|| Trang Chủ || Chia sẻ || Tập san || Thông hiệp ||

 

* Các bài suy niệm LỄ TRO – Năm C

Lời Chúa: Ge 2,12-18; 2Cr 5,20-6,2; Mt 6,1-6.16-18

* Các bài suy niệm CHÚA NHẬT 1 MÙA CHAY – Năm C

Lời Chúa: Dnl 26,4-10; Rm 10,8-13; Lc 4,1-13

 

MỤC LỤC

* LỄ TRO.

1. Hăy xé ḷng - ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

2. Lịch sử và ư nghĩa thứ tư Lễ Tro.

3. Mùa chay và ơn cứu độ – ĐGM. Bùi Tuần.

4. Bụi tro.

5. Hoán cải

6. Ăn chay cách nào mới đẹp ḷng Thiên Chúa?- JKN.

7. Hăy xé ḷng - ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

8. Chú giải của Fiches Dominicales.

9. Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt

10. Thứ năm sau Lễ Tro - Lc 9,22-25.

11. Thứ sáu sau Lễ Tro - Mt 9,14-15.

12. Thứ bảy sau Lễ Tro - Lc 5,27-32.

* CHÚA NHẬT 1 MÙA CHAY.

1. Cám dỗ - ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

2. Không chỉ nhờ cơm bánh.

3. Chỉ thờ phượng một ḿnh Người

4. Tiến tới một t́nh yêu chân thật hơn, tinh tuyền hơn.

5. Sống là chiến đấu.

6. Chống lại cám dỗ - McCarthy.

7. Chiến đấu với cám dỗ.

8. Chú giải mục vụ của Hugues Cousin.

9. Chú giải của Noel Quesson.

10. Trong sa mạc - R. Gutzwiller

11. Chú giải của Fiches Dominicales.

12. Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt

13. Phương cách ma quỉ dùng để cám dỗ ta - JKN.

14. Satan.

15. Nhận biết

16. Cám dỗ.

17. Cơm bánh.

18. Cám dỗ.

19. Cám dỗ.

20. Cám dỗ.

21. Chiến đấu.

  

 

* LỄ TRO

1. Hăy xé ḷng - ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

Mùa Chay được khởi đầu bằng nghi thức xức tro trên đầu. Nghi thức này bắt nguồn từ truyền thống xa xưa của dân Do Thái. Trong Cựu Ước, mỗi khi muốn tỏ ḷng ăn năn hối cải, người Do Thái thường xức tro trên đầu, ngồi trên đống tro và mặc áo vải thô hoặc xé áo ra.

Cựu Ước nói nhiều đến tập tục này. Nhưng dễ nhớ nhất là truyện dân thành Ninivê. Ninivê là một thành phố lớn. Nhưng dân chúng ăn chơi truỵ lạc, phạm nhiều tội lỗi. Thiên Chúa muốn tiêu diệt thành này. Trước khi phạt, Chúa sai ngôn sứ Giona đến báo động. Ngh vị ngôn sứ này nói Chúa sắp trừng phạt, dân thành sợ hăi bảo nhau bỏ đàng ăn chơi tội lỗi, tha thiết ăn chay cầu nguyện, mặc áo vải thô, ngồi trên đống tro. Thấy dân chúng có ḷng ăn năn sám hối, Chúa đă tha phạt cho thành.

Việc xức tro và xé áo trước hết nói lên sự buồn phiền đau đớn v́ đă phạm nhiều tội lỗi. Tội nhân tự nhận ḿnh không xứng đáng được kính trọng, chỉ xứng đáng với tro bụi nhơ bẩn, với áo rách tồi tàn, đáng bị khinh miệt, bị chà đạp như cát bụi bên đường.

Việc xức tro và xé áo cũng làm cho tội nhân ư thức thân phận con người bọt bèo, cuộc đời mau chóng tàn phai như giấc mộng. Đời người như một nắm tro bụi, chỉ một làn gió nhẹ thoảng qua đủ xoá sạch vết tích. Cuộc đời giống như manh áo, hôm qua c̣n mới đẹp, hôm nay đă cũ kỹ xấu xí, hôm qua c̣n lành lặn, hôm nay đă sờn rách.

Như thế, việc xức tro và xé áo có một nội dung ư nghĩa rất sâu xa. Nhưng với thời gian, do những cử hành máy móc, các việc này dần dần rơi vào thái độ h́nh thức bên ngoài. Người ta làm cho qua lần chiếu lệ, chẳng c̣n có ư thức thống hối. Chính v́ thế, ngôn sứ Giôen đă kêu gọi dân chúng: “Hăy ăn chay, khóc lóc, và thống thiết than van. Hăy xé ḷng chứ đừng xé áo” (Ge 2,12b-13a).

Nghi thức phải diễn tả tâm t́nh th́ việc cử hành mới có ích lợi. Việc xức tro sẽ vô ích nếu trong ḷng ta không dâng lên tâm t́nh sám hối. Việc xé áo sẽ trở thành giả dối nếu tâm hồn ta không tan nát v́ hối hận tội lỗi.

Xức tro trên đầu không quan trọng bằng xức tro trong tâm hồn. Hăy xức tro vào tâm hồn cho tâm hồn xót xa đau đớn v́ tội lỗi. Hăy xức tro vào thói kiêu căng để nó biết hạ ḿnh xuống trong khiêm nhường bé nhỏ. Hăy xức tro vào thói phô trương để nó biết ch́m vào âm thầm nghèo hàn. Hăy xức tro vào thói hận thù ghen ghét để nó đau đớn v́ đă không biết yêu thương. Hăy xức tro vào những mối chia rẽ bất hoà để tẩy sạch vết thương, hàn gắn t́nh hiệp nhất. Hăy xức tro vào tính ích kỷ để nó biết mở ra chia sẻ. Hăy xức tro vào thói lười biếng để nó tỉnh thức chăm lo việc đạo đức. Xức tro như thế có khác ǵ xát muối vào ḷng, sẽ gây nên đau đớn xót xa, nhưng sẽ tẩy rửa linh hồn nên trong trắng.

Xé áo chẳng có ích lợi ǵ nếu ta không xé ḷng ra. Ḷng ta bấy lâu đă gắn bó với tội lỗi. Tội lỗi ăn sâu dính chặt hầu như trở thành một phần của tâm hồn. Muốn dứt ĺa tội lỗi, phải xé nó ra. Hăy xé ḷng ra khỏi những đam mê dục vọng bất chính. Hăy xé ḷng ra khỏi thói tham lam tiền bạc. Hăy xé ḷng ra khỏi thói nô lệ danh vọng chức quyền. Hăy xé ḷng ra khỏi thói ham mê ăn uống, rượu chè, cờ bạc. Hăy xé ḷng ra khỏi thói tự măn tự tôn. Biết bao thứ đă trở thành thiết thân. Những quan hệ, những tiền bạc của cải, những chức tước danh vị, những thú ăn chơi, những tự ái, những giận hờn, tất cả đă gắn chặt vào đời ta. Giờ đây phải xé nó ra. Đau đớn lắm. Vết thương sẽ nặng lắm. Máu sẽ chảy nhiều lắm. Nhưng khi đă cắt bỏ được hết những ung nhọt độc hại, linh hồn sẽ nhẹ nhàng, trong sạch và lớn mạnh v́ được đầy tràn ơn phúc và t́nh yêu của Chúa.

Lạy Chúa, xin hăy ban thêm sức mạnh cho con, để mùa Chay năm nay con thực sự biết xức tro vào tâm hồn, biết xé tâm hồn trong đau đớn v́ tội lỗi. Lạy Chúa, xin đổi mới tâm hồn con. Amen.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

1. Mỗi lần dự lễ tro, bạn có ư thức ư nghĩa sâu xa của việc xức tro không?

2. Mỗi khi mùa Chay về, bạn có quyết tâm đổi mới đời sống không?

3. Hôm nay nếu phải xức tro vào tâm hồn, bạn sẽ xức vào nết xấu nào trong bạn?

4. Hôm nay nếu phải xé ḷng ḿnh, vết thương nào sẽ làm bạn đau đớn nhất. Bạn có dám xé nó ra không?

 
 

2. Lịch sử và ư nghĩa thứ tư Lễ Tro

LỊCH SỬ VÀ Ư NGHĨA THẦN HỌC PHỤNG VỤ

Ngày Thứ Tư Lễ Tro, chúng ta nghe văng vẳng lời thánh ca từ Sách Sáng thế: Hỡi người hăy nhớ ḿnh là tro bụi và sẽ trở về bụi tro. Lời Kinh thánh này nhắc nhở chúng ta ư thức về thân phận con người qua biểu hiệu "bụi tro" được dùng trong Kinh thánh và trong nghi lễ ngày Thứ Tư đầu Mùa Chay. Trong bài viết này tôi sẽ nói qua về lịch sử và ư nghĩa thần học phụng vụ của Ngày Thứ Tư Lễ Tro.

1. Lịch sử Thứ Tư Lễ Tro

Những Quy luật tổng quát của Năm phụng vụ nói về ngày Thứ Tư Lễ Tro như sau: "Mùa Chay bắt đầu từ Thư Tư Lễ Tro và kết thúc ngay trước Thánh lễ Tiệc Ly. Ngày Thứ Tư đầu Mùa Chay có xức tro; ngày đó khắp nơi ăn chay" (số 28 và 29). Lời chỉ dẫn này cho chúng ta biết ư nghĩa của Ngày Thứ Tư Lễ Tro trong Năm phụng vụ, cũng như trong suốt Mùa Chay thánh. Với Thứ Tư Lễ Tro, Giáo hội bắt đầu Mùa Chay. Ngoài ra trong cơ cấu phụng vụ của ngày này, Giáo hội cử hành lễ nghi làm phép tro và xức tro.

Trong truyền thống phụng vụ từ thế kỷ thứ 7, Ngày Thứ Tư Lễ Tro là một ngày quan trọng, và không một lễ nào có thề vượt lên trên. Người ta cũng gọi ngày này là "Đầu Mùa Chay" (Caput ieiunii), hay " Đầu Mùa ăn chay 40 ngày" (Caput Quadragesimalis). Việc ăn chay trong Mùa này đă có từ thời Đức Giáo Hoàng Gregoriô Cả (590-604).

Về nghi thức làm phép tro và xức tro, qua thời gian lễ nghi này đă có sự biến đổi từ một nghi thức nghi thức thống hối trong định chế về tập tục thống hối công cộng thời xưa. Lịch sử phụng vụ về việc thành h́nh Nghi thức cử hành bí tích thống hối và hoà giải, cũng như định chế Giáo hội về một số sinh hoạt đặc biệt, đă có tục lệ bỏ tro cho hối nhân công cộng đă phạm một số tội nặng cách công khai, mà mọi người đều biết, như chối bỏ đức tin, giết người, ngoại t́nh... Những người này bị loại ra khỏi cộng đoàn tín hữu. Để được nhận lại trong cộng đoàn, họ phải làm việc thống hối công cộng theo định chế Giáo hội đưa ra. Vào ngày thứ tư trước Chúa Nhật thứ nhất Mùa Chay, những hối nhân công cộng này sẽ tụ tập lại tại nhà thờ chính toà, và sau khi xưng thú tội của ḿnh, họ sẽ được Đức Giám mục trao cho chiếc áo nhặm mang trên ḿnh, rồi lănh nhận tro trên đầu và trên ḿnh. Sau đó họ bị đưởi ra khỏi nhà thờ và được chỉ định đi tới một tu viện để ở đó và thi hành một số việc thống hối đă ra cho họ. Vào sáng thứ năm Tuần thánh, các hối nhân này tụ tập lại tại nhà thờ chính toà, được Đức Giám mục xem xét việc thực hành thống hối của họ trong Mùa Chay, sau đó ngài đọc lời xá giải tội lỗi của họ để giao hoà với cộng đoàn. Từ đây họ được quyền tham dự các buổi cử hành bí tích. Tại Rôma, vào thế kỷ thứ 7, các hối nhân công cộng tập họp tại một số nhà thờ tước hiệu (tituli) của thành phố, cũng như tại 4 Đại Vương cung thánh đường thánh Phêrô, thánh Phaolô ngoại thành, thánh Gioan Lateranô và Đức Bà Cả, để cử hành nghi lễ như vừa nói trên đây.

Về sau định chế thống hối công cộng không c̣n nữa, tuy nhiên lễ nghi bỏ tro vẫn c̣n giữ lại trong ngày Thứ Tư Lễ Tro. Đầu tiên chỉ có các tín hữu lănh nhận tro trên ḿnh. Về sau các Đức Giáo hoàng và tín hữu đều lănh tro, để tỏ ḷng thống hối. Sang thế kỷ thứ 10, th́ có việc làm phép tro và một lời nguyện kèm theo bắt chước cơ cấu thánh lễ, nghĩa là có lời nguyện giống như Kinh nguyện thánh thể, và việc lănh nhận tro như khi cử hành việc rước lễ.

Vào thế kỷ thứ 11, cũng tại Rôma, Đức Giáo hoàng tập họp các giáo sĩ, giáo dân tại nhà thờ thánh Anastasia. Ngài làm phép tro, bỏ tro cho mọi người, sau đó tất cả đi kiệu về nhà thờ thánh nữ Sabina ở đồi Aventino. Trong khi đ kiệu, Đức Giáo hoàng và cộng đoàn hát kinh cầu các thánh. Tất cả đều mặc áo nhặm, đi chân không, để tỏ ḷng thống hối ăn năn. Khi đoàn kiệu đến nhà thờ thánh Sabina, Đức Giáo hoàng đọc lời xá giải và cộng đoàn cùng hát bài "Chúng ta hăy thay đổi đời sống, Xức tro và ăn chay hăm ḿnh, khóc than v́ lỗi lầm đă phạm. Hăy khẩn cầu Thiên Chúa chúng ta. V́ Người rất từ bi nhân hậu sẵn sàng tha thứ mọi tội khiên" (Immutemur, xc. Ge 2, 13). Sau đó ngài cử hành thánh lễ. Đó là trạm đầu tiên (statio) của Mùa Chay. Ngày nay vào Thứ Tư Lễ Tro, Đức Giáo hoàng cũng đến làm phép tro và bỏ tro tại nhà thờ thánh nữ Sabina theo truyền thống xưa. Trước đó có cuộc rước kiệu từ nhà thờ thánh Anselmô cũng trên dồi Aventino. Tại nhà thờ thánh nữ Sabina, ngài công bố sứ điệp Mùa Chay cho toàn thể Giáo hội (Sứ điệp Mùa Chay năm 2002 mang tựa đề: Anh em đă lănh nhận nhưng không, th́ hăy cho đi nhưng không [Mt 10,8]).

Vào năm 1091, Công đồng Benevento (Nam Italia) đă truyền cử hành nghi lễ bỏ tro cho tất cả các nơi trong Giáo hội. Trong khi bỏ tro, vị linh mục đọc lời: "Ta là thân cát bụi sẽ trở về cát bụi" (St 3, 19). Tro này lấy từ những cành lá đă được làm phép trong ngày Chúa nhật Lễ Lá năm trước để lại. Trước công cuộc canh tân phụng vụ của Công đồng chung Vaticanô II, lễ nghi làm phép tro và bỏ tro được cử hành trước thánh lễ. Vào năm 1970, khi công bố Sách Lễ Rôma được tu chính, th́ lễ nghi này được cử hành sau phần phụng vụ lời Chúa. Ngoài câu trích từ Sách Sáng thế, c̣n có thêm một công thức dùng khi bỏ tro, lấy từ Phúc âm: "Hăy ăn năn sám hối và đón nhận Tin Mừng" (Mc 1,15). Với công thức mới này được thêm vào, th́ biểu hiệu "tro" đă mang thêm một ư nghĩa mới nữa đó là việc canh tân đời sống trong suốt Mùa Chay thánh. Sau đây là một trong hai lời nguyện làm phép tro: "Lạy Chúa, Chúa nhân từ đối với ai khiêm tốn, và tha thứ cho kẻ biết ăn năn. Xin nghe lời chúng con khẩn nguyện và rộng tay giáng phúc cho hết thảy chúng con sắp nhận lấy tro này, để chúng con kiên tŕ giữ bốn mươi ngày chay thánh, và nhờ đó được nên tinh tuyền, xứng đáng cử hành mầu nhiệm Vượt qua của Đức Kitô, Con Một Chúa, Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời" (c̣n có một lời kinh khác trong Sách Lễ Rôma).

2. Ư nghĩa việc bỏ tro và ngày Thứ Tư Lễ Tro

Trong Cựu Ước, việc xức tro và mặc áo nhặm được dùng để thực hành và biểu lộ ḷng thống hối cá nhân hay toàn thể cộng đoàn dân Israel. Tro chỉ thân xác chúng ta là bụi tro, sẽ phải chết (xc. St 3,18.27; Giob 34, 17; Gr 6, 26; 25, 34; Est 4,13; Is 58, 5; Dn 9,3; Giona 3,6; Giudith 4,16; 9,1).

Trong truyền thống các đan sĩ và tụ viện, tro được dùng để nói lên mối liên hệ với sự chết và sự khiêm nhường thống hối trước mặt Chúa. V́ thế, các tu sĩ, các đan sĩ có tục lệ tại một số nơi, muốn nằm trên đống tro với chiếc áo nhặm để chết. Thánh Martino thành Tours bên Pháp đă nói: "Không ǵ xứng hợp hơn cho một tu sĩ là việc nằm chết trên đống tro bụi". Các vị này lấy tro đă được làm phép trong ngày Thứ Tư Lễ Tro, rồi vẽ h́nh thánh giá trên đất, trên đó c̣n trải thêm áo nhặm và rồi các vị nằm trên đó khi hấp hối và khi chết. Các tu sĩ cũng có thói quen trộn tro vào bánh như của ăn. Đó là một h́nh thức hăm ḿnh nhiệm nhặt mà các tu sĩ phải giữ.

Từ đây chúng ta nhận ra, trước tiên Giáo hội đă đặt nền tảng cho việc thống hối, đó là nh́n nhận lại t́nh trạng nguyên tuyền của ơn thánh đă bị mất do tội nguyên tổ, và hậu quả là con người xa Thiên Chúa, trốn tránh Thiên Chúa. Con người sẽ phải chết như là một hậu quả của tội lỗi. V́ thế cần phải "quay trở lại" một cách tận căn, như ư nghĩa diễn tả qua từ "canh tân" trong ngôn ngữ Do thái, là quay ngược lại với 360 độ. Đàng khác suy tư về bụi tro, để cho thấy sự yếu hèn của ḿnh và tính cách tuỳ thuộc vào Thiên Chúa v́ con người được Ngài tạo dựng. Nhưng Thiên Chúa đoái thương và ban ơn cứu rỗi. Phụng vụ đă diễn tả nền tảng này qua các biểu hiệu và các lời kinh của ngày Thứ tư Lễ Tro.

Cùng với một số biểu hiệu khác được Giáo hội dùng trong Mùa Chay, như mầu áo lễ tím, không đọc Kinh Vinh Danh, không trưng bông hoa trên bàn thờ, không dùng đàn trong thánh lễ, bụi tro cũng được dùng để cho thấy tính cách thống hối của Mùa Chay và thân phận của con người hay chết.

Nói tóm lại, lễ nghi làm phép tro và bỏ tro trong ngày Thứ Tư Lễ Tro gợi ra cho tín hữu về một thời điểm quan trọng đang bắt đầu liên hệ tới ơn cứu rỗi của họ, đó là Mùa Chay. Đồng thời, lễ nghi khởi đầu này cũng đề ra cho tín hữu một hành tŕnh phải đi theo trong thời gian suốt Mùa Chay.

Hành tŕnh đó là thực hành các việc làm biểu lộ sự thống hối, sống bác ái; đàng khác, tín hữu cũng phải đi sâu vào tâm t́nh thống hối, khi suy tư về thân phận con người, về lỗi lầm của ḿnh và nhu cầu khẩn thiết phải trở về, phải canh tân cuộc sống. Tuy nhiên, tín hữu không làm những việc này trong ư thức khổ hạnh cá nhân, nhưng là để hướng về ơn cứu rỗi Chúa Kitô đă thực hiện và Giáo hội đang chuẩn bị mừng trong đại lễ Phục sinh. Ngày nay các biểu hiệu bên ngoài, như thống hối công cộng, như mặc áo nhặm, như đi chân không trong cuộc hành hương, vv. không c̣n được thực hiện như xưa, v́ hoàn cảnh xă hội đổi thay, nhưng thái độ và ư chí thống hối, canh tân trở về vẫn phải in khắc sâu đậm trong thâm tâm mỗi người. Mỗi người sẽ tự đưa ra cho ḿnh một số những thực hành thống hối trong cuộc sống cụ thể để biểu lộ ư nghĩa và tinh thần của lễ nghi xức tro.

