không có nghề dở, chỉ có người dở”. Trước mặt Chúa, bác sĩ và công nhân vệ sinh trong bệnh viện đều ngang nhau. Và ngay cả trước mặt con người, một người làm phu vệ sinh nhưng thương yêu và giáo dục con nên người, th́ tốt hơn một bác sĩ hay kỹ sư giầu có mà không dành giờ để thương yêu và giáo dục con cái họ. Chính trong việc làm, và trong việc giáo dục con cái, h́nh thành nhân cách và bản lănh mỗi người, cũng như h́nh thành con người vĩnh cửu của ḿnh trong đời sống mai hậu.

Tài nguyên của cải, là của Cha trên trời cho tất cả mọi người. Không ai được lợi dụng tài năng của ḿnh để bóc lột người khác. Tài nguyên, là để cho tất cả mọi người; và tài năng là để phục vụ mọi người. Một giám đốc đi xe hơi giầu sang, không chắc đă tốt bằng người công nhân xúc đất bên đường. Tốt hay không, tuỳ thuộc mỗi người dùng tài năng Chúa ban cho ḿnh, để phục vụ mọi người hay không. Nếu Chúa ban cho họ 5 nén, họ phải làm lời 5 nén. Nếu Chúa chỉ ban cho tôi một nén, Ngài chỉ đ̣i tôi làm lời 1 nén. Đừng đem chôn nén bạc tài năng Ngài kư thác. Nếu không có người phu quét đường và những người trồng và săn sóc cây trong công viên, cuộc đời đă không đẹp như đang là. Những công nhân làm sạch đường phố, không chỉ làm đẹp phố phường, nhưng làm đẹp cả đời tôi, và làm tôi hạnh phúc. Họ có thể là những người tuyệt đẹp ở đời sống mai hậu.

Câu hỏi gợi ư chia sẻ:

1. Theo bạn, Thiên Chúa có công bằng khi để mỗi người đều phải chết không? Tại sao?

2. Người giầu và người nghèo, ai dễ hạnh phúc hơn? Tại sao?

3. Có ai h́nh thành đời bạn giúp bạn không? Bạn h́nh thành đời bạn mỗi ngày thế nào?

 
 

22. Suy niệm của JKN

Câu hỏi gợi ư:

1. Người giàu có trong bài Tin Mừng hôm nay có phạm một tội ác nào không? Ông phải chịu h́nh phạt nơi âm phủ v́ lư do ǵ? Đó có phải là một tội không?

2. Làm ngơ hay lănh đạm trước những đau khổ, cùng quẫn, cảnh áp bức mà người thân ḿnh đang phải gánh chịu một cách bất công mà không ra tay can thiệp khi có thể, có phải là tội lỗi không? Đó có phải là thiếu t́nh yêu? Và như thế, có thể vào được Nước Trời là nơi chỉ dành cho những người biết yêu thương thật sự không?

Suy tư gợi ư:

1. Chúng ta chỉ là những người quản lư những ǵ chúng ta có

Tất cả những ǵ chúng ta đang có trong tay, dù là vật chất hay tinh thần (đức độ, tài năng, chức quyền, địa vị, hay của cải, tiền bạc, v.v…) cũng đều do Thiên Chúa ban. Ngài muốn chúng ta tạm thời quản lư để làm những việc ích lợi cho Thiên Chúa và tha nhân, tức làm lợi cho Nước Trời. Chúng không phải là của ta, v́ nếu chúng thật sự là của ta, th́ chúng cũng phải theo ta về đời sau. Nhưng trong thực tế, khi ĺa cuộc đời, ta phải để lại tất cả cho người khác. Do đó, xét cho cùng, chúng ta chỉ là những người quản lư tạm thời những ǵ chúng ta đang có, và phải sử dụng chúng theo ư muốn của người chủ đích thực của chúng là Thiên Chúa. Và chúng ta sẽ phải trả lẽ trước mặt Thiên Chúa về cách chúng ta quản lư chúng. Người quản lư nào không sử dụng của cải tiền bạc của chủ đúng theo ư chủ, nghĩa là không làm lợi cho chủ mà chỉ làm lợi cho ḿnh, sẽ bị đuổi việc hoặc phải chịu trách nhiệm về cách quản lư sai trái ấy.