  

3. Mùa chay và ơn cứu độ – ĐGM. Bùi Tuần

Mùa Chay là thời gian nhắc nhở đặc biệt đến ơn cứu độ.

Hầu như ngày nào Phụng vụ cũng có lời giục giă. Thí dụ:

Hăy khát khao t́m ơn cứu độ,

Hăy sốt sắng cầu xin ơn cứu độ,

Hăy khiêm tốn đón nhận ơn cứu độ,

Hăy tích cực cộng tác vào công tŕnh cứu độ,

Hăy cảm tạ Chúa v́ ơn cứu độ,

Hăy xin Chúa thương ban ơn cứu độ cho thế giới vv…

Tất cả chứng tỏ ơn cứu độ là hết sức quan trọng.

Vậy ơn cứu độ là ǵ?

Tôi không đưa ra một định nghĩa thần học. Chỉ xin nêu lên một số yếu tố gần gũi, vừa rút ra từ Kinh Thánh, vừa sát với kinh nghiệm cuộc đời.

Yếu tố thứ nhất là con người cần được cứu khỏi t́nh trạng tội lỗi.

Tội lỗi bám vào con người. Tội lỗi đeo đẳng cuộc đời. Tội lỗi tước đoạt tự do con người.

Đây là một kinh nghiệm bản thân, mà mỗi người đều có thể nói lên cách này hay cách khác. Riêng thánh Phaolô dám viết ra kinh nghiệm của ḿnh một cách khiêm nhường và xác thực. Thiết nghĩ đây là một sự thực mà mỗi người nên coi là của chính ḿnh. Ngài viết: “Vẫn biết rằng Lề Luật là bởi Thần Khí, nhưng tôi th́ lại mang tính xác thịt, bị bán làm tôi cho tội lỗi. Thật vậy, tôi làm ǵ tôi cũng chẳng hiểu: V́ điều tôi muốn, th́ tôi không làm. Nhưng điều tôi ghét, th́ tôi lại cứ làm. Nếu tôi cứ làm điều tôi không muốn, th́ tức là tôi đồng ư với Lề Luật và nhận rằng Lề Luật là tốt. Vậy thật ra không c̣n phải là chính tôi làm điều đó, nhưng là tội vẫn ở trong tôi. Tôi biết rằng sự thiện không ở trong tôi, nghĩa là trong xác thịt tôi. Thật vậy, muốn sự thiện th́ tôi có thể muốn, nhưng làm th́ không. Sự thiện tôi muốn th́ tôi không làm. Nhưng sự ác tôi không muốn, th́ tôi lại cứ làm. Nếu tôi cứ làm điều tôi không muốn, th́ không c̣n phải là chính tôi làm điều đó, nhưng là tội vẫn ở trong tôi.

Bởi đó, tôi khám phá ra luật này: Khi tôi muốn làm sự thiện, th́ lại thấy sự ác xuất hiện ngay. Theo con người nội tâm, tôi vui thích v́ luật của Thiên Chúa. Nhưng trong các chi thể của tôi, tôi lại thấy một luật khác: Luật này chiến đấu chống lại luật của lư trí và giam hăm tôi trong luật của tội là luật vẫn nằm sẵn trong các chi thể tôi.

Tôi thật là một người khốn nạn! Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này? Tạ ơn Thiên Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Rm 7,14-25).

Nói lên được sự thực bi đát đó như thánh Phaolô là điều đáng mừng. Phải nhận sự thực này một cách khiêm nhường mới hiểu được sự cần thiết đi t́m ơn cứu độ.

Hiện nay, ư thức về tội đă và đang suy giảm một cách mau lẹ và rất đáng lo ngại. Có người mất hẳn ư thức về tội. V́ thế mà t́nh h́nh đạo đức xuống dốc rơ ràng. Nguy cơ đe doạ phần rỗi là rất trầm trọng.

Do đó, Mùa Chay nói về ơn cứu độ, mà nếu quên nhắc đến xiềng xích tội lỗi, th́ sẽ là một thiếu sót lớn. Đối với những ai có trách nhiệm loan báo ơn cứu độ, sự thiếu sót đó sẽ là một bất trung đối với Đấng Cứu độ, làm lạc đi ư nghĩa mùa chay.

Yếu tố thứ hai là con người cần được cứu khỏi nguy cơ làm tôi ma quỉ.

Quyền lực ma quỉ trên thế gian này là rất lớn, rất rộng.

Có trường hợp con người vâng phục ma quỉ một cách ngoan ngoăn và tự nhiên như thể họ là con cái đối với ma quỉ là cha mẹ họ. Chúa Giêsu có lần đă nói rơ về một đám đông: “Cha các ông là ma quỉ, và các ông muốn làm những ǵ cha các ông ham thích. Ngay từ đầu, nó đă là tên sát nhân. Nó đă không đứng về phía sự thực, v́ sự thực không ở trong nó. Khi nó nói dối là nó nói theo bản tính của nó, bởi v́ nó là kẻ nói dối, và là cha sự gian dối” (Ga 8,44).

Có trường hợp con người phải vâng phục ma quỉ một cách miễn cưỡng như kẻ bị xiềng xích dưới quyền bạo lực.

Thánh Luca thuật lại h́nh ảnh kẻ bị quỉ ám tại Ghêraxa như một người bị cả một cơ binh hành hạ khống chế một cách ác độc. “Chúa Giêsu hỏi: “Tên anh là ǵ? Anh thưa: Đạo binh. V́ rất nhiều quỉ nhập vào anh” (Lc 8,30-31).

Có trường hợp con người đi theo sự dụ dỗ của ma quỉ, như một người liên minh thân thích vốn cùng chung mưu t́m sự tội. Kinh Thánh nói: Khi Giuđa vừa ăn xong tấm bánh Chúa Giêsu trao cho, “Satan liền nhập vào y” (Ga 13,27).

Sự ma quỉ luôn mưu t́m cách lôi kéo con người vào đường tội lỗi là điều chắc chắc. Chúa Giêsu phán: “Simon, Simon, ḱa Satan đă xin được sàng anh em như người ta sàng gạo” (Lc 22,31).

Chính thánh Phêrô sau này cũng đă trải qua kinh nghiệm đó, nên đă khuyên bảo giáo đoàn ḿnh: “Anh em hăy sống tiết độ và tỉnh thức, v́ ma quỉ là thù địch anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh t́m mồi cắn xé anh em” (1 Pr 5,8).

Trước một nguy cơ đáng sợ như thế đang xảy ra xung quanh chúng ta, chúng ta rất cần đến Đấng cứu độ. Phúc Âm cho thấy Đức Giêsu đă nhiều lần trừ quỉ, và ma quỉ rất sợ Ngài. Chính Ngài là Đấng cứu độ con người khỏi quyền lực ma quỉ.

Yếu tố thứ ba là con người cần được hiệp thông với Thiên Chúa.

Hai yếu tố trên chỉ là mặt tiêu cực. Mặt tích cực của ơn cứu độ là được hiệp thông với Thiên Chúa Cha, qua Đức Kitô. Thiên Chúa thường được tŕnh bày như nguồn sự sống. Chúa Giêsu phán: “Quả thực, Chúa Cha có sự sống nơi ḿnh thể nào, th́ cũng ban cho người con được sự sống nơi ḿnh như vậy” (Ga 5,26). Trong bữa tiệc ly, Chúa Giêsu cầu nguyện: “Xin Cha tôn vinh Con Cha, để Con Cha tôn vinh Cha, theo quyền năng đă ban cho Người trên mọi phàm nhân, để Người ban sự sống đời đời cho tất cả những ai Cha đă ban cho Người” (Ga 17,2).

Tham dự vào sự sống đời đời của Chúa được hiểu là được cứu độ. V́ thế, Chúa Giêsu hay nói về sự tham dự này nơi chính Ngài: “Ta là đường, là sự thực và là sự sống” (Ga 14,6). “Ta đến để họ được sống và sự sống dồi dào” (Ga 10,10).

Theo chính Chúa Giêsu giải thích, th́ tham dự sự sống của Chúa là nhận biết Thiên Chúa. Trong bữa tiệc ly Ngài nói với Chúa Cha: “Sự sống đời đời, đó là nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Đấng Cha đă sai đến là Giêsu Kitô” (Ga 17,3).

Theo Kinh Thánh, nhận biết Chúa thường mang một ư nghĩa riêng biệt, đó là tiếp xúc trực tiếp với Ngài, đón nhận Ngài, dấn thân theo Ngài, chọn Ngài một cách dứt khoát như chọn sự sống.

Như thế nhận biết Chúa cũng là một cách xin vâng trọn vẹn ơn gọi Chúa gởi đến cùng với mọi trách nhiệm đi kèm ơn gọi đó.

Nhận biết Chúa là chọn điều Chúa chọn, nghĩ điều Chúa nghĩ, muốn điều Chúa muốn, cảm điều Chúa cảm.

Nhận biết Chúa như thế là một cách cảm nghiệm được sự Chúa ở bên ḿnh, ở trong ḿnh, ở với ḿnh. Ngài sống động như một t́nh yêu tác tạo và cứu độ, an ủi và đỡ nâng.

***

Ba yếu tố tôi vừa nêu lên chắc chắn c̣n nhiều thiếu sót. Nhưng tôi hy vọng, với ơn Chúa, những người thiện chí sẽ có thể dùng như một gợi ư đơn sơ dễ hiểu, để đi vào Mùa Chay theo phương hướng rơ ràng. Họ sẽ cầu nguyện, sám hối, hăm ḿnh, sửa tính theo ư Chúa một cách có ư thức hơn.

Tôi cầu mong: Những tâm hồn bé nhỏ, con cái Đức Mẹ, trong Năm Mân Côi này, sẽ đáp ứng lời kêu gọi của Đức Giáo Hoàng, biến Mùa Chay này thành khí cụ b́nh an, mang ơn cứu độ đến cho một mảng lớn nhân loại, đầy những xung khắc, đầy những sợ hăi, đầy những bất ổn, đầy những ảo tưởng đang chuẩn bị cho những chết chóc tang thương và những hận thù sâu sắc lâu dài.

  


 

4. Bụi tro

Hôm nay, khi bỏ tro trên đầu chúng ta, vị linh mục chủ sự đọc:

- Hời người, hăy nhớ ḿnh là bụi tro, một mai người sẽ trở về bụi tro.

Cũng một lời ấy được lặp lại cho mọi người, không phân biệt nam nữ, tuổi tác và địa vị.

Trong ngày đăng quang, trước đông đảo quần chúng từ khắp nơi kéo về công trường thánh Phêrô, vị Hồng Y niên trưởng tiến tới trước mặt Đức Tân Giáo Hoàng, tay cằm một miếng vải mỏng, vừa đốt vừa nói:

- Thưa Đức Thánh Cha, mọi chức sang quyền trọng cũng sẽ qua đi như thế.

Đó là một sự thật, mà không ai có quyền chối căi.

Ngoài nghĩa địa có biết bao nhiêu ngôi mộ, cái th́ to, cái th́ nhỏ, cái th́ đơn sơ một nắm đất, cái th́ được xây cất lộng lẫy như một biệt thự, nhưng bên trong cũng chỉ là xương khô và tro bụi.

Người đi trước thế nào, th́ chúng ta những kẻ đi sau cũng thế, một ngày kia chúng ta sẽ phải cúi đầu vâng theo định luật chung ấy mà thôi:

- Danh vọng là mây khói và con người là bụi tro.

Bởi đó chúng ta phải nh́n rơ con người bởi đâu mà đến và rồi sẽ đi về đâu? Mục đích của cuộc đời chúng ta là ǵ?

Đức tin trả lời cho chúng ta rằng: cuộc đời là một chuyến đi t́m về cùng Thiên Chúa, mục đích cuối cùng của chúng ta phải là chính Thiên Chúa. Và để chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ định mệnh này, Giáo Hội trong mùa chay luôn kêu gọi chúng ta hăy hy sinh hăm ḿnh và làm việc lành phúc đức, đó là những cái chúng ta có thể đem theo trong cuộc hành tŕnh cô đơn là cái chết.

Tuy nhiên, trong khi chấp nhận hy sinh hăm ḿnh và làm việc lành phúc đức, chúng ta cần phải tránh đi thói kiêu căng và háo danh. Có nghĩa là chúng ta phải âm thầm và kín đáo, để chỉ ḿnh Chúa biết và Ngài sẽ ân thưởng bội hậu cho chúng ta mà thôi.

Jacopone là một luật sư nổi tiếng, trong cuộc chạy đua vào thượng viện, ông trúng ghế nghị sĩ. Vào ngày ăn khao, đang lúc xem tŕnh diễn văn nghệ th́ rạp hát bị sụp đổ, khiến bà Jacopone bị vùi dưới đống gạch vụn. Người ta phải đào bới măi mới kéo được bà lên. Khi ấy bà đă bị thương nặng và đang thoi thóp gần chết. Lúc bấy giờ người ta mới khám phá ra, bên trong chiếc áo dạ hội, bà mặc một chiếc áo nhặm, kết bằng lông ngựa cứng.

Ông Jacopone phàn nàn trách bà là đă đày đoạ thân xác, nhưng bà trả lời:

- Tôi khuyên răn mà ông không nghe. Ông vẫn cứ sống bê tha. V́ thế, tôi mặc áo này, để hy sinh và cầu nguyện cho ông.

Bà đă hy sinh hăm ḿnh một cách âm thầm lặng lẽ để cầu nguyện cho ông và chỉ có một ḿnh Chúa hay biết mà thôi.

Việc bỏ tro trên đầu nhắc cho chúng ta nhớ rằng ḿnh chỉ là tro bụi, nhưng đừng trở về bụi tro với hai bàn tay trắng.

Bởi đó, ngay từ giây phút này chúng ta hăy lo thực thi t́nh bác ai yêu thương, nhờ đó chúng ta sẽ được Chúa đón nhận vào quê hương nước trời. Bởi v́, đứng trước cái chết th́: Những ǵ chúng ta ta có hôm nay, ngày mai sẽ thuộc về người khác. Những ǵ chúng ta mua sắm hôm nay, ngày mai người khác sẽ hưởng dùng. Chỉ những ǵ chúng ta cho đi mới măi măi thuộc về chúng ta mà thôi.

  


 

5. Hoán cải

(Trích trong Sợi Chỉ Đỏ)

Có hai anh em ruột kia rất thương nhau, thông cảm nhau, và cùng có một mơ ước cao đẹp là sẽ sống một cuộc đời hết sức thánh thiện.

Lớn lên, người anh cưới vợ, sinh con, chăm chỉ làm ăn và cũng không quên những bổn phận đạo đức hàng ngày. C̣n người em th́ đi tu, thành một thầy ḍng ngày ngày đi khắp nơi giảng đạo và giúp đỡ những người nghèo.

Rồi một ngày kia người em làm thầy ḍng trở về quê thăm lại anh ḿnh. Hai anh em nói chuyện với nhau thật nhiều về cuộc sống và tâm tư của ḿnh. Người anh khám phá ra rằng ngày xưa hai anh em tâm đầu ư hiệp như thế, mà sao bây giờ lại khác nhau quá xa: người em th́ vẫn thích thánh thiện như xưa và c̣n thánh thiện hơn xưa nữa, c̣n ḿnh th́ sao quá tầm thường không c̣n chút mơ ước nào về lư tưởng thánh thiện ngày xưa nữa.

Người anh t́m đến một vị ẩn sĩ để hỏi cho biết nguyên do sự khác biệt ấy. Vị ẩn sĩ không trả lời thẳng mà dùng những h́nh ảnh thiên nhiên để giải thích cho anh:

. Trước tiên là đám mây trên trời: thường thường bầu trời ngày nào cũng có những đám mây, nhưng không có đám mây ngày nào giống đám mây ngày trước. Cũng là mây, nhưng mây ngày nay khác mây ngày hôm qua.

. Kế đến là một cái cây xanh: nó vẫn luôn luôn là cây thông xanh ŕ, nhưng năm trước nó nhỏ hơn, năm nay nó đă lớn hơn và cao hơn một tí, năm sau nó sẽ lớn và cao hơn tí nữa. Có nhiều cái lá của năm trước mà năm nay không c̣n, và có nhiều chiếc lá của năm nay sẽ rụng vào năm tới để thay bằng những chiếc lá khác.

. Và sau cùng chính là thân xác con người: các tế bào trong thân xác con người luôn luôn thay đổi: có cái chết đi và có cái sinh ra thêm. Khoa học tính rằng cứ sau 7 năm th́ thân xác ta hoàn toàn đổi mới không c̣n một tế bào nào của 7 năm trước đây nữa: sợi tóc, móng tay, làn da của ta năm nay hoàn toàn không chứa một tế bào nào của sợi tóc, móng tay và làn da của 7 năm trước.

Và tới lúc đó vị ẩn sĩ mới kết luận: tâm hồn con người cũng thế: muốn lớn lên, muốn tươi trẻ măi, muốn hăng say sinh động th́ mỗi ngày cũng phải bỏ những yếu tố xấu và đồng thời thu vào những yếu tố tốt. Không đào thải đi và không thu nhận vào th́ nó sẽ chết khô như một thân cây chết cứng chứ không c̣n là một thân cây sống động vươn lên nữa. Cái diễn tŕnh đào thải và tiếp nhận ấy chính là cuộc hoán cải, cần phải hoán cải liên tục. Sở dĩ người anh cảm thấy ḿnh tầm thường, khô cằn v́ anh ta bấy lâu nay đă tự măn với những cái ḿnh đang có, không muốn bỏ đi cái nào và cũng không mong thu thêm cái nào nữa.

Câu chuyện tới đây kể ra cũng đủ kết thúc. Nhưng người anh c̣n muốn t́m hiểu rơ ràng hơn nên hỏi tiếp:

. Làm thế nào để loại bỏ những cái xấu trong tôi? Nó nhiều quá và nó đă bám quá chặt vào con người tôi? Vị ẩn sĩ trả lời: quan hệ nhất là đức tin và tư tưởng: tuy đời ḿnh có nhiều tội lỗi, nhưng ta đừng quá chú ư tới nó, đừng để ḿnh bị nó ám ảnh, đừng nghĩ nhiều tới nó. Nếu lỡ phạm tội hăy sám hối, tin tưởng vào sự tha thứ của Chúa, rồi bỏ quên nó đi, phải coi thường nó. Đầu óc ḿnh sẽ được thanh thản khỏi những điều xấu.

. C̣n làm thế nào để thu nhận những điều tốt, người anh hỏi tiếp? Vị ẩn sĩ cũng trả lời: cũng quan trọng ở đức tin và tư tưởng: phải quí chuộng những điều tốt, phải luôn nghĩ tới nó, phải để cho nó ám ảnh tâm trí ḿnh và phải mơ ước thực hiện cho kỳ được những điều tốt, và tin rằng Thiên Chúa sẽ giúp ḿnh thực hiện được.

Người anh trong câu chuyện trên phản ảnh tâm trạng của chúng ta:

. Cuộc sống của chúng ta có thể nói là cứ măi măi ở thế b́nh b́nh: chúng ta không đến nỗi xấu lắm mà cũng không được tốt lắm. Cái thế ĺnh b́nh đó khiến chúng ta giống như một thân cây bị chai: không chết khô mà cũng không có sức sống vươn lên.

. Tại v́ mỗi ngày chúng ta không biết cố gắng loại bớt khỏi ta những ǵ là xấu, là khuyết điểm, là tội lỗi và đồng thời cũng không cố gắng đón nhận những ǵ là tốt, là cao, là lư tưởng hơn. Nghĩa là v́ chúng ta không chú ư thực hiện sự hoán cải hằng ngày cho nên hết ngày này sang ngày khác cuộc đời của chúng ta vẫn cứ chai ĺ, tầm thường, vô vị.

. Muốn cho cuộc sống có đà vươn lên th́ phải thực hiện sự hoán cải ấy:

Mỗi ngày loại dần những cái xấu bằng cách đừng nghĩ tới nó, đừng tiếp xúc với nó, đừng mơ tưởng tới nó.

Mỗi ngày đón nhận thêm những điều tốt bằng cách đi t́m nó, chú trọng tới nó, mơ ước nó và cố gắng chiếm đoạt nó.

Bấy nhiêu thôi xét ra cũng đủ là một chương tŕnh dài hạn cho chúng ta chẳng những trong mùa chay này mà c̣n trong suốt cả cuộc đời chúng ta.

  


 

6. Ăn chay cách nào mới đẹp ḷng Thiên Chúa?- JKN

Câu hỏi gợi ư:

1. Trong các tôn giáo, đặc biệt trong Kitô giáo, ăn chay có những ư nghĩa và tác dụng nào?

2. Ăn chay như thế nào mới đẹp ḷng Thiên Chúa? Mới đem lại ích lợi đích thực cho tâm linh ta? H́nh thức ăn chay và tinh thần chay tịnh, cái nào quan trọng hơn?

3. Tại sao nên ăn chay và cầu nguyện một cách kín đáo?

Suy tư gợi ư:

1. Ăn chay trong đời sống tâm linh và tôn giáo

Bất kỳ tôn giáo nào cũng đề cao việc ăn chay và cầu nguyện, v́ ăn chay và cầu nguyện có nhiều tác dụng tốt đẹp về mặt tâm linh.

a. Trước hết, ăn chay - thường đi đôi với hăm ḿnh - là để tỏ ḷng thống hối và đền tội, làm hoà với Thiên Chúa, quyết tâm trở về với đường ngay nẻo chính, với công lư và t́nh thương. Câu chuyện thành Ninivê là một điển h́nh (x. Gn 3,1-10). Đây là một thành phố tội lỗi, Thiên Chúa dự định trừng phạt bằng cách phá huỷ thành. Dân thành biết vậy nên đồng ḷng ăn chay và quyết tâm thống hối. V́ thế, Thiên Chúa đă từ bỏ dự định phá huỷ thành ấy.

b. Ăn chay - phối hợp với những việc thực thi công b́nh và bác ái - là một cách thể hiện ḷng yêu mến Thiên Chúa và tha nhân, muốn chia sẻ những nỗi thống khổ mà Đức Giêsu hay người nghèo, người bị áp bức phải chịu. Đây là một việc làm rất đẹp ḷng Thiên Chúa. Người ăn chay nên dùng tiền tiết kiệm được do việc ăn chay để thực hành đức ái: giúp đỡ người nghèo túng, ủng hộ những việc làm từ thiện, những công tŕnh cải thiện xă hội hoặc Giáo Hội…

c. Ăn chay - phối hợp với cầu nguyện, tĩnh tâm, chiêm niệm - để có một sức mạnh tâm linh. Khi ăn chay, ta phải chống lại sự đ̣i hỏi của bản năng thèm ăn, nhờ đó sự tự chủ lên cao, sức mạnh tâm linh cũng tăng lên. Ăn chay cũng lôi kéo ơn Chúa và sức mạnh thần linh xuống trên ta. Nhờ đó ta có thể thực hiện những việc làm hay những tiến bộ về tâm linh. Điều đó được Đức Giêsu đề cập đến qua câu nói: «Giống quỷ này không chịu ra, nếu người ta không ăn chay cầu nguyện» (Mt 17,21). V́ để trừ quỉ, cần có một sức mạnh tâm linh rất cao, tức sự thánh thiện, và để đạt được sức mạnh ấy, ăn chay cầu nguyện là một phương cách hữu hiệu.

Chính Đức Giêsu đă ăn chay 40 đêm ngày trước khi bắt đầu cuộc đời công khai của ḿnh. Đó là một mẫu gương cho ta: khi bắt đầu thực hiện hay quyết định một việc ǵ quan trọng về tâm linh, ta nên ăn chay và cầu nguyện để được nhiều ơn Chúa hầu quyết định sáng suốt và thực hiện công việc có hiệu quả.

2. Tinh thần chay tịnh

Cốt yếu của việc ăn chay không hệ tại việc nhịn ăn, kiêng ăn hay ăn ít đi, mà hệ tại tinh thần mà việc ăn chay muốn biểu lộ. Ăn chay chỉ là một h́nh thức cụ thể để biểu lộ tâm t́nh bên trong: thống hối, muốn đền tội, quyết tâm trở về với Thiên Chúa, hay muốn thể hiện tinh thần bác ái, thông cảm với những người đau khổ, hay muốn tăng cường sức mạnh tâm linh… Nếu không có những tâm t́nh bên trong ấy làm nội dung, th́ việc ăn chay chỉ là một h́nh thức trống rỗng, không có giá trị trước mặt Thiên Chúa. Ngôn sứ Giêrêmia cho biết Thiên Chúa không đoái hoài đến việc ăn chay theo kiểu thuần h́nh thức ấy: «Chúng có ăn chay, cầu khẩn, Ta cũng chẳng thèm nghe tiếng; có dâng lễ toàn thiêu và lễ phẩm, Ta cũng chẳng tỏ ḷng xót thương» (Gr 14,12).

Như vậy ăn chay cốt yếu là một việc làm trong nội tâm, không ai thấy được hơn là việc thể hiện ra bên ngoài ai cũng thấy được. Điều này phù hợp với lời khuyên của Đức Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay: «Khi ăn chay, hăy rửa mặt cho sạch, chải đầu cho thơm, để không ai thấy là anh ăn chay ngoại trừ Cha của anh». Ngôn sứ Giôen trong bài đọc 1 hôm nay cũng nhấn mạnh cái cốt tuỷ bên trong của việc chay tịnh: «Đừng xé áo, nhưng hăy xé ḷng. Hăy trở về cùng Đức Chúa là Thiên Chúa của anh em» (Ge 2,13). Điều quan trọng là trở về với Thiên Chúa hơn là ăn chay bên ngoài.

Ngôn sứ Isaia lại nhấn mạnh đến cốt lơi của việc ăn chay là tinh thần yêu thương và tôn trọng công lư, chứ không phải là h́nh thức khổ chế bên ngoài: «Này, ngày ăn chay, các ngươi vẫn lo kiếm lợi, vẫn áp bức mọi kẻ làm công cho ḿnh. Này, các ngươi ăn chay để mà đôi co căi vă, để nắm tay đánh đấm thật bạo tàn. Chính ngày các ngươi muốn ăn chay để tiếng các ngươi kêu thấu trời cao thẳm, th́ các ngươi lại ăn chay không đúng cách. Phải chăng đó là cách ăn chay mà Ta ưa chuộng trong ngày con người phải thực hành khổ chế? Cúi rạp đầu như cây sậy cây lau, nằm trên vải thô và tro bụi, phải chăng như thế mà gọi là ăn chay trong ngày các ngươi muốn đẹp ḷng Đức Chúa? Cách ăn chay mà Ta ưa thích chẳng phải là thế này sao: mở xiềng xích bạo tàn, tháo gông cùm trói buộc, trả tự do cho người bị áp bức, đập tan mọi gông cùm? Chẳng phải là chia cơm cho người đói, rước vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ; thấy ai ḿnh trần th́ cho áo che thân, không ngoảnh mặt làm ngơ trước người anh em cốt nhục?» (Is 58,3-7). Như vậy, ăn chay bằng những việc làm bác ái, bằng việc lên tiếng cho công lư, để đập tan những bất công, để bênh vực kẻ nghèo khổ, sống ngoài lề xă hội, những kẻ bị áp bức, th́ thực tế và đẹp ḷng Thiên Chúa hơn là việc nhịn ăn một cách h́nh thức.

Nói như thế không có nghĩa là không cần ăn chay mà chỉ cần đối xử với nhau cho có t́nh nghĩa, hay chỉ cần thực hiện công lư và bác ái thôi. Thiên Chúa muốn rằng «các điều này vẫn cứ phải làm, mà các điều kia th́ không được bỏ» (Mt 23,23). V́ h́nh thức và nội dung phải đi đôi với nhau: h́nh thức đ̣i buộc phải có nội dung, nhưng nội dung cũng đ̣i hỏi phải có h́nh thức. V́ thế, khi ăn chay, chúng ta vừa nhịn ăn hoặc ăn ít để thực hiện mặt h́nh thức, mà vừa phải có những tâm t́nh thâm sâu bên trong, được thể hiện cụ thể bằng việc thực thi công bằng và bác ái để thực hiện mặt nội dung. Tuy nhiên, ta cần biết là tâm t́nh thâm sâu bên trong làm cho h́nh thức thể hiện bên ngoài có giá trị. Nếu chỉ có h́nh thức bên ngoài, th́ h́nh thức đó hoàn toàn vô giá trị.

3. Ăn chay và cầu nguyện một ḿnh với Thiên Chúa

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu nhấn mạnh đến sự kín đáo khi ăn chay và cầu nguyện. Ăn chay và cầu nguyện là những hành vi đối thoại với Thiên Chúa, v́ thế, nó cần được thực hiện một cách riêng tư, trong thầm lặng với Ngài. Nó củng cố t́nh thân hay sự thân mật giữa ta với Thiên Chúa. Thật ngược đời và quái dị nếu sự thân mật riêng tư giữa vợ chồng hay bạn bè với nhau lại được phơi bày ra trước mặt mọi người. Cũng vậy, sự thân mật riêng tư giữa ta với Thiên Chúa th́ chỉ nên giữa Thiên Chúa với ta biết với nhau, không nên cố ư thực hiện trước công chúng để ai cũng biết. Cố ư ăn chay và cầu nguyện trước mặt mọi người th́ đó không c̣n là sự đối thoại thật sự với Thiên Chúa nữa, mà nó đă bị biến chất thành một hành vi đóng kịch. Như thế có khác ǵ hai người hôn nhau để người khác chụp h́nh.

Càng muốn cho mọi người thấy t́nh yêu riêng tư của ḿnh th́ t́nh yêu ấy chỉ là «t́nh yêu biểu diễn», «có vẻ yêu thương», mang nặng tính h́nh thức và giả dối, chứ không phải t́nh yêu đích thực. Chỉ những người đạo đức giả mới thích biểu diễn việc ăn chay và cầu nguyện của ḿnh trước mặt người khác. Trái với tinh thần giả h́nh ấy, Đức Giêsu khuyên ta nên cố ư dấu không cho người khác biết ḿnh ăn chay, thậm chí nên đánh lạc hướng để người khác không thể đoán ra hay nghi ngờ ḿnh ăn chay: «Khi ăn chay, nên rửa mặt cho sạch, chải đầu cho thơm, để không ai thấy là anh ăn chay ngoại trừ Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo».

CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, hôm nay là ngày mở đầu mùa Chay, Cha muốn con ăn chay trong mùa này như thế nào? Suy gẫm lời của ngôn sứ Isaia, con biết rằng lối ăn chay mà Cha thích nhất nơi con, đó là con biết quan tâm đến hạnh phúc và đau khổ của tha nhân, đến những vấn đề xă hội, đến những người nghèo khổ, người bị áp bức chung quanh con. Cha muốn con ăn chay bằng cách làm một điều ǵ đó thật cụ thể và thực tế để những người đang đau khổ ấy được hạnh phúc hơn, giảm được phần nào đau khổ của ḿnh. Cha muốn con ăn chay bằng cách nỗ lực làm cho xă hội trở nên công bằng và tốt đẹp hơn, bằng sự lên tiếng, can thiệp, hỗ trợ… trong khả năng của ḿnh. Xin cho con quảng đại và can đảm thực thi tinh thần ăn chay ấy trong mùa chay này, để chuẩn bị đón mừng mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Giêsu, Con Cha trong những tháng sắp tới. Amen.

  


 

7. Hăy xé ḷng - ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

Một vị ẩn tu sống đơn độc trên ngọn núi cao. Ngày đêm ông ăn chay cầu nguyện. ông ăn chay rất nghiêm ngặt và cầu nguyện rất tha thiết. Để thưởng công, Chúa cho xuất hiện một ngôi sao trên đầu núi. Khi ông ăn chay và cầu nguyện ít, ngôi sao mờ đi. Khi ông ăn chay nhiều và cầu nguyện nhiều th́ ngôi sao càng sáng lên. Một hôm ông muốn leo lên đỉnh cao nhất của ngọn núi. Khi ông chuẩn bị lên đường th́ một bé gái trong làng đến thăm và ngỏ ư muốn đi cùng ông. Thày tṛ hăng hái lên đường. đường càng lên càng dốc dác khó đi. Mặt trời càng lúc càng nóng gắt. Cả hai thày tṛ ướt đẫm mồ hôi và cảm thấy khát nước. Nhưng không ai dám uống. Em bé không dám uống trước khi thày uống. Vị ẩn tu không dám uống v́ sợ mất công phúc trước mặt Chúa. Nhưng nh́n thấy bé gái mỗi lúc mệt thêm, thày ẩn tu thấy thương, nên mở nước ra uống. Lúc ấy cô bé mới dám uống. Uống nước xong, cô bé mỉm cười rất tươi và cám ơn thày. Thày ẩn tu len lén nh́n lên đầu núi. Thầy sợ ngôi sao biến mất v́ thày đă không biết hăm ḿnh. Nhưng lạ chưa, trên đầu núi thày thấy không phải một mà có đến hai ngôi sao xuất hiện. Th́ ra, để thưởng công v́ thày biết nghĩ đến người khác, Chúa đă cho xuất hiện một ngôi sao nữa, sáng không kém ǵ ngôi sao kia.

Mùa chay được mở đầu bằng nghi thức xức tro và một ngày ăn chay kiêng thịt. Có lẽ có nhiều người thắc mắc tại sao ngày xưa người Do Thái rắc đầy tro trên đầu, ngồi cả trên đống tro, mà ngày nay ta chỉ xức một chút ít tro, và tại sao ngày xưa ăn chay trong bốn mươi ngày, mà ngày nay chỉ c̣n ăn chay có 2 ngày Thứ Tư lễ Tro và Thứ Sáu tuần thánh? Thưa v́ Giáo hội muốn ta càng ngày càng đi vào tinh thần hơn là chỉ giữ h́nh thức bên ngoài.

Mục đích của Mùa Chay là giúp ta trở về với Chúa và với anh em bằng sám hối nh́n nhận tội lỗi của chính ḿnh. Việc xức tro, ăn chay, cầu nguyện, làm việc thiện, chỉ là những phương tiện.

Xức tro là để tỏ ḷng sám hối. Xức nhiều tro mà trong ḷng không thật t́nh sám hối th́ có ích ǵ. Ngày nay, Giáo hội chỉ dùng một chút tro tượng trưng để nhắc nhớ ta. Xức tro trên đầu không quan trọng bằng xức tro trong tâm hồn. Hăy xức tro vào tâm hồn để ta thấy tâm hồn ḿnh đă ra hoen ố v́ tội lỗi. Hăy xức tro vào tâm hồn để ta thấy rơ ta đă bôi tro trát trấu vào khuôn mặt Thiên chúa, làm lem luốc khuôn mặt Giáo hội, làm ô danh cho đạo thánh của Chúa. Hăy xức tro vào tâm hồn để ta thấy rơ ta đă làm cho mối quan hệ với tha nhân bị vẩn đục v́ những tham vọng, những ích kỷ, những nhỏ nhen của ta. Hăy xức tro vào tâm hồn để ḷng ta xót xa, đau đớn, hối hận v́ những tội lỗi đă phạm.

Ăn chay không phải là một h́nh thức làm cho qua lần, chiếu lệ. Ăn chay không phải chỉ là nhịn ăn một hai bữa cơm. Ăn chay có mục đích nhắc nhớ ta hăy biết hăm dẹp thân xác, hăm dẹp những tính mê tật xấu, hăm dẹp những ǵ làm mất ḷng Chúa và làm phiền ḷng anh em. Giáo hội giản lược việc ăn chay vào 2 ngày trong một năm, không phải v́ coi nhẹ việc ăn chay, nhưng v́ Giáo hội muốn tránh thái độ ăn chay h́nh thức, để tập trung vào việc ăn chay trong tâm hồn. Nhịn ăn một bát cơm không bằng nhịn nói một lời có thể làm buồn ḷng người khác. Nhịn ăn một miếng thịt không bằng nhịn đi một cử chỉ xúc phạm đến anh em. Nhịn một bữa cơm ngon không bằng nhường nhịn, tha thứ, làm hoà với nhau. Kềm chế cơn đói không bằng kềm chế cơn nghiện rượu, nghiện ma tuư, nghiện cờ bạc. Kềm chế cơn khát không bằng kềm chế dục vọng, tính tham lam, thói kiêu ngạo.

Chính v́ thế mà tiên tri Dô-el đă kêu gọi dân chúng: "Hăy xé ḷng chứ đừng xé áo". Người Do thái có tục lệ khi ăn chay, thống hối th́ xé áo ra. Đó là một h́nh thức biểu lộ sự thống hối. Điều quan trọng là có tâm hồn thực sự sám hối. Xé áo không bằng xé ḷng ra khỏi những tham lam, bất công. Xé áo không bằng xé ḷng ra khỏi thói lười biếng, khô khan, nguội lạnh. Xé áo không bằng xé ḷng ra khỏi những dính bén trần tục. Xé áo không bằng xé ḷng ra khỏi thói gian dối, giả h́nh. Chỉ khi thực sự xé ḷng ra như thế, ta mới gạt bỏ được những chướng ngại ngăn cản ta đến với Chúa. Chỉ khi thực sự xé ḷng ra như thế, ta mới đến gần Chúa, sống t́nh thân mật với Chúa, hưởng được t́nh yêu thương của Chúa.

Để ăn chay trong tinh thần và để thực sự hướng về tha nhân, nhiều nước trên thế giới đă biến việc ăn chay thành những hành động bác ái cụ thể. Mỗi ngày trong mùa chay, họ bớt chi tiêu một chút, gửi tiền tiết kiệm giúp những nơi nghèo khổ, bị thiên tai. Nhờ thế, việc ăn chay của họ không c̣n là h́nh thức, nhưng là những hi sinh thực sự và trở nên những việc làm đầy t́nh bác ái huynh đệ.

Bây giờ th́ chúng ta đă hiểu thế nào là ăn chay và sám hối đẹp ḷng Chúa. Mỗi người hăy tự đặt ra cho ḿnh, cho gia đ́nh ḿnh một chương tŕnh sống Mùa Chay. Ước ǵ mùa Chay năm nay sẽ là khởi điểm của một đời sống mới, giúp mỗi người chúng ta thực sự thay đổi đời sống, mến Chúa hơn, yêu người hơn.

Lạy Chúa, xin thương xót con, v́ con là kẻ tội lỗi. Amen.

 
 

8. Chú giải của Fiches Dominicales

CHIA SẺ, CẦU NGUYỆN, CHAY TỊNH

VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

Trong 5 phản đề liên tiếp. Đức Giêsu đề cao công chính mới chống lại "sự công chính của các kinh sư và Pharisêu ".

Trong bản văn sử dụng cho Thứ Tư Lễ Tro, Đức Giêsu đề cập đến 3 cột trụ chống đỡ ḷng đạo hạnh nơi người Do Thái cũng như nơi các tôn giáo khác: bố thí, ngày nay ta gọi là chia sẻ (câu 1-4), cầu nguyện (câu 5-6) và chay tịnh (câu 16 -l8).

Thay v́ miệt thị những việc đạo đức ấy, Đức Giêsu, trước khi xem xét từng việc, đă chỉ ra tinh thần phải có khi thực hành: "nếu các ngươi muôn trở nên công chính, hăy tránh phô trương trước mặt người đời để được chú ư". Sự công chính đích thực hệ tại hiệu chính " theo thánh ư Thiên Chúa. Chỉ có Thiên Chúa biết rơ thâm tâm con người.

1. Sự chia sẻ dưới ánh mắt Chúa Cha

Claude Tassin giải thích: “Là một cơ chế quan trọng trong đạo Do Thái, sự bố thí vẫn giữ vị trí cứu trợ trong xă hội hiện đại, bày tỏ t́nh huynh đệ mà giao ước đ̣i hỏi. Việc cứu trợ người nghèo có hiệu quả tẩy xoá tội lỗi (Tb 1..,9), có giá trị như lễ hy sinh” (Hc 4,6; 7,10). Tin Mừng theo thánh Mátthêu, Centurion, 1991, trg 72).

Đức Giêsu không bài bác linh đạo này, nhưng Người tố cáo tính cách phô trương khi thực hành. Bố thí không phải “để được người đời ca tụng" cũng không phải để tŕnh diễn (đó là ư nghĩa chính xác của từ "giả h́nh"), nhưng phải làm "kín đáo, chỉ ḿnh Chúa biết v́ chỉ ḿnh Người có thẩm quyền xét định giá trị của việc làm này: "Cha ngươi thấy rơ những ǵ ngươi làm trong kín đáo: người sẽ thưởng công ngươi".