Trong dụ ngôn bài Tin Mừng hôm nay, người phú hộ bị h́nh phạt dưới âm phủ, chịu lửa thiêu đốt và khát cháy cổ, không phải v́ phạm một tội ác nào, mà chỉ v́ sử dụng của cải Thiên Chúa ban để ích lợi cho một ḿnh ḿnh. Ông ta “mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đ́nh”, bỏ mặc người nghèo ở ngay trước cổng nhà ḿnh “sống chết mặc bay!”, phải chịu “mụn nhọt đầy ḿnh”, “mấy con chó cứ đến liếm ghẻ chốc anh ta”, “thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rớt xuống mà ăn cho no” mà không hẳn được ai cho. Người phú hộ ấy – cũng như biết bao người giàu có khác – nghĩ rằng những ǵ ḿnh đang có trong tay là của ḿnh, ḿnh muốn sử dụng hay hưởng thụ thế nào, cho ai hay không cho ai là tùy ư ḿnh. Ông ta nghĩ rằng ông hoàn toàn vô tội khi không làm thiệt hại ǵ ai. Đối với những người nghèo khổ đến với ông, ông nghĩ ông có quyền không cho, và làm như thế ông không có lỗi ǵ với họ cả: ông có làm ǵ khiến họ bị thiệt hại đâu!

Nhưng việc ông phải chịu phạt dưới âm phủ chứng tỏ cách suy nghĩ như thế là hoàn toàn sai lầm. Tuy dù ông không có hành động tích cực hay cụ thể nào gây bất công cho ai, nhưng việc chỉ dùng của cải Thiên Chúa ban để hưởng thụ một ḿnh ḿnh, hay một ḿnh gia đ́nh ḿnh, đồng thời làm ngơ hoặc không đếm xỉa ǵ đến những đau khổ của những người nghèo túng, bị áp bức chung quanh ḿnh, th́ ông đă phạm một tội rất nặng rồi. V́ tiền bạc của cải ông có, thật ra đâu phải là của ông khiến ông có toàn quyền sử dụng theo ư ḿnh. Ông chỉ là người quản lư, và ông phải quản lư làm sao để chứng tỏ ông có t́nh thương, để làm lợi cho Nước Trời, là thứ xă hội lư tưởng trong đó mọi người luôn yêu thương nhau. Có thế ông mới xứng đáng được hưởng hạnh phúc trong Nước Trời, vốn chỉ dành cho những con người có t́nh yêu thương thật sự. Theo bài Tin Mừng về ngày phán xét cuối cùng (Mt 25,31-46), rất nhiều người chẳng phạm một tội ác nào tích cực, thế mà chẳng thể vào được Nước Trời chỉ v́, như Chúa nói, “xưa Ta đói, các ngươi đă không cho ăn; Ta khát, các ngươi đă không cho uống; là khách lạ, các ngươi đă không tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đă không cho mặc; Ta đau yếu và ngồi tù, các ngươi đă chẳng thăm viếng” (Mt 25,42-43).

2. Của cải vật chất trên nguyên tắc là để mọi người hưởng dùng

Thiên Chúa tạo dựng nên của cải vật chất trên thế gian là cho tất cả mọi người hưởng dùng. Nhưng v́ các cơ chế xă hội c̣n bất toàn, nên sự phân phối của cải chưa hợp lư, khiến cho xă hội c̣n nhiều bất công: “kẻ ăn không hết, người lần chẳng ra”. Do đó, để sửa chữa hay giảm bớt bất công trong xă hội, những ai được cơ chế xă hội ưu đăi khiến ḿnh giàu có hơn người, dù là giàu có một cách rất hợp pháp, phải biết chia sẻ cho những người nghèo khổ hơn ḿnh, nhất là những người gặp cảnh cùng quẫn. Đó là nghĩa vụ mà lương tâm tự nhiên của con người đ̣i hỏi, không cần phải nại đến luân lư Ki-tô giáo. Cổ nhân ta có những câu như “Lá lành đùm lá rách”, “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”, “Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng”. Việc xây dựng một xă hội công bằng, trong đó của cải được phân chia hợp lư, hay việc chống bất công, cũng là nghĩa vụ của mọi người, nhất là những người được Thiên Chúa ban cho nhiều khả năng làm việc ấy một cách hữu hiệu (những người có tài năng, chức quyền, có địa vị trong xă hội và Giáo Hội…)