Đức Cha Daloz cảm nhận: "Mối nguy hiểm mà Đức Giêsu khuyên ta tránh xa... đó là chú ư tới bên ngoài, tới những ǵ phô trương - đó không phải là mối nguy tưởng tượng ngay cả đối với thời nay, dưới những h́nh thức mới... Sự vô vị lợi, sự kín đáo không c̣n dễ giữ trong các cộng đoàn của Giáo Hội cũng như đong các hiệp hội đời: là hội viên, là hội trưởng, là người tổ chức ta đă chẳng bị cám dỗ qui về ḿnh tất cả những dịch vụ, những công tác mà trong đó ta đă quảng đại phục vụ sao? Và ta đă chẳng bị cám dỗ khẳng định trước mặt người đời những quyền lợi, những giá trị: của ḿnh sao?... Nhưng Đức Giêsu đă nói: "Thật vậy ta bảo các ngươi, họ đă nhận được phần thưởng rồi".

Điều ta không t́m giữ cho ta, Thiên Chúa mới tiếp nhận được. Vấn đề này không liên hệ ǵ tới ḷng quảng đại... Cử chỉ chia sẻ mang trọn vẹn ư nghĩa trong t́nh yêu cho không. Chỉ có Chúa mới có thể tính sổ được t́nh yêu, v́ thước đo t́nh yêu, là vô tận".

2. Lời cầu nguyện dưới ánh mắt Chúa Cha.

Cũng vậy, kinh nguyện đừng làm như "tŕnh diễn" "để phô trương với người đời", nhưng là để ngỏ lời với "Cha, Đấng ngự trong nơi kín đáo": "Cha ngươi thấy tất cả những ǵ ngươi làm trong kín ẩn: Người sẽ thưởng công ngươi".

Đức Cha Daloz nói tiếp: "Đức Giêsu không ngừng mời gọi ta hăy trở về với sự chân thực của tâm hồn, với nội tâm”.

Hăy sử dụng các phương tiện nhưng đừng làm tổn hại cuộc gặp gỡ sâu xa, cá nhân với Chúa Cha.. V́ việc gặp gỡ Thiên Chúa rất trọng đại, nên Đức Giêsu muốn ta tránh xa nguy cơ thay thế ánh mắt Thiên Chúa bằng ánh mắt người đời. Cầu nguyện "cho người đời thấy", thay v́ cầu nguyện với Cha "Đấng thấy rơ trong nơi kín ẩn", đó là hạ giá lời cầu nguyện, là đi trệch khỏi mục tiêu. Là một h́nh thức tôn thờ ngẫu tượng khi lời cầu nguyện của ta thay hướng về Chúa lại qui về lợi lộc riêng tư của ḿnh" (Sđd., trg 66).

3. Việc chay tịnh dưới ánh mắt Chúa Cha.

C̣n về việc chay tịnh, Claude Tassin chú giải: "Căn bản đó là một dấu chỉ tang tóc. Chẳng hạn ta chay tịnh nhân ngày tưởng niệm Đền thờ bị tàn phá. Tuy nhiên, người Do Thái sùng tín c̣n biết đến một nguyên nhân tang tóc trầm trọng hơn một tai hoạ cho cả dân tộc, đó là tội lỗi, cái chết thực sự của mối liên hệ sinh tử với Thiên Chúa... Những người sùng tín gia tăng việc chay tịnh sám hối. V́ thế, những người biệt phái ăn chay mỗi tuần 2 lần. Họ c̣n thêm thắt những dấu hiệu cho tăng phần thảm năo: Không tắm rửa, không xức thuốc thơm" (Sđd, trg 77).

Đức Giêsu không chối bỏ giá trị của những h́nh thức ấy. Nhưng Người cảnh giác các môn đệ trước những thực hành phô trương. Chay tịnh là đúng, nhưng không phải để cho người khác trầm trồ thán phục và "phô trương cho mọi người" biết là ta ăn chay, mà là chay tịnh dưới ánh mắt Chúa Cha, phó thác tất cả cho Người: “Cha ngươi Đấng thấy tất cả những ǵ ngươi làm trong nơi kín ẩn: Người sẽ thưởng công ngươi”.

Một lần nữa, khi tường thuật những lời nói của Đức Giêsu, Matthêu muốn cảnh cáo các Kitô hữu trung thành với những thực hành đạo đức mà ngài không phản đối, đừng t́m xây dựng danh giá cho bản thân mà hăy phó thác cho sự chứng nhận duy nhất của Chúa Cha.

Đức cha Daloz c̣n trấn an rằng: "Nguy cơ giả h́nh ít đe doạ ta lắm. Để giữ được ư nghĩa đích thực của việc chay tịnh Kitô giáo, cần phải có một loại phân định khác. Giữa một thế giới phức tạp đủ loại tôn giáo và tinh thần thế tục, thái độ đức tin thực sự đ̣i ta phải minh bạch trong ư nghĩa của việc chay tịnh. Chỉ cần trở về với giáo huấn của Đức Giêsu là đủ: Việc chay tịnh mà Người đề cập ở đây trước hết không phải là thanh tẩy hay giải phóng cá nhân, là nỗ lực hay khổ hạnh nhằm tiến xa hơn trong việc chế ngự bản thân. Cũng không phải là giải phóng tinh thần nhờ chế ngự thân xác, để ta có thể chiêm ngắm rơ hơn cái thực tại thần linh. Đức Giêsu cũng không tŕnh bày việc chay tịnh như một phương tiện bày tỏ t́nh liên đới với những ai đói khát, hay. nhịn ăn bớt uống để chia sẻ. Tất cả những điều đó đều tốt và hữu ích, Giáo Hội, phụng vụ và các tác giả đạo đức vẫn khuyên ta nên làm... Việc chay tịnh đích thực đưa ta ra khỏi chính ḿnh, bóc ta trần trụi trước mặt Thiên Chúa. Đó không phải là một thành tựu thiêng liêng... Đó là một cách thế giữ ta nghèo nàn trước mặt Thiên Chúa, một hiến dâng chính bản thân nhờ nỗ lực khổ hạnh, nhưng trong Thiên Chúa, Đấng ban chính Người cho những ai, dù trong đêm tối và trần trụi, vẫn yêu mến tin tưởng sống dưới ánh mắt Người mà không t́m kết quả... Cũng như lời cầu nguyện, như việc bố thí, chay tịnh thực sự mà Đức Giêsu mời các môn đệ thực hành phải diễn ra trong nơi kín ẩn của mối tương giao với Chúa Cha, kín ẩn của đức tin” (sđd, trg 82).

BÀI ĐỌC THÊM

1. Mùa chay, thời gian tái thực tập sự tự do đích thực

(L Sintas, trong “Lời Chúa để suy niệm và dọn giảng. Năm C". Médiaspaul, trg 145).

Mùa Chay là thời gian thực tập, tái thực tập sự tự đo đích thực. Nếu Giáo Hội đă giảm nhẹ rất nhiều việc đền tội trong Mùa Chay, đó không phải để ta xao lăng việc hối cải đích thực. Trái lại, Giáo Hội muốn giúp ta sống việc hối cải dưới ánh mắt Thiên Chúa chứ không phải dưới sự kiểm soát của người khác, cho dù đó là những người anh em trong đức tin. Giáo Hội muốn ta nghe rơ hơn lời kêu gọi sống tự do mà chỉ có niềm phó thác trọn vẹn trong ánh mắt của Thiên Chúa mới có thể ban cho ta. 

2. Hoán cải, thống hối và giao hoà được thực hiện bằng nhiều cách:

("Cử hành việc thống hối và hoà giải", Chalet-Tardy, trg 13).

Dân Thiên Chúa thực hành và hoàn thành việc thống hối liên lỉ này dưới nhiều h́nh thức khác nhau. Hiệp thông sự nhẫn nại của ḿnh vào những đau khổ của Đức Kitô (1Pr 4,13), hoàn thành những công tŕnh của ḷng xót thương và của đức bác ái (1 Pr 4,8), khi hoán cải theo Tin Mừng Đức Giêsu Kitô mỗi ngày một hơn, ta trở nên dấu chỉ giữa thế gian về sự hoán cải trở lại với Thiên Chúa. Điều đó Giáo Hội diễn tả qua đời sống của ḿnh và cử hành trong phụng vụ. Khi các tín hữu quây quần lại tự nhận ḿnh tội lỗi, nài xin sự tha thứ của Thiên Chúa và của anh em, như ta thường làm trong các nghi thức cử hành việc sám hối, trong việc công bố Lời Chúa, trong lời cầu nguyện, trong những phút sám hối khi cử hành thánh lễ.

Các Kitô hữu được mời gọi, cả riêng tư lẫn tập thể, đáp lại tiếng gọi của Tin Mừng. Chẳng hạn như: Sự tha thứ cho nhau dưới những h́nh thức khác nhau.

- Sự chia sẻ, dưới những h́nh thức tương trợ khác nhau, cũng như mọi cố gắng vượt thoát thói ích kỷ của ḿnh.

- Phản đối bất công và đấu tranh cho sự công b́nh lớn hơn trong những mối tương quan liên chủ thể và xă hội.

- Sự dấn thân tông đồ đ̣i phải có tinh thần phục vụ và quên ḿnh.

- Cầu nguyện, dấu chỉ niềm hy vọng vào tương lai mà Thiên Chúa mở ra cho ta, vượt qua những đổ vỡ và những va chạm.

Tất cả những việc làm trên ngầm chứa sự dấn thân cá nhân của các Kitô hữu. Nhưng cuộc hoán cải và hoà giải mà mà Giáo Hội được mời gọi thực hiện c̣n quan trọng hơn cả tổng số những hoán cải cá nhân. Giáo Hội như một thân thể, được kêu mời thay đổi khuôn mặt và thái độ, trong một số trường hợp mà những thái độ tập thể của các Kitô hữu đă bị tố cáo. Thật vậy Giáo Hội không thoát khỏi gánh nặng như những phản ứng của các nhóm xă hội: phản ứng co rút lại, phản ứng loại trừ những người yếu ớt, những người sống ngoài lề xă hội. Tiếng gọi của Tin Mừng bị phản chứng mỗi lần ta khép kín cửa ḷng trước người nghèo, người bị bỏ rơi.

 
 

9. Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt

LÀM VIỆC THIỆN TRONG ÂM THẦM

1. Văn thể của đoạn này có nhiều đặc điểm khiến ta dễ đi sâu vào ư hướng của Chúa Giêsu. Ngài nói ở Ngôi Hai, theo thói quen của các ngôn sứ và hiền nhân. Kiểu xen kẽ số ít và số nhiều cũng năng thấy trong những lời khuyến dụ của Cựu Ước (vd Đnl 4,11). Nó có hai mục đích: nói cho toàn dân và áp dụng cho mỗi thính giả. Ở đây Chúa Giêsu đ̣i hỏi từng môn đệ một thái độ cá nhân; Ngài đối chiếu nhóm tín hữu của Ngài với các kẻ giả h́nh, v́ bài diễn từ của Ngài trước hết là một biện chứng. Đối lại với thái độ của bọn giả h́nh, Ngài xác định thái độ của các phần tử nước Trời. Ngài phác hoạ chân dung hai hạng với nhiều nét tiêu biểu. Hạng giả h́nh khua chiêng đánh mơ khi bố thí, đứng nơi công cộng lúc cầu nguyện, nét mặt thểu năo cho mọi người thấy ta ăn chay. C̣n môn đệ chân chính không nhớ việc ḿnh bố thí, cầu nguyện kín đáo trong pḥng, rửa mặt mày để việc ḿnh ăn chay không ai biết.

Những chân dung ấy quả có phóng đại. Thời ấy không có ai có thói quen thổi kèn kêu lũ ăn xin đến. Lại không thể có chuyện tay trái chẳng biết việc tay phải làm. Tuy nhiên ở đây Chúa Giêsu không dạy những cử chỉ nhưng là một tinh thần. Điều Ngài kết án nơi hạng giả h́nh không phải là hành vi bố thí, việc cầu nguyện công khai, cũng chẳng phải là việc ăn chay, những điều mà Ngài đă thi hành và c̣n dạy cho các môn đệ (Ga 13,29; Mc 10,21; Mt 5,41; Lc 11,41; 12,33; 16,9; 19,8-9; Mt 6,9-13; 18,19-20; 4,2; Mc 2,20; và 9,29) nhưng là thói phô trương không qui hướng những hành vi đạo đức đó về Thiên Chúa. Điều Ngài đ̣i hỏi cũng không phải là những cử chỉ mà giá trị tuỳ thuộc ư hướng tâm hồn, nhưng là sự quên ḿnh hoàn toàn, chỉ nghĩ đến Chúa Cha. V́ thế ở đây không có những huấn lệnh truyền làm việc này việc nọ, nhưng chỉ có những trường hợp điển h́nh, những thí dụ diễn tả một tinh thần.

2. Trong vấn đề bố thí, cầu nguyện và ăn chay, Chúa Giêsu lưu ư thính giả đề pḥng hành vi của bọn giả h́nh (hupocritai). Ngài nhắm đến ai? Đến biệt phái, ta thường nghĩ thế. Sự đồng hoá không phải là vô căn cớ v́ ḷng sùng đạo h́nh thức của họ đi đến phô trương, và v́ Chúa Giêsu nhiều lần gọi họ là bọn giả h́nh (Mt 15,7; 22,18; 23,13-29). Tuy nhiên, không chắc lời quở trách nhắm tất cả các người biệt phái và chỉ ḿnh họ.

Việc chống lại kẻ giả h́nh là một đề tài thường xuyên của Chúa Giêsu cũng như của môi trường Ngài. Nhưng từ ngữ “giả h́nh” lúc ấy không hẳn có nghĩa như trong ngôn ngữ thời nay. Đối với chúng ta, giả h́nh là “làm bộ đạo hạnh, nhân đức, cao thượng bên ngoài mà trong ḷng chẳng có chi” (Littre). Trong 16 đoạn Chúa Giêsu gọi các địch thủ Ngài là giả h́nh (hupoccritai), chỉ có một trường hợp giả bộ cố ư (Mt 22,18), ba lần Chúa Giêsu tố cáo sư mâu thuẫn giữa hành vi bên ngoài và thái độ sâu xa bên trong (Mt 15,7; 23,25.27). Những nơi khác, kẻ giả h́nh là kẻ mê muội, tội lỗi, vô đạo - không có vấn đề giả đ̣ làm bộ (Mt 7,5; 23,13.14.15.23.29; 24,51; Lc 12,56; 13,35). Ở đây, Chúa Giêsu và các thính giả của Ngài nghĩ đến những kẻ vô đạo muốn tỏ ra họ nhân đức. những người này không tất nhiên là những kẻ giả đ̣, họ có thể thành tâm.

3. Thái độ của Chúa Giêsu ở đây gợi lại thái độ của các ngôn sứ trong Cựu Ước, những vị đă từng kết án một thứ phụng tự thiếu hẳn ḷng thành tín bên trong. Thái độ bên ngoài, phù hợp với những đ̣i hỏi của giao ước, chỉ là cụ thể hoá ḷng thành tín nội tại đó. Chúng ta hăy nhớ lại lời quở mắng ngôn sứ Isaia dành cho bọn giả h́nh thời ông: “Giâvê phán: muôn vàn của lễ các ngươi có can hệ ǵ đến ta? Ta đă chán chê của lễ thiêu bằng chiên đực và mỡ ḅ con... Thôi, đừng dâng của lễ vô ích cho Ta nữa... Đừng làm điều ác nữa. Hăy học làm điều lành, hăy t́m sự công chính, hăy cứu giúp kẻ hà hiếp, hăy công b́nh với kẻ mồ côi” (Is 1,11-17). Cũng vậy trong Am 5,21; Tv 50,8; 51,18-19...

KẾT LUẬN

Trước Chúa Giêsu, các ngôn sứ đă từng đ̣i hỏi phải phụng thờ Thiên Chúa cách vô vị lợi. Nhưng Chúa Giêsu mặc cho tính cách đó một nguyên nhân mới: Thiên Chúa là “Cha các ngươi”, “Cha ngươi” (Ngài lặp lại 6 lần trong các câu 6,1-6.16-18). Chính v́ Thiên Chúa là Cha, nên phải nghĩ đến một ḿnh Ngài và để mặc cho Ngài lo liệu phần thưởng. Như thế, Chúa Giêsu lấy lại mọi giá trị truyền thống Israel, nhưng Ngài kiện toàn bằng cách biến đổi chúng bằng sự mới mẻ mầu nhiệm của Ngài: “không một ai biết Cha trừ ra Con và kẻ Con muốn mạc khải cho” (Mt 11,27).

Ư HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Chúa Giêsu kết án sự giả trá ghê tởm của một lối sống đạo đức bên ngoài phát xuất từ một tâm hồn kiêu căng, ưa tán thưởng. Bố thí cầu nguyện, ăn chay không có sức công chính hoá nếu chỉ là giả h́nh duy luật. Chính từ trong thâm tâm mà con người phải thực hiện sư hoán cải, sự trở về với Cha.

2. Kitô hữu không được “tự thánh hoá” bằng những nỗ lực riêng tư nhưng phải mong chờ hồng ân công chính từ Cha ḿnh, trong một tinh thần khiêm tốn đón nhận như tinh thần bát phúc.

3. Để làm đẹp ḷng Chúa Cha, chắc chắn phải thực hiện thánh ư Ngài và làm việc lành phúc đức ("không phải kẻ nói: Lạy chúa, lạy chúa là được vào nước trời đâu, song là kẻ thi hành ư Chúa Cha"). Nhưng từng ấy chưa đủ. Chính thái độ hiếu thảo, vô vị lợi đối với Cha trên trời mới làm cho những việc ấy mang tính cách thiện hảo. Nếu không, chỉ là tṛ múa rối. Cách thức duy nhất để trở thành con cái đích thực của Cha, là trở nên giống như Cha, hoàn toàn vô vị lợi.

4. Người Kitô hữu không cần ẩn núp để làm việc thiện. Trái lại ánh sáng của họ “phải chiếu giăi trước mặt mọi người” để nhờ đó thiên hạ được dẫn tới Thiên Chúa. Nhưng đồng thời người Kitô hữu không được làm việc thiện trong chủ ư mong người đời biết đến và ca tụng, v́ bấy giờ ánh sáng họ sẽ bị che lấp bởi kiêu căng và ích kỷ. Chỉ có một ḷng chân thành hoàn toàn, một sự trong suốt đích thực mới làm cho ánh sáng ḿnh thấu đến người khác.

 
 

10. Thứ năm sau Lễ Tro - Lc 9,22-25

THẬP GIÁ CỦA CON NẶNG QUÁ!

Có một người ngoài Kitô giáo đă chỉ vào thánh giá và hỏi rằng: "Tại sao người Công giáo thờ một h́nh tượng ghê rợn và thê thảm như vậy?" Quả thật, đối vớiù người đời th́ h́nh khổ thập giá là một điều đáng kinh hăi. Tuy nhiên Chúa Giêsu lại coi đó là phương thế duy nhất dẫn đến sự sống. Khi Chúa Giêsu hỏi các môn đệ: "Đám đông nói Thầy là ai?", ông Phêrô tuyên xưng Người là Đấng Kitô của Thiên Chúa. Chắc hẳn khi nói câu này, ông Phêrô nghĩ rằng Chúa Giêsu sẽ dùng quyền uy của Đấng Thiên Sai để tái lập thịnh vượng cho đất nước Do Thái. Nhưng trái với điều ông nghĩ, Chúa Giêsu báo cho các môn đệ biết trước Người sẽ hoàn thành sứ mạng thiên sai bằng con đường đau khổ và thập giá. Chúng ta cùng nhau nghe lại đoạn Tin Mừng theo thánh Luca 9, 22-25 thuật lại câu chuyện này:

"Đức Giêsu bảo rằng: "Con Người phải chịu khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết và ngày thứ ba sống lại". Rồi Người nói với mọi người: "Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính ḿnh, vác thập giá ḿnh hằng ngày mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống ḿnh, th́ sẽ mất; c̣n ai liều mất mạng sống ḿnh v́ tôi, th́ sẽ cứu được mạng sống ấy. V́ người nào được cả thế giới mà phải đánh mất chính ḿnh hay là thiệt thân, th́ nào có lợi ích ǵ?"

* * *

Thích sướng ngại khổ, tham sống sợ chết là lẽ thường t́nh của con người. Ai lại chẳng muốn đời ḿnh xuôi chèo mát mái, khỏi phải đương đầu với gian nan trắc trở. Là Kitô hữu, chúng ta cũng không ra ngoài tâm trạng đó. Lắm lúc chúng ta muốn sống đạo một cách khoẻ khoắn, không phải nhọc công gắng sức, không phải hy sinh khổ chế. Chúng ta mong ước quê trời, và chúng ta cũng mong ước đường lên quê trời cho thật êm ả! Lời Chúa ngày hôm nay đánh thức chúng ta khỏi tâm trạng cầu an đó. Lời đầu tiên mà Chúa Giêsu muốn gởi đến cho mỗi người chúng ta trong mùa Chay năm nay là: "Ai muốn theo tôi".

Qua lời mời gọi trên đây, Chúa Giêsu muốn chúng ta xét lại cách chúng ta vẫn sống đạo hàng ngày. Chúng ta có thật sự sống theo tinh thần Tin mừng không, hay chúng ta chỉ là những Kitô hữu trên danh xưng? Chúng ta có thật sự sống chết v́ đức tin không, hay đức tin cũng chỉ là một thứ gia vị thêm vào trong cuộc sống của chúng ta? Hôm nay, Chúa Giêsu muốn mỗi người chúng ta lựa chọn và xác định lại lập trường của ḿnh trong việc sống đạo. Người muốn chúng ta có một quyết định dấn thân quyết liệt và dứt khoát, chứ không chỉ giữ đạo ngoài đầu môi chót lưỡi, hoặc giữ đạo theo thói quen. Người muốn chúng ta thật sự lên đường theo Người tiến về quê trời.

Tiếp theo lời mời gọi lên đường, Chúa Giêsu đưa ra cho chúng ta các điều kiện để vững vàng tiến bước. Người đ̣i hỏi chúng ta phải từ bỏ chính ḿnh, vác thập giá ḿnh hằng ngày mà theo.

Người ta kể một câu chuyện vui như sau: Có một người nọ than văn với Chúa Giêsu rằng cây thập giá ḿnh đang vác nặng nề quá, c̣n những cây thập giá của một số người khác th́ lại nhẹ nhàng hơn. Chúa Giêsu bảo người ấy đem cây thập giá kia vào kho, rồi cho người ấy tự do lựa chọn một cây khác thích hợp với ḿnh. Sau một thời gian lựa lọc, người ấy chọn được cây thập giá ưng ư và hí hửng đem tới khoe với Chúa Giêsu. Ngài mỉm cười và nói: "Đây chính là cây thập giá mà con đă bỏ vào kho hồi năy!"

* * *

Sau khi nguyên tổ loài người phạm tội, con người đánh mất niềm an vui hạnh phúc mà Thiên Chúa ban cho thuở ban đầu. V́ phạm tội, con người bị đuổi khỏi vườn địa đàng, là nơi họ được hưởng hạnh phúc bên Chúa. Ở ngoài vườn địa đàng, con người phải tự lực cánh sinh. Đàn ông phải đổ mồ hôi sôi nước mắt để có cơm ăn áo mặc. Đàn bà phải mang nặng đẻ đau để lưu truyền ṇi giống. Kể từ đó, con người phải liên tục đối đầu với những khó khăn và trở ngại trong cuộc sống. Đau khổ và thập giá là hậu quả của tội lỗi. Con người t́m mọi cách, nhưng không tài nào thoát ra được. Nếu Thiên Chúa không ra tay cứu vớt th́ nhân loại phải muôn đời sống trong khổ ải.

V́ yêu thương, Đức Giêsu Kitô đă xuống thế làm người. Ngàøi đă mang lấy thân phận con người như chúng ta, để chia sẻ những đau khổ và thập giá của chúng ta. Sau cùng, Người đă dùng chính cái chết và sự sống lại của ḿnh để đánh bại tội lỗi và sự chết. Nhờ sự phục sinh của Đức Giêsu, đau khổ và thập giá mang một ư nghĩa mới. Vất vả cực nhọc vẫn c̣n đấy. Nhưng chúng không đè bẹp được những ai tin vào ơn cứu độ của Người. Trái lại, chúng trở nên những cơ hội giúp con người thanh luyện và thăng tiến bản thân. Như một vận động viên leo núi, để lên cao, người ấy phải tốn nhiều sức lực và mồ hôi, có khi c̣n kèm thêm máu và nước mắt. Nhưng đổi lại, người ấy được hưởng niềm vui chinh phục đỉnh cao. Nếu ngại khổ ngại khó, người ấy sẽ đứng măi dưới chân núi mà ôm ấp giấc mộng không thành!

Cuộc sống đạo của chúng ta cũng tương tự như thế. Để theo chân Đức Giêsu tiến lên đỉnh Can-vê, chúng ta cũng phải trải qua bao gian lao vất vả. Hành tŕnh đức tin là một hành tŕnh leo ngược lên con dốc sa ngă mà ngày xưa tổ tông chúng ta đă lao xuống. Con đường đi lên đ̣i hỏi phải nỗ lực không ngừng. Có khi phải chấp nhận tủi nhục, phải gánh chịu thiệt tḥi. Thoạt nh́n từ bên ngoài, thập giá mà mỗi người chúng ta đang vác đôi khi nặng nề quá sức ḿnh, và đôi lúc có vẻ phi lư. Thế nhưng câu chuyện vui mà chúng ta vừa nghe trên đây nhắc chúng ta nhớ rằng: những gian khổ mà chúng ta phải trải qua chính là những phương tiện thích hợp giúp chúng ta nên thánh. Chúa không trao cho chúng ta những thập giá vượt quá sức của chúng ta. Khi trao thập giá, Người luôn ban cho chúng ta các ơn cần thiết giúp chúng ta vác được nó mà đi theo Người. Nếu chúng ta thấy thập giá của ḿnh quá nặng nề, ấy là v́ chúng ta chỉ vác nó với sức riêng của chúng ta thôi. Chúa Giêsu biết rơ điều này nên Người dạy chúng ta phải từ bỏ chính ḿnh trước đă rồi mới vác thập giá. Khi từ bỏ chính ḿnh, chúng ta sẽ cậy dựa vào Chúa, sẽ bước đi dưới sự nâng đỡ của Chúa. Nhờ ơn phù trợ ấy, chúng ta sẽ vác được thập giá của ḿnh và mạnh dạn theo Chúa lên đỉnh đồi Can-vê, can đảm chịu đóng đinh với Người để được cùng sống lại với Người.

Lạy Chúa, đứng trước thập giá, ai mà không ngại ngùng run sợ. Có ai dám tự hào là ḿnh sẽ hiên ngang vui vẻ vác lấy nó? Chúa biết rơ con là con người yếu đuối, hay ngại khổ ngại khó. Xin ban cho con ơn can đảm và quảng đại, để con hăng hái vác thập giá hằng ngày mà tiến bước theo Chúa. Xin Chúa cho con hiểu và sống lời Chúa dạy: "Ai liều mất mạng sống ḿnh v́ tôi, th́ sẽ cứu được mạng sống ấy". Amen.

 


 

11. Thứ sáu sau Lễ Tro - Mt 9,14-15

TRÊN ĐƯỜNG ĐẾN TIỆC CƯỚI NƯỚC TRỜI

Ăn chay là một trong ba việc làm chính để tỏ ḷng sám hối ăn năn. Thế nhưng, trong bài Tin mừng mà chúng ta sắp nghe sau đây, ăn chay lại là một đề tài tranh luận giữa các môn đệ của ông Gioan và Chúa Giêsu. Bài Tin mừng theo thánh Matthêu 9,14-15 thuật lại việc này như sau:

"Bấy giờ, các môn đệ ông Gioan tiến lại hỏi Đức Giêsu rằng: "Tại sao chúng tôi và các người Pharisêu ăn chay, mà môn đệ ông lại không ăn chay?" Đức Giêsu trả lời: "Chẳng lẽ khách dự tiệc cưới lại có thể than khóc, khi chàng rể c̣n ở với họ? Nhưng khi tới ngày chàng rể bị đem đi rồi, bấy giờ họ mới ăn chay."

* * *

Để có thể hiểu cuộc tranh luận này một cách rơ ràng hơn, chúng ta cùng nhau t́m hiểu sơ qua về việc ăn chay của thời bấy giờ: theo sách Lêvi 16,19-31 th́ luật cũ chỉ buộc người Do Thái ăn chay mỗi năm một lần vào ngày đền tội. Đến thời Chúa Giêsu, ngoài việc giữ chay mỗi năm một lần này, người ta c̣n tự nguyện giữ những ngày chay chung v́ những lư do khác. Ngoài ra, một số người đạo đức c̣n giữ thêm những ngày chay riêng, như nhóm Pharisêu ăn chay một tuần hai lần.

Như vậy, việc ăn chay mà các môn đệ ông Gioan thắc mắc ở đoạn Tin mừng trên đây là việc giữ chay riêng v́ ḷng đạo đức, chứ không phải v́ luật buộc. Đức Giêsu và các môn đệ của Người không phủ nhận giá trị của việc ăn chay theo truyền thống, bởi chính Người cũng đă vào hoang địa ăn chay bốn mươi đêm ngày trước khi ra đi rao giảng. Tuy nhiên, trong bối cảnh mới của thời Đấng Thiên Sai, Đức Giêsu muốn nhắc lại rằng mục đích chính của việc ăn chay trong thời Cựu ước là để chờ đón Đấng Mêsia. Hiện nay, việc họ tự nguyện ăn chay là tốt, nhưng có một việc c̣n tốt hơn: đó là nhận biết Đức Giêsu Na-da-rét chính là Đấng Mêsia mà Chúa Cha sai đến để cứu độ trần gian.

Để giúp các môn đệ ông Gioan có thể mở ḷng ra mà nhận biết Người, Đức Giêsu trả lời họ bằng một câu hỏi gợi ư: "Chẳng lẽ khách dự tiệc cưới lại có thể than khóc, khi chàng rể c̣n ở với họ?" Nếu những người môn đệ này của ông Gioan đă có mặt khi xảy ra cuộc tranh luận trước đây giữa các bạn đồng môn và một người Do Thái về việc thanh tẩy, hẳn họ sẽ nhớ ngay lại lời thầy ḿnh đă nói về Đức Giêsu như sau: "Ai cưới cô dâu, người ấy là chú rể. C̣n người bạn chú rể, đứng đó nghe chàng, th́ vui mừng hớn hở v́ được nghe tiếng nói của chàng. Đó là niềm vui của Thầy, niềm vui ấy bây giờ đă trọn vẹn". Phải, Đức Giêsu chính là chú rể trong tiệc cưới Nước Trời. Bao lâu có Đức Giêsu ở cạnh, th́ bấy lâu họ không phải âu sầu phiền năo. Chỉ khi nào mất Chúa họ mới phải ăn năn khóc lóc thôi!

* * *

Chúa Giêsu đă rất sát với đời thường khi đưa ra h́nh ảnh tiệc cưới và chú rể để nói về Nước Trời và bản thân Người. Vâng, tiệc cưới là một h́nh ảnh quá quen thuộc với chúng ta. Ở bất cứ nơi nào thời nào, ngày cưới luôn luôn là một ngày trọng đại, một ngày vui vẻ cho gia đ́nh. Và các nhân vật chính luôn là chú rể và cô dâu. Phải, Nước Trời là một bữa tiệc cưới, trong đó Đức Giêsu chính là chàng rể, và Giáo Hội chính là cô dâu. Sự kết hợp giữa Đức Giêsu và Giáo Hội mang lại hạnh phúc và hoan lạc đời đời cho những ai tham dự tiệc cưới đó, tức là cho những ai gia nhập vào gia đ́nh Giáo Hội. Khi một gia đ́nh có tiệc cưới, mọi thành viên trong gia đ́nh đều vui mừng phấn khởi. Ai cũng muốn bắt tay vào việc, mỗi người tuỳ sức ḿnh mà đóng góp cho niềm vui chung. Trong ngày đó, ai cũng trở nên dễ mến dễ thương, ai cũng trở nên ân cần tử tế. Nhờ sự hiện diện của chú rể, không khí trong nhà đượm nét đầm ấm và vui tươi. Tất cả mọi ưu tư phiền muộn đều tạm gác lại. Mọi người tập trung tận hưởng niềm vui của ngày hôn lễ. Đâu cũng nghe tiếng cười. Đâu cũûng thấy đèn hoa.

Là con cái của Giáo Hội, chúng ta đang được tham dự tiệc cưới của Đức Kitô và Giáo Hội. Đức Kitô đă phục sinh vinh hiển, đă được Chúa Cha trao ban danh dự và vinh quang. C̣n Giáo Hội, v́ đang lữ hành dưới trần gian, nên vẫn c̣n mang nơi ḿnh những t́ tích và khuyết điểm của con cái. Giáo Hội đang cố gắng thanh tẩy và canh tân để ngày càng trở nên hiền thê xứng đáng của Đức Kitô. Trong nỗ lực này, Giáo Hội luôn kêu gọi chúng ta sám hối và canh tân. Vào những năm cuối thế kỷ 20, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô 2 đă liên tục đưa ra những sáng kiến táo bạo để thúc đẩy Giáo Hội tiến sâu và tiến nhanh hơn trong công cuộc sám hối và canh tân này. Chính trong Năm Thánh 2000, Ngài đă cùng Giáo Hội thực hiện rất nhiều việc cụ thể, đáng lưu ư là việc tổ chức những ngày thánh cho các ngành giới. Trong những ngày ấy, tất cả mọi con cái Giáo Hội đều được mời gọi tham gia tích cực vào việc thanh tẩy bản thân để trở nên con người mới. Qua các phương tiện thông tin, chúng ta đă cùng hiệp thông với nhau, đă chia sẻ cho nhau những hồng ân mà ḿnh nhận được trong những ngày trọng đại ấy.

H́nh ảnh Giáo Hội lữ hành chen vai sát cánh trên hành tŕnh về quê trời là một h́nh ảnh tuyệt đẹp. Trong đoàn lữ hành này, mỗi người nương tựa vào Chúa Kitô và vào nhau để tiến bước. Chúng ta cũng có thể liên tưởng đến h́nh ảnh một gia đ́nh đang nắm tay nhau đi dự tiệc cưới Nước Trời. Con đường đến nơi dự tiệc c̣n xa. Những gian nan trắc trở c̣n nhiều. Trên con đường lữ hành này, chúng ta cần nhiều trạm dừng chân để bồi bổ dưỡng sức. Những ai đau yếu cần được thuốc thang chữa trị. Những ai yếu mệt cần được nghỉ ngơi tĩnh dưỡng. Mùa Chay năm nay là một trong những trạm dừng chân đó. Các việc bố thí, cầu nguyện và ăn chay là những phương thế để chúng ta chữa trị và bồi bổ cho linh hồn ḿnh thêm mạnh khoẻ. Ước mong sao mỗi người chúng ta vận dụng được những phương thế này một cách hữu hiệu, để sau chặng nghỉ chân, chúng ta tiếp tục hành tŕnh một cách vững vàng hơn.

Lạy Chúa Giêsu, ngôn sứ Êlia kiên cường biết bao mà cũng đă có lúc mệt lả đuối sức trên đường lên núi Khô-rếp, huống chi con là những kẻ yếu hèn. Xin Chúa giúp con sống mùa Chay năm nay một cách nghiêm túc, để nhờ được chữa trị và bồi bổ bằng các việc bố thí, cầu nguyện và ăn chay, con hân hoan tiến bước theo Chúa trên hành tŕnh đến dự tiệc vui Nước Trời. Amen

  
 

12. Thứ bảy sau Lễ Tro - Lc 5,27-32

CUỘC GẶP GỠ ĐỊNH MỆNH

Trong cuộc sống, gặp gỡ nhau là việc thường t́nh. Tuy nhiên, có những cuộc gặp gỡ làm thay đổi vận mệnh của một đời người. Cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và ông Lêvi là một trong những trường hợp đó Chúng ta cùng nghe câu chuyện này trong Tin mừng theo thánh Luca 5,27-32:

"Sau đó, Đức Giêsu đi ra và trông thấy một người thu thuế, tên là Lêvi, đang ngồi ở trạm thu thuế. Người bảo ông: "Anh hăy theo tôi!" Ông bỏ tất cả, đứng dậy đi theo Người. Ông Lêvi làm tiệc lớn đăi Người tại nhà ông. Có đông đảo người thu thuế và những người khác cùng ăn với các ngài. Những người Pharisêu và những kinh sư thuộc nhóm của họ mới lẩm bẩm trách các môn đệ Đức Giêsu rằng: "Sao các ông lại ăn uống với bọn thu thuế và quân tội lỗi?" Đức Giêsu đáp lại họ rằng: "Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn".

* * *

Trong tất cả các cuộc hoán cải được thuật lại trong Kinh Thánh, chúng ta thấy Thiên Chúa luôn là Đấng ngỏ lời đầu tiên. Trong thời Cựu ước, Giavê Thiên Chúa thường khiển trách nặng lời và đe doạ trừng phạt để thức tỉnh kẻ tội lỗi. C̣n trong thời Tân ước, Đức Giêsu thường kêu gọi một cách khoan dung nhân từ để giúp người có tội sám hối canh tân.

Trở lại với câu chuyện ông Lêvi, chúng ta biết rằng trong xă hội Do Thái thời Chúa Giêsu, những người làm nghề thu thuế bị dân chúng ghét bỏ và liệt vào hạng tội lỗi. Ông Lêvi là một nhân viên thu thuế, và người ta nh́n ông với cặp mắt đầy ác cảm. Sự ác cảm này không phải là vô cớ, v́ khi làm nghề thu thuế, hầu chắc ông khó tránh được những lần lem nhem tiền bạc, đút lót đầu này ăn chận đầu kia. Sống chung với những người thu thuế, làm sao ông có thể tránh được những thói hư tật xấu của họ? Ông cha ta có nói: "Gần mực th́ đen", câu nói này chắc cũng không ngoa! Có tiền có quyền th́ dễ có cơ hội giao du với những người xa hoa phóng đăng. Số bạn bè mang tiếng là "bọn thu thuế và quân tội lỗi" đến dự tiệc tại nhà ông hôm ấy có thể minh chứng phần nào cho điều này.

Tuy hành nghề thu thuế, tuy sống lăn lộn với giới bất lương tội lỗi, nhưngơ thâm tâm ông luôn cảm thấy bất an. Ông cảm thấy đời ḿnh có cái ǵ đó không ổn, có cái ǵ đó cần phải bỏ đi, có cái ǵ đó cần phải sửa sang chỉnh đốn lại. Ban ngày ông ra bàn thu thuế loay hoay với tiền bạc, với những kẻ trên cúi dưới ḷn. Nhưng đêm về, đối diện với chính ḿnh, ông thấy buồn da diết: tiền bạc không mang lại cho ông niềm vui đích thật! Từng đêm rồi lại từng đêm, ông dằn vặt khổ sở v́ những ư nghĩ tốt xấu cứ đấu tranh dai dẳng trong tâm hồn. Ông muốn t́m cho ḿnh một lối thoát, thế nhưng cái tḥng lọng của nghề nghiệp, của lợi nhuận vẫn cứ xiết chặt lấy ông.

Mấy hôm rồi, quanh bàn thuế, ông nghe người ta nói nhiều đến một Thầy Giêsu nào đó đă mang lại an vui cho nhiều người. Lêvi nửa tin nửa ngờ: Thầy Giêsu là ai mà có thể làm được điều đó? Ông ṭ ṃ t́m hiểu và nghe được rất nhiều điều thú vị. Ông thầm ước mong ḿnh có cơ hội gặp được vị Thầy có sức cảm hoá ấy, nhưng công việc bàn thuế và các mối giao lưu nghề nghiệp cứ chiếm hết giờ của ông!

Thế rồi hôm nay, một ngày định mệnh của đời ông: Thầy Giêsu đi ngang trạm thu thuế, thấy ông và gọi ông. Không chần chừ, ông đứng dậy đi theo Người, liều mất cả việc làm béo bở, liều chịu mọi hậu quả rắc rối có thể xảy đến sau này.

Lêvi đă khởi sự tiến tŕnh hoán cải. Ông đă cương quyết rời bỏ bóng tối để đi ra miền đất ánh sáng. Ông cương quyết làm lại cuộc đời. Cơ hội đă tới, ôÂng phải bám lấy nó, không thể để cơ hội hiếm hoi này vuột khỏi tay ông. Ông đă quá ngán ngẩm những đêm dài trằn trọc. Phải cương quyết ra đi thôi. Ông về nhà tổ chức một bữa tiệc lớn, mời Thầy Giêsu, các môn đệ của Thầy và các thân bằng quyến thuộc của ḿnh đến chung vui, để nói lên quyết định trọng đại của ḿnh, để từ giă họ mà đi theo vị thầy mà ông tin là sẽ mang lại cho đời ḿnh niềm hạnh phúc an vui đích thật.