Thiên Chúa của chúng ta là một Thiên Chúa công bằng và yêu thương, Ngài đă cho Con Một Ngài xuống thế để loan báo Tin Mừng về Nước Thiên Chúa hay Nước Trời và khởi đầu xây dựng nước ấy, trước hết tại trần gian, và sau đó là trên trời. Nước Trời là một xă hội hay Giáo Hội lư tưởng, trong đó mọi người đều đối xử với nhau không chỉ hợp với lẽ công bằng, mà c̣n phải đầy t́nh yêu thương nữa. Những người ích kỷ, chỉ biết hạnh phúc một ḿnh, đầy đủ một ḿnh, những người chủ trương ai chết mặc ai, ai khổ mặc ai, không thể là đối tượng của Nước Trời. V́ thế, những người theo Ngài, tức các Ki-tô hữu, có nhiệm vụ tiếp nối công việc của Ngài là làm chứng và xây dựng cho Nước Trời. Làm chứng là chính ḿnh sống đúng tinh thần công bằng và yêu thương của Nước Trời ngay trong chính môi trường ḿnh đang sống. Xây dựng là làm sao để trong môi trường ḿnh sống ngày càng có nhiều người sống tinh thần ấy. Thiết tưởng mọi Ki-tô hữu cần ư thức và quan tâm tới chiều kích xă hội và giáo hội này.

3. Những người giàu có, hạnh phúc, cần quan tâm giúp đỡ và chia sẻ với người nghèo túng, đau khổ

Qua bài Tin Mừng hôm nay, ta thấy Thiên Chúa không chấp nhận cho vào Nước Trời những người sống ích kỷ, không biết yêu thương, những người lănh đạm hoặc làm ngơ trước những đau khổ, thế cùng quẫn, t́nh trạng bị áp bức, bóc lột mà những người chung quanh ta đang phải gánh chịu một cách bất công. V́ thế, một cách cụ thể, chúng ta cần biết chia sẻ, giúp đỡ họ, và phải làm một cái ǵ đó khi có thể. Nếu chúng ta có t́nh yêu đích thực, t́nh yêu ấy ắt sẽ khiến chúng ta bức xúc và không thể im lặng hay bất động trước những đau khổ người khác đang phải chịu trước mắt ḿnh. T́nh yêu đích thực không cho phép chúng ta hành động như anh nhà giàu trong bài Tin Mừng hôm nay, an tâm “mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đ́nh” trong ngôi nhà khang trang đầy tiện nghi, không thèm đếm xỉa đến nỗi cùng quẫn của những “Ladarô, mụn nhọt đầy ḿnh, thèm được những thứ trên bàn ăn rớt xuống mà ăn cho no” đang nằm trước cổng nhà ḿnh. T́nh yêu đích thực không cho phép chúng ta khoanh tay ngồi nh́n những kẻ ác tự do gây bất công cho những kẻ thế cô, khi mà chúng ta có thể dùng tài năng hay địa vị của chúng ta để can thiệp.

Chúng ta sẽ phải trả lẽ trước mặt Thiên Chúa về những ǵ Thiên Chúa ban mà chúng ta lại không sử dụng để làm lợi cho Ngài và tha nhân. Dụ ngôn về nén bạc cho chúng ta biết điều ấy (xem Mt 25,14-30; Lc 19,12-27): Kẻ nào đem chôn nén bạc Chúa trao, dù chỉ là một nén, mà không sinh lợi ích cho Ngài, th́ sẽ Ngài bị kết án: “C̣n tên đầy tớ vô dụng kia, hăy quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài: ở đó, sẽ phải khóc lóc nghiến răng” (Mt 25,30). Do đó, chúng ta không thể tự hào ḿnh vô tội chỉ v́ ḿnh không hề làm điều ǵ bất công. Coi chừng chúng ta là kẻ tội lỗi đáng kết án chỉ v́ đă không làm những ǵ lương tâm và t́nh yêu thương đ̣i buộc phải làm, dù bởi lười biếng hay hèn nhát…

Cầu nguyện

Lạy Cha, con cảm thấy ḿnh chưa đủ t́nh thương đối với Cha cũng như với đồng loại, v́ con chưa dám hy sinh một chút danh tiếng, một chút th́ giờ, một chút của cải, hay chấp nhận một chút đau khổ, nhục nhă, khó nhọc để làm cho những người thân đang đau khổ chung quanh con bớt đau khổ. Con vẫn chỉ nghĩ tới sự an toàn và hạnh phúc của riêng con, coi sự an toàn và hạnh phúc của con hơn tất cả. Xin ban cho con có nhiều t́nh yêu hơn, v́ có đủ t́nh yêu, con sẽ làm được tất cả những ǵ Chúa muốn, những ǵ lương tâm và t́nh yêu đ̣i buộc. Amen.