Bữa tiệc vui này lại làm xốn xang những người Pharisêu và những kinh sư thuộc nhóm của họ. Vốn tự xưng là công chính, những người này mới lẩm bẩm trách tại sao các môn đệ của Chúa Giêsu lại ăn uống với bọn thu thuế và quân tội lỗi! Những người Pharisêu và những kinh sư này không muốn hoán cải và cũng không muốn thấy những người khác hoán cải! Chúa Giêsu điềm tĩnh trả lời: "Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn ".

* * *

Tiến tŕnh hoán cải là con đường trở về được Thiên Chúa vạch ra cho chúng ta, là những tội nhân. Tiến tŕnh này cho chúng ta thấy ḷng thương xót bao la của Thiên Chúa biểu lộ qua Đức Giêsu Kitô. Người không đến để luận tội chúng ta, nhưng để vạch cho chúng ta thấy tội lỗi của ḿnh mà hoán cải, hầu được giải thoát khỏi ṿng cương toả của tội lỗi và được sống an vui thanh thản. Qua các câu chuyện thuật lại trong các sách Tin mừng, chúng ta thấy Đức Giêsu luôn t́m dịp đến với những người tội lỗi. Người lân la chuyện tṛ với họ. Người cùng ăn cùng uống với họ, để khơi dậy nơi họ niềm hy vọng vươn lên khỏi t́nh cảnh đáng thương của ḿnh. Và khi kẻ tội lỗi đă có thiện chí hoán cải, Người luôn tạo cơ hội thuận tiện để giúp họ làm lại cuộc đời.

Chúng ta là những tội nhân trước mặt Thiên Chúa và trước mặt anh chị em. V́ là người có tội, chúng ta thường mang nhiều mặc cảm. Chúng ta muốn vươn lên, muốn thoát ra khỏi t́nh trạng đáng buồn của ḿnh. Nhưng có lúc chúng ta không đủ can đảm, có lúc lại chẳng có ai ch́a tay ra nâng đỡ chúng ta! Chúa Giêsu hiểu rơ tâm trạng này. Người là vị Lương Y từ ái sẵn sàng ra tay cứu chữa mọi kẻ bệnh hoạn tật nguyền. Người là vị Mục Tử nhân lành biết rơ từng con chiên của ḿnh. Người sẵn sàng tạm rời chín mươi chín con chiên đă yên ổn trong đàn để đi t́m một con chiên lạc, và đưa nó trở về sum họp với đàn.

Lạy Chúa, con là một tội nhân hư hỏng. Những tội lỗi mà con quen phạm cứ măi dằn vặt trong tâm hồn con. Con rất muốn dứt bỏ những tội lỗi ấy. Nhưng rồi con cứ sa đi ngă lại măi, khiến nhiều lúc con nản chí muốn buông xuôi. Nhân mùa Chay này, xin Chúa giúp con đảm đứng dậy như ông Lêvi, đi ra khỏi vùng đất tối tăm của sự chết, để theo Chúa tiến về miền đất ánh sáng của sự sống muôn đời. Amen.

  


 

* CHÚA NHẬT 1 MÙA CHAY

1. Cám dỗ - ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

Cám dỗ là chuyện xưa như trái đất. Từ khi có con người, đă có cám dỗ. Hẳn ta không thể quên chuyện hai ông bà nguyên tổ sa chước cám dỗ của ma quỷ. Dân Do Thái, khi bị nô lệ dưới ách người Ai cập th́ muốn được tự do. Nhưng khi lang thang 40 năm trong sa mạc, phải chịu đói khát, lại bị cám dỗ quay trở lại Ai cập để được no ấm. Nhưng có thể nói, 3 cơn cám dỗ mà Đức Giêsu phải đương đầu hôm nay gồm tóm tất cả mọi thứ cám dỗ mà ta thường gặp.

+ Cơn cám dỗ thứ nhất: thoả măn tức khắc mọi nhu cầu.

Sau khi Đức Giêsu ăn chay 40 đêm ngày. Ma quỷ đề nghị Người biến đá thành bánh mà ăn. Thật là một đề nghị hợp lư. Đói th́ phải ăn. Muốn ăn th́ phải có bánh. Nhưng có bánh bằng cách nào mới là vấn đề. Không phải cứ có nhu cầu là phải thoả măn ngay. Và nhất là không được dùng những cách không hợp đạo lư để thoả măn những nhu cầu của ḿnh. Cơm bánh tượng trưng cho những nhu cầu thiết yếu của con người. Nhu cầu của con người th́ có nhiều và có khuynh hướng ngày càng gia tăng. V́ thế cơn cám dỗ thoả măn nhu cầu ngày càng lớn.

+ Cơn cám dỗ thứ hai: muốn có quyền lực thống trị.

Ma quỷ biết Đức Giêsu muốn cứu độ loài người, nên đề nghị tặng Người tất cả các nước trên trần gian. Có lẽ nhiều người nghĩ rằng đề nghị của ma quỷ là hợp lư. Cứ có quyền thống trị trên hết mọi dân nước rồi nói ǵ người ta chẳng nghe. Chúa sẽ không phải mất công chịu đau khổ chịu chết. Chỉ cần quỳ xuống thờ lạy ma quỷ, vua quan dân chúng các nước sẽ răm rắp tuân theo. Thật là tiện lợi. Quyền lực là một cơn cám dỗ muôn đời của nhân loại. Từ ngàn xưa, vua chúa các nước đă không ngừng gây chiến để tranh giành quyền lực. Ngày nay, trong các cuộc chiến mới, người ta không c̣n giết nhau bằng gươm đao, súng đạn, nhưng bằng quyền lực kinh tế, khoa học, kỹ thuật. Tuy êm đềm nhưng cuộc chiến vô cùng khốc liệt. Cơn cám dỗ về quyền lực thống trị không những không suy giảm mà c̣n mănh liệt hơn.

+ Cơn cám dỗ thứ ba: t́m những điều kỳ lạ.

Muốn những chuyện thần kỳ. Muốn làm được những việc kinh thiên động địa. Muốn có những thành công lẫy lừng. Cơn cám dỗ này thúc đẩy người ta đổ xô đi t́m phép lạ. Cơn cám dỗ xây tháp Ba ben từ ngàn xưa vẫn c̣n tiếp diễn.

Xuyên qua những cơn cám dỗ ấy ta thấy ma quỷ thật vô cùng tinh khôn và hiểm độc.

Với cơn cám dỗ thứ nhất, ma quỷ muốn xô đẩy con người làm nô lệ cho dục vọng. Xúi giục con người chỉ t́m thoả măn những bản năng thấp hèn. Giới hạn con người vào sự sống xác thịt. Đức Giêsu đă vạch trần âm mưu của ma quỷ khi Người cho biết con người không chỉ có đời sống thể lư mà c̣n có đời sống tâm linh. Người nâng cao phẩm giá con người khi quyết tâm chống lại cơn cám dỗ thoả măn những nhu cầu thân xác để chăm lo cho sự sống tâm linh.

Với cơn cám dỗ thứ hai, ma quỷ muốn biến con người thành nô lệ cho tham vọng, nô lệ cho ma quỷ. V́ ham hố chức quyền, v́ mưu cầu danh vọng mà đánh mất tự do của ḿnh, cam tâm làm nô lệ cho ma quỷ. V́ tham vọng mà đánh mất chính ḿnh. Đức Giêsu vạch trần âm mưu đen tối của ma quỷ khi cương quyết chối từ danh vọng quyền thế. Người c̣n chỉ cho ta con đường duy nhất phải theo đó là thờ phượng Thiên Chúa. Chỉ có thờ phượng Thiên Chúa mới đem đến cho con người tự do đích thực, tự do trong tâm hồn, không bị nô lệ một tham vọng nào.

Với cơn cám dỗ thứ ba, ma quỷ đẩy con người vào nô lệ cho cuồng vọng. Điên cuồng đến chống lại Thiên Chúa. Dùng Thiên Chúa để phục vụ cho những ước vọng ngông cuồng của ḿnh. Không đến với Chúa trong tâm t́nh của người con thảo đối với Cha hiền. Đức Giêsu đă vạch trần âm mưu của ma quỷ. Người chỉ cho ta con đường của người con hiếu thảo. Người con hiếu thảo tin cậy phó thác và luôn làm theo ư Cha, chứ không bao giờ dám thách thức Cha. Người con hiếu thảo vâng lệnh Cha sai bảo chứ không bao giờ dám sai bảo Cha.

Cám dỗ của ma quỷ hiểm độc v́ nó tiến từng bước: Từ hạ thấp phẩm giá con người khi khiến con người làm nô lệ cho dục vọng đến cướp mất tự do của con người khi xúi giục con người nô lệ cho ma quỷ. Và sau cùng đi đến chỗ tận cùng là chối bỏ Thiên Chúa, không coi Thiên Chúa là cha. Cám dỗ càng hiểm độc v́ ma quỷ đă khéo léo học những âm mưu thâm hiểm trong lớp vỏ nhung lụa, êm ái, hợp lư và đầy quyến rũ của những nhu cầu, quyền lực và uy tín.

Ngày nay, những cơn cám dỗ của ma quỷ vẫn như những chiếc bẫy giăng ra để trói buộc con người trong ṿng nô lệ. Cám dỗ càng ngày càng tinh vi và càng ngọt ngào hơn nên càng hiểm độc hơn. Muốn chống trả được những cơn cám dỗ, ta phải bắt chước Đức Giêsu dùng những vũ khí sắc bén, đó là ăn chay cầu nguyện, thấm nhuần Lời Chúa và luôn sống tâm t́nh của người con thảo đối với Chúa.

Lạy Chúa, xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ. Amen.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

1. Bạn đă gặp nhiều cơn cám dỗ, bạn đă chống trả những cơn cám dỗ như thế nào?

2. Có những việc lúc đầu bạn thấy là tốt. Măi sau này bạn mới biết là xấu. Bạn có nghĩ đó là âm mưu của ma quỷ không?

3. Bạn có ư thức rằng ma quỷ vẫn đang hoạt động mạnh mẽ trong thế giới ngày nay không?

4. Mùa Chay này, bạn sẽ làm ǵ để pḥng chống âm mưu ma quỷ?

 
 

2. Không chỉ nhờ cơm bánh

Suy Niệm

Làm người ở đời là chấp nhận thân phận cám dỗ.

Con người vừa mang trong ḿnh khát vọng vươn tới Tuyệt Đối, vừa thấy ḿnh luôn bị một mănh lực kéo tŕ, nên đời người lúc nào cũng phải chiến đấu giằng co, chỉ một chút lơi lỏng yếu mềm là sa ngă.

Con người cao cả khi thắng được cám dỗ trong ngoài.

Lúc buông theo cái tôi dễ dăi tầm thường, tôi chẳng là tôi. Chỉ khi tôi vượt qua tôi, tôi mới thật là ḿnh.

Tôi chỉ là tôi khi tôi vươn tới Chân, Thiện, Mỹ.

Trong mùa Chay, ta hăy để Thánh Thần dẫn vào hoang địa. Hăy cùng với Đức Giêsu sống trong cô tịch, cầu nguyện và ăn chay, để có khả năng nhận ra các cơn cám dỗ quen thuộc.

Biết ḿnh bị cám dỗ thật là một ơn, v́ ma quỷ chẳng phải là một con vật có đuôi lộ liễu.

Những cám dỗ của Đức Giêsu cũng là của tôi hôm nay.

Cám dỗ đầu tiên đánh thẳng vào điểm yếu của Ngài.

Sau một thời gian dài nhịn ăn, Ngài thấy đói. Cái đói làm tê liệt, và đụng đến bản năng sinh tồn. Điều duy nhất cần đối với người đói là tấm bánh. Đức Giêsu đă thắng được cơn cám dỗ này. Ngài không phủ nhận sự cần thiết của vật chất, nhưng con người không chỉ sống nhờ cơm bánh.

Lợi nhuận trong kinh tế là điều quan trọng, nhưng không được quên các giá trị văn hoá, luân lư, tôn giáo... Lắm khi cái đói vật chất vẫn chi phối chúng ta. Người ta dễ hiểu sai câu: "Có thực mới vực được đạo."

Chúng ta vẫn bị cồn cào bởi những thèm thuồng: chính đáng và không chính đáng, cá nhân và tập thể, nhưng đừng để ḿnh thoả măn cơn đói bằng mọi giá.

Cám dỗ thứ hai là một cám dỗ thô bạo và hấp dẫn: bái lạy ma quỷ để được quyền lực và vinh quang.

Có nhiều người nhẹ dạ đă tin vào lời hứa hăo này. Bao đế quốc, bao nhà độc tài đă trôi đi trong ḍng lịch sử.

Đức Giêsu chẳng muốn nhận quyền từ ai khác ngoài Cha. Chỉ Cha mới là Đấng duy nhất để Ngài thờ phụng.

Cơn cám dỗ thứ ba có vẻ đạo đức, kỳ thực lại là dấu hiệu của sự thiếu ḷng tin.

Tôi đưa ḿnh vào t́nh huống hiểm nghèo, để bắt Chúa hành động.

Nhảy xuống từ nóc Đền Thờ mà không chết, quả là ngoạn mục! Chúng ta vẫn thích Chúa làm chuyện ngoạn mục cho đời ta. Chúng ta không thích sống trong ḷng tin êm ả, như đứa con biết rơ Cha thương ḿnh, không đ̣i kiểm chứng.

Tiền bạc, của cải, sắc đẹp, khoái lạc, bằng cấp, tự do, quyền lực, uy tín, danh dự, chủng tộc, khoa học, kỹ thuật: tất cả những giá trị trên đều đáng quư. Nhưng nếu tôi tôn chúng lên hàng Tuyệt Đối viết hoa, và thờ chúng như một ngẫu tượng, th́ tôi và thế giới sẽ như kim tự tháp lật ngược.

Ước ǵ Chúa giúp tôi tự cởi trói ḿnh mỗi ngày, để tôi càng lúc càng tự do đến gần Đấng Tuyệt Đối.

Gợi Ư Chia Sẻ

Bạn có tin ma quỷ không? Ma quỷ là ai? Bạn có thấy sức cám dỗ của ma quỷ không?

Ma quỷ thường tấn công vào chỗ yếu của ta. Bạn có biết rơ những chỗ yếu của bạn không?

Cầu Nguyện

Lạy Chúa Giêsu, bị cám dỗ là thân phận của con người, nhưng thắng được cám dỗ là nhờ ơn của Chúa.

Cuộc sống hôm nay cho chúng con bao cám dỗ ngọt ngào, làm khuấy động những thèm khát nơi chúng con.

Cám dỗ chiếm đoạt và sở hữu.

Cám dỗ thống trị bằng quyền uy hay tri thức.

Cám dỗ sống buông thả theo bản năng tự nhiên.

Cám dỗ nào cũng hứa cho chúng con ít nhiều hoan lạc, nhưng thật ra lại làm chúng con nghèo nàn v́ tự giam ḿnh trong cái tôi ích kỷ.

Xin cho chúng con thắng được các cơn cám dỗ nhờ tỉnh thức và cầu nguyện, nhờ chay tịnh và làm chủ bản thân.

Xin cho chúng con dám lội ngược ḍng với thế gian, để đi vào con đường hẹp của Chúa, con đường nghèo khó khiêm nhu, con đường hy sinh phục vụ.

Ước ǵ chúng con được lớn lên trong t́nh yêu Chúa, sau những lần chiến đấu vất vả cam go. Và ngay cả khi yếu đuối ngă sa, xin cho chúng con can đảm đứng lên, vững tin vào ḷng Chúa tín trung tha thứ. Amen.

 
 

3. Chỉ thờ phượng một ḿnh Người

Suy Niệm

Bị cám dỗ là điều chẳng mấy hay ho. Chúng ta ít khi muốn kể ra những cơn cám dỗ của ḿnh. Dường như chỉ người yếu đuối mới dễ bị cám dỗ. Ấy thế mà Con Thiên Chúa lại bị cám dỗ như ta. Ngài muốn đồng hành với chúng ta trong từng cơn cám dỗ, trên đường về quê trời. Ngài đă mang lấy trọn vẹn phận người mong manh, Ngài đă chiến đấu và chiến thắng.

Mùa Chay là thời gian thuận tiện để chúng ta nhận diện cơn cám dỗ riêng của bản thân.

Có khi chúng ta tưởng Satan là chuyện bịa đặt, tưởng thế giới không bao giờ là thế gian, hay tưởng thân xác ḿnh chẳng c̣n bằng xương thịt.

Phải nhận ra cơn cám dỗ dưới trăm ngàn bộ mặt, tuỳ người, tuỳ tuổi tác, tuỳ hoàn cảnh riêng tư.

Nhưng mọi cơn cám dỗ đều khép kín con người, khiến ta không c̣n mở ra trước Thiên Chúa và tha nhân.

Cần nh́n sâu vào những cơn cám dỗ của Đức Giêsu để thấy đó vẫn là những cám dỗ muôn thuở.

Biến đá thành bánh để làm dịu cơn đói, chuyện đó đâu có ǵ xấu. Nhưng Đức Giêsu đă không muốn dùng quyền năng Cha ban để tự lo cho bao tử của ḿnh.

Ngài cũng không phục lạy ma quỷ để được làm chủ cả thế gian với bao quyến rũ.

Ngài cũng chẳng cần nhảy từ nóc Đền Thờ xuống để kiểm chứng t́nh yêu của Cha. Ngài không muốn cứu nhân loại bằng cách nhảy xuống, giữa tiếng vỗ tay của bao người đứng dưới.

Ngài muốn cứu con người bằng cách bị treo lên thập tự, giữa những tiếng nhục mạ cười chê.

Đức Giêsu thật là Con Thiên Chúa v́ Ngài đă trung tín với Cha đến cùng.

Cuộc sống văn minh cho chúng ta nhiều cám dỗ hơn, ngọt ngào hơn, hấp dẫn hơn, tinh vi hơn.

Cơn cám dỗ nào cũng đặt chúng ta trước sự chọn lựa, và chọn lựa nào cũng đ̣i từ bỏ, hy sinh. Bởi vậy cơn cám dỗ lại có thể làm tôi lớn lên và cứng cáp hơn sau mỗi lần chiến thắng.

Ước ǵ tôi không bị mắc bẫy Satan nhờ noi gương Đức Giêsu trong ăn chay, cầu nguyện.

Gợi Ư Chia Sẻ

Đối với bạn, loại cám dỗ nào đáng sợ hơn cả? Bạn đă làm ǵ để thắng được loại cám dỗ đó?

Qua báo chí, truyền h́nh... bạn thấy con người ở cuối thế kỷ 20 bị cám dỗ về những điều ǵ?

Cầu Nguyện

Lạy Ngôi Lời Thiên Chúa rất đáng mến, xin dạy con biết sống quảng đại, biết phụng sự Chúa cho xứng với uy linh Ngài, biết cho đi mà không tính toán, biết chiến đấu không ngại thương tích, biết làm việc không t́m an nghỉ, biết hiến thân mà không mong chờ phần thưởng nào ngoài việc biết ḿnh đă chu toàn Thánh Ư Chúa. Amen.

 
 

4. Tiến tới một t́nh yêu chân thật hơn, tinh tuyền hơn.

Thử thách là mối nguy cho t́nh yêu, nhưng cũng nhờ nó mà t́nh yêu mạnh hơn, v́ trong cơn thử thách sự tự do của con người luôn luôn hướng đến tích cực. Thử thách giống một nốt nhạc đối vị làm nổi bật giai điệu thánh thót trầm hùng và sứ truyền cảm của bản hoà tấu. Đức Giêsu đă muốn chịu thử thách của cám dỗ. Suốt cuộc đời trần thế của Người, Chúa gặp thử thách, nó là đối vị với ư định bên trong của Người. Tất cả con người Chúa hướng tới mục đích hoàn tất ư muốn của Cha. Chúa đă muốn đối đầu với thử thách trong tư thế lănh đạo Giáo Hội. Chúa đă chịu thử thách, tất nhiên Giáo Hội của Chúa và mỗi tín hữu thành phần Giáo Hội cũng phải qua cầu thử thách và phải phản ứng như Chúa. Giống Thày, tín hữu phải dùng thử thách làm dịp thử lửa tôi luyện một t́nh yêu lớn mạnh hơn, nghĩa là thực hiện một sự gia nhập vững bền hơn vào thánh ư của Cha qua trung gian Đức Kitô.

Thử thách có những h́nh thức chính yếu nào?

1) Trước hết, là từ chối thân phận làm người với tất cả thực chất của nó. Ma quỷ cám dỗ Chúa, nài Chúa hăy dùng quyền năng thần linh của Chúa để thoả măn một nhu cầu vật chất của Người là đói th́ cần có của ăn. Biết bao phen chúng ta chẳng nghe thấy người ta nói: Thiên Chúa đáng lẽ phải làm thế này thế nọ để thiết lập sự b́nh đẳng, để mọi người có cơm ăn áo mặc, để khỏi lao động vất vả, v.v… Thiên Chúa trả lời rằng nhân loại được ban cho một trí tuệ, một ư chí, một thân thể để tuỳ tiện sử dụng. Thảm trạng con người là ở chỗ khác. Hoạt động làm cho người ta quên mất rằng con người không chỉ sống bằng lương thực vật chất. Đức Giêsu không muốn bỏ thân phận làm người của Chúa cho nên Chúa từ khước biến đá thành bánh ăn. Tuy nhiên Chúa nói thêm rằng con người cũng sống bởi bác ái, t́nh liên kết, công bằng và t́nh thương – và thứ bánh này do Thiên Chúa ban cho, thiếu của ăn thiêng liêng th́ của ăn nuôi xác cũng sẽ thiếu, hoặc sẽ hư đi.

2) H́nh thái khác của thử thách là muốn liên hiệp Thiên Chúa với những tính toán mờ ám. Ma quỷ ngỏ ư muốn giúp Chúa, với điều kiện: “Nếu Ngài sấp ḿnh thờ lạy tôi, tôi sẽ cho Ngài quyền bá chủ thế giới”. Đây là chước cám dỗ thường xảy ra.

Những luận điệu nào bàn kế cho Giáo Hội: “Nếu chịu liên minh với thế gian, Giáo Hội sẽ thu phục được thế gian?”. Giọng lưỡi nào xui chúng ta: “Nếu bạn khôn khéo điều đ́nh thu xếp với Sự Thật, với bổn phận, v.v… bạn sẽ làm được điều này điều nọ?” –Nhưng mệnh lệnh của Đức Giêsu là: “Ngươi sẽ chỉ tuân phục Thiên Chúa mà thôi”

3) Một xu hướng nữa là muốn thay thế những phương tiện của Thiên Chúa bằng những phương tiện khác thường. Chủ trương cứu độ của Đức Kitô, tức là Tin Mừng về một thế giới tốt hơn, lan truyền bằng nhưng phương tiện người ta mệnh danh là “nghèo nàn”, trong đó có nhục nhă, đau khổ và chết. Con người nhất là con người có nhiều kiến thức, luôn luôn có khuynh hướng lựa chọn những phương tiện có nhiều uy thế. Chẳng hạn, uy thế của một triết lư nào đó mà trùm lấp Phúc Âm th́ kéo theo một rủi ro lớn, có thể thay đổi ư nghĩa và tinh thần Phúc Âm, cho dẫu những người chất phác thán phục hết sức trước “thắng lợi” của nó. Một mệnh lệnh khác của Chúa Giêsu là: “Ngươi chớ cám dỗ Thiên Chúa là Chúa ngươi”, nghĩa là chớ lợi dụng quyền năng Thiên Chúa vào những việc ǵ ở ngoài công cuộc của Người.

 
 

5. Sống là chiến đấu

Trong chuyến viếng thăm Giáo Hội tại Lituani vào tháng 9 năm 1993, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đă đến cầu nguyện tại một ngọn đồi nổi tiếng của nước nầy, thường được mệnh danh là “Ngọn đồi Thập Giá”.

Ngọn đồi này nằm tại một ngôi làng hẻo lánh. Qua suốt ḍng lịch sử của dân tộc, cứ mỗi lần có một người dân trong làng ngă gục ngoài mặt trận th́ toàn dân trong làng tập trung lại để tưởng niệm và dựng lên một cây thập giá.

Dưới thời Nga Hoàng cũng như dưới thời Liên Xô đă có không biết bao nhiêu người dân làng ngă gục để bảo vệ nền độc lập của xứ sở. Binh lính và công an đă làm mọi cách để triệt hạ thập giá khỏi ngọn đồi. Trong ba thế kỷ liền, ngọn đồi thập gái đă không ngừng bị san bằng bởi những bàn tay vô đạo. Nhưng cứ đêm đến, người dân trong làng lại lẳng lặng dựng lên những cây thập giá khác. Cuộc chiến của thập giá cứ tiếp diễn như thế cho đến khi tự do được thực sự văn hồi.

Ngày nay khách hành hương t́m đến ngọn đồi thập giá nầy để nhận ra biểu trưng của một niềm tin sắt đá, của khát vọng tự do, và cuối cùng, của chiến thắng.

Anh chị em thân mến,

Có niềm tin hay không, có sống đạo hay không, dường như ai cũng có ư thức được rằng cuộc đời là một trận chiến. Giáo Hội không ngừng mời gọi các Kitô hữu chúng ta sống lại cuộc chiến đấu của Chúa Giêsu trong sa mạc. Mời gọi chúng ta sống lại kinh nghiệm chiến đấu của Chúa Giêsu, Giáo Hội muốn nhắc nhở chúng ta rằng cuộc sống niềm tin Kitô là một cuộc chiến đầu trường kỳ.

Các sách Tin Mừng Nhất Lăm đều kể rằng sau khi được tấn phong bên bờ sông Giođan, Chúa Giêsu vào sa mạc đương đầu với Satan. Thánh Marcô chỉ nói vắn tắt rằng, Chúa Giêsu ở trong sa mạc 40 ngày và chịu Satan cám dỗ. C̣n thánh Matthêu và Luca lại kể rơ ba chước cám dỗ của Satan, nhưng theo thứ tự hơi khác nhau. Theo thánh Luca, những chước cám dỗ của Satan phải được giải thích trong mối liên hệ chặt chẽ với cuộc tử nạn thập giá của Chúa Giêsu. Các chước cám dỗ nhằm lôi kéo Chúa Giêsu đi trệch đường lên thành Giêrusalem dẫn đến đỉnh đồi thập giá. Chính v́ để nhấn mạnh ư nghĩa của đỉnh đồi thập giá ở Giêrusalem mà thánh Luca đă sắp xếp lại thứ tự các chước cám dỗ, để cho chước cám dỗ sau cùng xảy ra ở Giêrusalem là đích điểm của con đường Ngài đă dứt khoát chọn lựa ngay từ đầu sứ vụ Cứu Thế.

Do đó, Thánh Luca sắp xếp cám dỗ thứ nhất là Satan thách đố Chúa Giêsu biến sỏi đá thành cơm bánh ăn: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hăy làm cho đá nầy trở thành bánh đi!” Ư đồ của Satan là xúi Chúa Giêsu vận dụng quyền năng Thiên Chúa trao cho Ngài để phục vụ bản thân ḿnh trước đă. Nhưng Chúa Giêsu đă từ chối. Ngài là Con Thiên Chúa không phải để phục vụ bản thân ḿnh, nhưng để làm công việc Thiên Chúa trao cho Ngài. Ngài đến để phục vụ và làm theo ư Đấng đă sai Ngài. Satan muốn xúi Chúa Giêsu lấy mạng sống riêng của ḿnh làm cứu cánh, chỉ có mạng sống là đáng quư, chỉ có bản thân là đáng trọng, không c̣n ǵ quư và cao cả hơn nữa.

Dân Israel khi ở trong sa mạc cũng đă bị cám dỗ như vậy. Khi họ hết lương thực, họ quên tất cả giá trị của cuộc giải phóng khỏi Ai Cập, tất cả niềm tự hào được trở thành người tự do. Trước nguy cơ chết đói, họ sẵn sàng đánh đổi tất cả: Thà làm nô lệ mà được ăn no hơn được tự do mà phải chết đói. Nhưng Thiên Chúa đă muốn cho họ thấy: c̣n có một cái ǵ đáng quư trọng hơn nữa, hơn cả mạng sống: “Người ta không sống nhờ cơm bánh mà thôi, mà c̣n nhờ Lời Chúa nữa” (Đnl 8,3). Chúa Giêsu dùng lời ấy để khẳng định rằng: mạng sống trần gian không phải là tất cả đâu. Ngài đă lănh nhận cuộc sống làm người không phải để khư khư giữ lấy, nhưng là để cho đi, để hiến ḿnh cho mọi người được sống.

Cám dỗ thứ hai là Satan hứa sẽ trao cho Chúa Giêsu mọi quyền lực và vinh quang của các vương quốc trên trần gian nầy, nếu Chúa Giêsu chịu thờ lạy nó. Cái “xạo” của Satan là ở chỗ nó cho rằng nó là bá chủ mọi vương quốc trần gian và có quyền ban quyền lực và vinh quang cho Chúa Giêsu. Satan muốn Chúa Giêsu nh́n nhận rằng: chỉ có quyền lực và vinh quang của mọi vương quốc trên trần gian này là đáng quư. Chúa Giêsu muốn được hưởng th́ cứ thờ lạy là xong ngay. Để trả lời Satan, Chúa Giêsu phán: “Mi phải thờ lạy Chúa là Thiên Chúa của mi, và mi chỉ phải thờ phượng một ḿnh Ngài mà thôi” Đnl 6,13). Sau nầy, Philatô sẽ phải công khai nh́n nhận rằng: Chúa Giêsu chẳng hề có dụng ư tranh cướp quyền lực và vinh quang của Đế quốc Rôma.

Dân Israel khi xưa đă đúc ḅ vàng để thờ thay v́ thờ phượng Thiên Chúa. Đó là tội bất trung của Israel đối với Thiên Chúa. Chúa Giêsu dứt khoát trả lời Satan: Mi không phải là Thiên Chúa. Quyền lực và vinh quang trên trần gian không phải là tất cả. Chỉ có Thiên Chúa mới đáng thờ lạy, chỉ có Thiên Chúa mới có quyền lực và vinh quang thật để ban cho Ngài.

Cám dỗ thứ ba là Satan xúi Chúa Giêsu thử thách quyền năng Thiên Chúa; vận dụng quyền năng Thiên Chúa để mở một con đường tắt mà hoà thành sứ mạng; nếu Chúa Giêsu nhảy từ đỉnh cao của đền thờ Giêrusalem xuống mà an toàn th́ tất nhiên mọi người sẽ theo Ngài. Chúa Giêsu không theo đường tắt Satan đề nghị. “Ngài hạ ḿnh vâng phục cho đến nỗi bằng ḷng chết và chết trên thập giá” để thực hiện công cuộc của Chúa Cha. Ngài mời gọi ai muốn theo Ngài th́ hăy bỏ ḿnh đi, vác thập giá của ḿnh mà đi theo Ngài.

Dân Israel trong sa mạc khi thiếu nước uống, họ đă thử thách Thiên Chúa. Chúa Giêsu đáp lại Satan: “Ngươi đừng thử thách Thiên Chúa của ngươi” (Đnl 6,16). Chúa Giêsu đă không thử thách Thiên Chúa nhưng hoàn toàn tin tưởng và phó thác trọn vẹn cho Thiên Chúa khi Ngài đi vào con đường tuyệt vọng nhất – con đường thập giá.

Chúa Giêsu đă chiến thắng hết mọi chước cám dỗ của Satan. Trong suốt thời gian Chúa Giêsu rao giảng, ma quỷ tiếp tục thua dài hết keo này đến keo khác. Nó không c̣n chước nào để cám dỗ Ngài nữa. Cuối cùng Satan nhập vào Giuđa Iscariôt (một trong mười hai môn đệ) để nộp Ngài. Trong cuộc giao chiến này, Satan sẽ cướp được mạng sống của Chúa Giêsu. Nếu quả thật không có ǵ khác ngoài cuộc sống trần gian th́ Satan đă thắng rồi. Nhưng chính lúc cướp được mạng sống của Chúa Giêsu, Satan đă đại bại, bởi v́ Thiên Chúa đă cho Đức Giêsu từ trong cơi chết sống lại và đặt Ngài làm Chúa, khiến cho mọi loài trên trời dưới đất khi nghe Danh Giêsu th́ phải quỳ gối mà tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa, để làm vinh danh Thiên Chúa Cha. Đây là cuộc chiến thắng dứt khoát và vĩnh viễn.

Anh chị em thân mến,

Đọc lại đoạn Phúc âm này vào ngày Chúa Nhật đầu Mùa Chay, Giáo Hội muốn mời gọi chúng ta suy nghĩ về cuộc sống Kitô hữu như một cuộc chiến đấu với Satan. Chúa Giêsu đă chiến thắng Satan, làm con Thiên Chúa. Nhưng chúng ta c̣n phải thể hiện bản chất con Thiên Chúa ấy trong cuộc sống. Chúng ta phải đích thân chiến thắng Satan trong cuộc sống của chúng ta. Chúa Giêsu đă chiến thắng để cho chúng ta có thể chiến thắng nhờ Thánh Thần Ngài ban cho, nhưng không hề miễn cho chúng ta khỏi chiến đấu. Mùa Chay là thời kỳ tập luyện tích cực để chiến đấu với Satan.

Những cám dỗ mà Satan đă đem ra dụ dỗ Đức Giêsu vẫn là những cám dỗ muôn đời của con người.

Cơm ăn, áo mặc, danh vọng, tiền của, quyền uy, thế lực. Có những người, để làm giàu cho bản thân ḿnh đă tán tận lương tâm, chà đạp mọi quy luật của đạo đức… Có những người, v́ danh vọng, v́ quyền lực, đă sẵn sàng sinh sát anh em đồng bào ḿnh… Những cám dỗ ấy liên tục xảy ra trong cuộc sống chúng ta. Nếu chúng ta không cảnh giác, không được trang bị bằng ánh sáng và sức mạnh Lời Chúa, chúng ta sẽ ngă gục lúc này không hay!

Càng có điều kiện để làm giàu, có điều kiện để thụ hưởng danh vọng và nắm giữ quyền lực, càng dễ bị Satan cám dỗ. Có của mà vẫn sống lương thiện, hưởng thụ danh vọng mà vẫn khiêm tốn, hiền hoà, nắm giữ uy quyền mà vẫn là người phục vụ chân thực… đó là một thử thách lớn, là một cuộc đấu tranh gay gắt. Những cơn cám dỗ đến với Chúa Giêsu, các Lời Chúa đáp lại, và sự vượt thắng cám dỗ của Chúa vẫn là cái ǵ gần gũi với chúng ta ngày hôm nay, trong cả cuộc sống, nếu không muốn nói là từng giây phút, khi mà các nhu cầu tối thiểu c̣n là vấn đề quan trọng và cấp bách, khi mà ḷng tham quyền bính và bả vinh hoa vẫn làm cho nhiều người mong bước vào.

Muốn chống trả và chiến thắng Satan, cần phải có tinh thần từ bỏ và tấm ḷng siêu thoát. Chúa Giêsu đă chiến thắng Thần Chết và tội lỗi. Chúng ta cũng có thể chiến thắng mọi cám dỗ và thử thách, nếu chúng ta biết dựa vào Thiên Chúa, biết dùng vũ khí vạn năng mà Chúa Giêsu đă trao cho chúng ta. Lời Chúa mà thánh Luca ghi lại vẫn là lời nhắc nhở các tín hữu, đừng để sa vào các cơn cám dỗ, mà ngày nay không khác với ngày xưa, nếu không muốn nói là c̣n lộ liễu hơn. Hăy lấy chính Lời Chúa làm sức nâng đỡ, lời chỉ đạo, và hăy lấy tâm gương Chúa làm tiêu chuẩn cho cuộc sống để đương đầu với những cơn thử thách bất cứ từ đâu tới.

 
 

6. Chống lại cám dỗ - McCarthy

Suy Niệm 1. CHƯỚC CÁM DỖ CỦA ĐỨC GIÊSU

Một số người cho rằng thật khó mà tin rằng Đức Giêsu có thể bị cám dỗ. Mặc dù có bản chất thần thánh, nhưng Người cũng có một bản chất của con người. Ngoài ra, tự thân chước cám dỗ không phải là một tội lỗi. Có phải ma quỷ đă thực sự hiện ra với Người không? Chúng ta không biết. Điều chính yếu là những chước cám dỗ của Người đều có thật, giống như chúng ta vậy, mặc dù quỷ sứ không hiện ra với chúng ta trong h́nh dạng của một con người. Nhưng những chước cám dỗ của Người chứa đựng cái ǵ?

Chước cám dỗ đầu tiên là biến ḥn đá thành bánh. Ngoài ư nghĩa rơ rệt, chữ “bánh” có thể mang ư nghĩa là những thứ vật chất nói chung. Ma quỷ đang nói với Đức Giêsu là hăy sử dụng những quyền năng đặc biệt của Người, để mang lại cho con người tất cả những thứ vật chất mà có thể họ mong muốn. Nhưng Đức Giêsu biết rằng tự thân những thứ vật chất đó sẽ không bao giờ thoả măn được con người. Công việc chính của Người là nuôi dưỡng tâm trí và tấm ḷng con người bằng lời của Thiên Chúa.

Đây là chước cám dỗ mang lại cho con người những điều họ mong muốn, hơn là những nhu cầu của họ. Chước cám dỗ chính là thoả măn đám đông, bằng cách cho họ những ǵ sẽ thoả măn các mong muốn nhất thời của họ, khi họ không biết điều ǵ ḿnh thực sự cần đến.

Chúng ta có những nhu cầu và những khát vọng lớn lao hơn. Tâm hồn con người thực sự khát khao cái ǵ? Chắc hẳn rằng đó không phải là cơm bánh. Cơm bánh là cái mà cơ thể thèm khát. Sau phép lạ ban bánh và cá, ngày hôm sau, dân chúng trở về với mong muốn sao cho có thêm bánh nữa. Nhưng Đức Giêsu đă từ chối ban thêm bánh cho họ. Người nói “Các ngươi đừng lạm việc v́ của ăn không thể tồn tại được, nhưng hăy làm việc để t́m kiếm lương thực kéo dài cho đến cuộc sống đời đời”.

Đối với một vị thầy về mặt thiêng liêng, th́ tinh thần chiếm vị trí ưu tiên vượt lên trên lương thực của cơ thể. Khi đặt ưu tiên cho những nhu cầu thân xác, điều đó có nghĩa là giảm giá trị con người, là đối xử với họ không hơn ǵ một con vật. Chúng ta cũng bị cám dỗ chỉ sống cho những thứ vật chất mà thôi. Không phải là chúng ta khước từ đời sống thiêng liêng, nhưng chúng ta bỏ qua đời sống đó.

Chước cám dỗ thứ hai là tạo dựng một vương quốc chính trị, là việc dẫn đến quyền lực hơn là t́nh yêu. Quyền lực tạo ra một sự thay thế dễ dàng cho công việc khó khăn mà có thể t́nh yêu đ̣i buộc. Người ta dễ dàng muốn làm chủ người khác, hơn là yêu thương họ, dễ dàng thống trị người khác, hơn là trở thành người phục vụ họ. Đức Giêsu không đến để cai trị, nhưng để phục vụ. Người không hề nại vào quyền lực thần thánh của Người, nhưng đă tự huỷ ḿnh ra không, và trở thành người tôi tớ đầy yêu thương đối với tất cả mọi người. Chúng ta luôn luôn bị cám dỗ thay thế t́nh yêu bằng quyền lực.

Chước cám dỗ thứ ba cốt ở việc làm được một điều ǵ đó kỳ lạ (tự gieo ḿnh xuống khỏi Đền Thờ) nhằm khơi gợi ḷng tin –giống như một ảo thuật gia có thể khơi gợi được ḷng tin, qua nghệ thuật làm một số chuyện mang tính cách quảng cáo phô trương. Ư tưởng này nghe thật hấp dẫn. Một kiểu quảng cáo như vậy sẽ làm cho mọi người đồn thổi về Người tại Giêrusalem. Nhưng lối gây giật gân lại đưa đến vinh quang cho bản thân ḿnh, hơn là vinh quang cho Thiên Chúa. Đức Giêsu khước từ việc gieo ḿnh này. Người không muốn t́m kiếm những kẻ ái mộ ḿnh. Người mong muốn có những kẻ đi theo Người, nghĩa là những kẻ muốn bắt chước lối sống của Người.

Trong suốt sứ vụ của Người, Đức Giêsu đă khước từ việc ban cho dân chúng những kiểu dấu lạ, ngay cả khi người ta ép buộc Người phải làm như vậy. Những loại dấu lạ này không có ích lợi ǵ cả, không đ̣i hỏi điều ǵ tốt đẹp nhất nơi chúng ta, mà chỉ hạ thập giá trị của ḷng tin. Ḷng tin không phải là ma thuật. Sự thánh thiện không hệ tại ở việc cố gắng ép buộc Thiên Chúa phải làm theo ư muốn của chúng ta, nhưng là nỗ lực bắt buộc chính bản thân ḿnh phải làm theo thánh ư Thiên Chúa.

Các chước cám dỗ là đ̣n tấn công trên tất cả những yếu tố cơ bản đối với sứ vụ của Đức Giêsu. Vâng, Người đến để thiết lập một vương quốc, nhưng không phải là loại vương quốc mà Satan đề nghị. Và Người đă khước từ chước cám dỗ đạt được vương quốc bằng phương tiện trần thế.

Cả ba chước cám dỗ cuối cùng đều quy hướng về cùng một điều: đặt những thứ vật chất và vinh quang bản thân lên trước hết, kế đó, mới đến các điều thiêng liêng và Thiên Chúa. Nói chung, đây là những chước cám dỗ chủ yếu trong Giáo Hội của Người, và nơi mỗi người chúng ta là các thành viên trong Giáo Hội. Chúng ta phải luôn hướng mắt về Đấng đă khước từ biến những ḥn đá thành bánh, tự gieo ḿnh xuống khỏi nóc Đền Thờ, và cai trị bằng quyền lực.

Kinh nghiệm này đă giúp cho Đức Giêsu tự thấu hiểu sứ vụ của Người là ǵ, và làm thế nào để hoàn tất sứ vụ đó. Và một khi đă biết được sứ vụ của ḿnh là ǵ, th́ Người quyết định hoàn toàn tận hiến cho sứ vụ đó.

Chước cám dỗ không phải là những thứ chỉ xảy ra một lần mà thôi, không bao giờ chúng kết thúc, mà có thể trở lại một lần khi có cơ hội. Trong suốt cuộc đời của Đức Giêsu, chước cám dỗ vẫn tiếp tục xảy ra, bởi v́ ma quỷ vẫn cứ t́m mọi cách để xói ṃn sứ vụ của Người, mặc dù là vô hiệu. Ngay cả khi Người đă bị treo trên thánh giá, chúng ta vẫn nghe thấy tiếng vang vọng của chước cám dỗ thứ hai “Nếu ông ta là Đấng Mêsia, th́ ông ta hăy xuống khỏi thánh giá, rồi chúng ta sẽ tin ông ấy”.

Tất cả những ai đang đấu tranh để sống một cuộc sống tốt đẹp, đều có thể ghi ḷng tạc dạ điều này: Việc chống trả lại chước cám dỗ không hề dễ dàng đối với Đức Giêsu, cũng không dễ dàng đối với chúng ta. Nhưng nơi Đức Giêsu, chúng ta có được một người anh, Đấng biết được rằng chúng ta đang phải chiến đấu với cái ǵ. Người tha thứ cho chúng ta, và nâng chúng ta lên, khi chúng ta vấp ngă. Người ban cho chúng ta khả năng tuân theo lời của Thiên Chúa, tin tưởng nơi Người và chỉ thờ phượng một ḿnh Người mà thôi.

Suy Niệm 2. KHÔNG CHỈ BẰNG CƠM BÁNH

Con người không chỉ sống bằng cơm bánh. Cơm bánh chỉ là một trong những thức ăn chủ yếu của cuộc sống –cuộc sống thân thể. Để nuôi dưỡng một con người, không giống như vỗ béo một con vật. Cơ thể của chúng ta cần có lương thực. Những linh hồn của chúng ta cũng vậy. Linh hồn của chúng ta đang khao khát lương thực nuôi dưỡng. Câu chuyện về Elvis Presley minh hoạ hùng hồn cho chân lư này.

Elvis trở nên rất giàu có. Ông ta sở hữu 8 xe hơn, 6 xe máy, 2 máy bay, 16 T.V., một toà lâu đài rộng lớn, và nhiều tài khoản ngân hàng. Vượt lên trên tất cả những thứ đó, anh ta c̣n là thần tượng của nhiều người hâm mộ. Tuy nhiên, anh không hề có hạnh phúc. Giữa tất cả sự giàu có và thành công của ḿnh, anh ta đă phải trải qua t́nh trạng bất ổn về tinh thần, và thường than phiền về nỗi cô đơn, buồn chán.

Anh giăi bày tâm sự với một phóng viên “Tiền bạc gây ra nhiều chuyện nhức đầu”.

Mẹ của anh rất lo lắng cho anh. Không bao giờ bà muốn anh bị những chuyện đó. Bà chỉ đơn giản mong muốn anh trở về nhà, mua một cửa hàng bán vật dụng trong nhà, cưới vợ và có con.

Càng ngày, anh càng trở nên sợ hăi và trầm cảm. Năm lên 22 tuổi, anh nhận thấy là không c̣n thế giới nào để chinh phục nữa. T́nh trạng bất ổn này có thể là một cơ hội. Đây là một lời nhắc nhở rơ ràng rằng “con người không chỉ sống nguyên bằng bánh”, nghĩa là chỉ sống bằng những thứ vật chất mà thôi.

Thông điệp này vang lên lớn tiếng và rơ rệt trong bài Tin Mừng hôm nay. Đây là một thông điệp quan trọng, và có lẽ thích hợp với ngày nay hơn bao giờ hết. Mặc dù chúng ta có thể nhận thấy được lẽ phải của bức thông điệp này, nhưng trên thực tế, thật không dễ dàng thực hiện. Chúng ta không chỉ sống bằng cơm bánh –ít nhất là không, nếu chúng ta mong muốn được sống dồi dào, và hoàn toàn được nuôi dưỡng với tư cách là con người và con cái của Thiên Chúa. Vậy chúng ta c̣n cần đến điều ǵ khác nữa. Chúng ta cần đến Lời Chúa.

Bạn hăy thử tưởng tượng cảnh cha mẹ nuôi dưỡng con cái của họ, mà không bao giờ nói một lời nào với con trẻ, không hề hướng dẫn, khích lệ, xác nhận, an ủi. Không bao giờ họ nói một lời để truyền đạt sự b́nh an và đón nhận, hoặc t́nh yêu thương và niềm vui. Cơ thể của con trẻ có thể được nuôi dưỡng, nhưng tâm trí và linh hồn của chúng bị trống rỗng. Chúng ta là con cái của Thiên Chúa. Chúng ta cần được nghe Lời của Người.

Nếu chỉ có cơm bánh, không phải lúc nào cũng sẽ đảm bảo được sự sống c̣n, ngay cả về mặt thể lư. Thi sĩ Irina Ratushinkaya đă sống một thời gian trong nhà tù cộng sản ở Ngài (với tư cách là tù nhân chính trị). bà nói “Nhiều người phụ nữ có nhiều thức ăn hơn tôi, tuy nhiên, họ vẫn bị chết”. Điều ǵ đă giữ cho bà c̣n sống được. Chắc hẳn là nhờ đức tin Kitô giáo của bà.

Không phải chỉ có cơ thể con người mới đói khát. Tâm hồn và tinh thần con người cũng biết đói khát nữa. Chúng ta sẽ không được nuôi dưỡng đầy đủ, cho đến khi chúng ta thừa nhận sự đói khát của tâm hồn và tinh thần.

Đức Giêsu thách đố chúng ta hướng tới những nỗi khát khao sâu xa hơn và những nhu cầu lớn lao hơn của chúng ta. Tâm hồn thực sự khát khao điều ǵ? Thưa rằng tâm hồn khát khao lương thực không thể hư nát –Lời Chúa. Lời Chúa có sức mạnh nuôi dưỡng chúng ta. Lời Chúa nuôi dưỡng chúng ta bằng tấm bánh của cuộc sống có ư nghĩa, tấm bánh của niềm hy vọng, và vượt lên trên tất cả, đó là tấm bánh của t́nh yêu.

CÂU CHUYỆN KHÁC.

Đức Giêsu đă trải qua 40 ngày trong sa mạc, trong sự suy niệm và cầu nguyện. Sa mạc có thể là một nơi khắc nghiệt, nhưng đó lại là một chỗ lư tưởng để suy niệm và cầu nguyện.

Kinh nghiệm sa mạc đến vào giây phút quan trọng trong cuộc đời của Đức Giêsu, thời gian của sự thức tỉnh lớn lao. Không thể nào gọi là cường điệu, khi nói về tầm quan trọng của sa mạc đối với Đức Giêsu. Thật vậy, càng ngày, Người càng yêu thích sự cô tịch, và có thói quen t́m đến với sa mạc, vào những lúc khó khăn trong cuộc đời của Người. Khi dân chúng và các sự kiện t́m cách vây bọc lấy Người, th́ Người sẽ lẻn vào nơi hoang vắng, để tự phục hồi và lại hiến thân cho Chúa Cha. Hiện tại, Người đang đào sâu cảm nhiệm sa mạc đầu tiên này.

Chúng ta cũng cần có một nơi yên tĩnh để suy niệm và cầu nguyện. Thông thường, chúng ta hay sống một cách điên rồ và thiếu mất đời sống thiêng liêng, cứ để mặc cho những ước muốn ngu xuẩn đưa dẫn, và những thói quen ích kỷ đầu độc. Chúng ta bị những tiếng ồn ào và những sinh hoạt liên tục vây hăm. Chúng ta đặt sai những thứ tự ưu tiên. Chúng ta không thể hoặc không muốn sự cô tịch, không muốn được yên tĩnh, không muốn cảnh tĩnh mịch. Và chúng ta lại thắc mắc tại sao ḿnh không có hạnh phúc tại sao ḿnh cảm thấy không dễ dàng ǵ trong việc tiếp cận với người khác, và tại sao ḿnh không thể nào cầu nguyện được.

Chúng ta cần đến sự cố tích. Khi ở một ḿnh, chúng ta bắt đầu đứng trên đôi chân của ḿnh, trước mặt Thiên Chúa và thế giới, và hoàn toàn chấp nhận chịu trách nhiệm đối với cuộc sống của bản thân. Các ẩn sĩ đi vào sa mạc, không phải để tự để tự đánh mất, nhưng là để t́m được chính ḿnh. Trong sự cổ tích, chúng ta gặp gỡ những tṛ quỷ quái của chúng ta, những đam mê, thú tính, cơn tức giận, nhu cầu được nh́n nhận và được tán thành của chúng ta.

Và chúng ta không đi vào nơi hoang vắng để tránh khỏi người khác, mà để t́m thấy họ trong Thiên Chúa. “Chỉ khi ở nơi cô tịch và thinh lặng, tôi mới có thể t́m thấy sự tử tế mà nhờ đó, tôi có được khả năng để yêu mến các anh chị em tôi” (Thomas Merton).

 
 

7. Chiến đấu với cám dỗ

Chúng ta đă từng thấy có một số cột mốc lớn trong cuộc đời Chúa Giêsu, và đây là cột mốc lớn hơn hết. Trong Đền Thờ, khi được mười hai tuổi, Ngài đă nhận thức rằng Thiên Chúa là Cha Người theo một ư nghĩa đặc biệt. Khi Gioan xuất hiện, Ngài cảm kích giờ của Ngài đă điểm, trong lễ rửa Thiên Chúa đă tỏ ra việc chuẩn y. Bây giờ Chúa Giêsu sắp bắt đầu chiến dịch của Ngài. Muốn bắt đầu một chiến dịch, người ta phải chọn nhưng phương sách sẽ dùng. Câu chuyện cám dỗ cho chúng ta thấy Chúa Giêsu đă dứt khoát chọn lựa phương cách Ngài sẽ sử dụng để đem con người trở về cùng Thiên Chúa. Nó cho ta thấy Chúa Giêsu từ bỏ con đường vinh quang quyền thế, chấp nhận con đường thập giá khổ đau. Trước khi đi vào chi tiết câu chuyện, có hai điểm cần lưu ư:

1. Đây là một câu chuyện thánh, v́ nó không thể phát xuất từ bất cứ một nguồn nào khác ngoài chính Chúa Giêsu. Vào một lúc nào đó, có lẽ chính Chúa Giêsu đă thuật lại cho các môn đệ về kinh nghiệm sâu thẳm đó của linh hồn Ngài.

2. Cũng vào dịp này hẳn Ngài đă ư thức được những quyền năng đặc biệt của Ngài. Những cám dỗ đó chỉ có thể xảy đến cho một người có đủ quyền năng làm những sự lạ lùng. Chúng ta không bị cám dỗ khiến đá thành bánh hoặc nhảy từ nóc Đền Thờ, v́ lẽ rất đơn giản là chúng ta không thể nào thực hiện được những việc như vậy. Các cám dỗ đó chỉ có thể xảy đến cho ai có sẵn quyền năng độc nhất và phải quyết định cách thức sử dụng quyền năng đó.

Trước hết chúng ta thử h́nh dung khung cảnh đó, khung cảnh của sa mạc hoang vu. Phần đất có người ở của xứ Giuđê là vùng cao nguyên trung tâm cái xương sống cho miền Nam đất Paléttin. Từ đó ra Biển Chết có một vùng sa mạc ghê rợn, chiều dài 56 cây số và rộng 24 cây số, có tên là sa mạc Jehsimmon, nghĩa là “sự tàn phá”. Các núi đồi như những đống cát bụi, những đá vôi trông như phồng lên và tróc ra, những tảng đá lớn trơ trọi gồ ghề, mặt đất kêu rền dưới vó ngựa. Nắng ở đó nóng như một ḷ lửa mênh mông, và có một sườn núi dốc dựng đứng cao khoảng 400 mét, đổ xuống tận Biển Chết. Chính tại đó, nơi hoang tàn ghê gớm đó, Chúa Giêsu chịu cám dỗ.

Không nên nghĩ rằng ba đợt cám dỗ đó đă diễn ra theo tŕnh tự và lớp lang như một tấn tuồng. Chúng ta phải nhớ rằng Chúa Giêsu tự ư lui vào nơi vắng vẻ đó và suốt bốn mươi ngày Ngài vật lộn với vấn đề làm thế nào để chinh phục nhân loại về với Thiên Chúa. Đó là một trận chiến lâu dài và là một cuộc chiến không ngưng nghỉ cho tới cây thập giá, và câu chuyện này chấm dứt với lời tuyên bố của ma quỷ “tạm” ĺa bỏ Ngài.

1. Cám dỗ thứ nhất khiến đá thành bánh.

Vùng này không phải là một sa mạc cát, khắp đó đây rải rác những ḥn đá vôi rất giống những ổ bánh ḿ nhỏ. Ma quỷ nói với Chúa Giêsu rằng: “Nếu ông muốn dân chúng theo ông th́ ông hăy dùng quyền năng lạ lùng để ban cho họ những nhu cầu vật chất đi”. Ma quỷ xui Chúa Giêsu nên đút lót dân chúng để họ theo Ngài, Ngài trả lời bằng một câu trích ở Đệ nhị luật 8,3, Ngài nói: “Người ta không bao giờ t́m được sự sống trong của cải vật chất”. Nhiệm vụ của Kitô giáo không phải là tạo ra những t́nh trạng mới, mặc dầu uy tín và tiếng nói của Hội Thánh phải hỗ trợ cho mọi cố gắng cải thiện đời sống con người. Nhiệm vụ của Hội Thánh là kiến tạo con người mới. Và khi đă có con người mới hẳn sẽ phát sinh các t́nh trạng mới.

2. Trong chước cám dỗ thứ nh́, Chúa Giêsu thấy ḿnh đứng trên một đỉnh núi cao, từ đó mắt Ngài có thể thấy được tất cả các nước văn minh.

Ma quỷ nói: “Hăy thờ lạy ta th́ tất cả sẽ là của ngươi”. Đó là một chước cám dỗ để thoả hiệp, để hoà đồng. Ma quỷ nói: “Ta đă nắm được dân chúng trong tay ta rồi, ngươi chớ nên đặt tiêu chuẩn của ngươi quá cao. Hăy kư kết một thoả hiệp với ta, chỉ cần hoà đồng thích nghi một chút với điều ác thôi th́ loài người sẽ theo ngươi” Chúa Giêsu trả lời: “Thiên Chúa là Thiên Chúa, phải là phải, trái là trái. Trong cuộc tranh chiến với tội ác không thể có thoả hiệp”. Một lần nữa Chúa Giêsu lại trích dẫn Đệ nhị luật 6,13.10,20. Một sự cám dỗ thường dễ vướng phải là việc t́m cách chinh phục ḷng người bằng cách thoả hiệp với các tiêu chuẩn của đời này. Có người phát biểu rất đúng rằng khuynh hướng của thế gian là nh́n mọi sự trong màu sắc mơ hồ không rơ rệt, nhưng Kitô hữu phải nh́n mọi sự cách trắng ra trắng, đen ra đen. Carlyle nói: “Kitô hữu phải nóng cháy trong niềm tin vào sự vô cùng xinh đẹp của sự thánh khiết và vô cùng xấu xa của tội lội”.

3. Trong cơn cám dỗ thứ ba, Chúa Giêsu thấy ḿnh đứng ở nóc Đền Thờ là chỗ cổng Salômôn và cổng vua giáp nhau.

Chỗ này cao 1.500 mét, dốc thẳng xuống thung lũng Kêdron bên dưới. Đây là chước cám dỗ muốn khích động dân chúng. Chúa Giêsu phán: “Không, ngươi không được quyền thử nghiệm quyền năng Thiên Chúa” (Đnl 6,16) Chúa Giêsu hiểu rằng nếu Ngài làm theo ma quỷ th́ dân chúng sẽ phải sửng sốt thán phục Ngài, và chắc chắn ảnh hưởng đó không lâu bền được. Con đường phục vụ và chịu khó dẫn đến thập giá là con đường rất khó đi, nhưng sau thập giá sẽ có vinh quang của măo triều thiên.

“Chúa trở nên giống như ta, là anh em Ngài, về mọi phương diện, để làm Thầy Thượng Tế nhân từ, trung thực trước mặt Thiên Chúa, chuộc tội cho mọi người. V́ Chúa từng chịu khổ khi đương đầu với các cơn cám dỗ, nên Ngài có thể giải cứu những người đang bị màng lưới cám dỗ vây bọc” (Dt 3,17-18). Suy nghĩ về điểm này, thánh Gioan Viannay phấn khởi kêu lên: “Chúng ta hạnh phúc thay! May mắn thay cho chúng ta có Thiên Chúa làm gương mẫu! Chúng ta nghèo khổ ư? Chúng ta có một Thiên Chúa sinh ra trong chuồng ḅ, nằm trong máng cỏ. Chúng ta bị khinh chê ư? Chúng ta có một Thiên Chúa đi trước chúng ta về điểm đó, Ngài đă từng bị đội măo gai, quấn áo đỏ để coi như một tên điên khùng. Chúng ta bị đối xử tồi tệ và đánh đập tàn nhẫn ư? Chúng ta có một Thiên Chúa, đứng trước ta, ḿnh đầy vết thương, chết giữa những khổ h́nh mà ta không thể tưởng tượng ra. Chúng ta chịu bách hại sao? Này, sao mà dám phàn nàn khi ta có một Chúa chịu chết v́ tay các lư h́nh. Cuối cùng, chúng ta đau khổ v́ bị cám dỗ sao? Chúng ta có một Chúa Cứu Thế đáng yêu cũng bị ma quỷ cám dỗ, hai lần bị các thần dữ mang đi này, và trong tất cả các khổ đau, quyến rũ và cám dỗ mà chúng ta gặp phải, chúng ta luôn có Chúa đi trước chúng ta, bảo đảm cho chúng ta toàn thắng miễn là chúng ta muốn thật” (Curé d’Ars).

Như thế Chúa dạy không ai tránh khỏi cám dỗ, Chúa chỉ cách thắng vượt, khuyến khích ta tin cậy vào ḷng thương xót, v́ chính Ngài cũng bị cám dỗ như ta.

 
 

8. Chú giải mục vụ của Hugues Cousin

CHÚA GIÊSU CHỊU CÁM DỖ

Trong khi đem bản gia phả vào đây, Luca có nguy cơ phá vỡ mối liên kết nền tảng mà truyền thống đă thiết lập giữa phép rửa và cơn cám dỗ. Như thế ông nhắc lại cảnh này khi nói tới việc Chúa Giêsu đến từ bờ sông Giođan và ông bày tỏ mối dây liên kết giữa bản gia phả và sự hiển linh sau khi chịu phép rửa, chính trong tư cách là Con Thiên Chúa và đầy tràn Thần Khí thánh mà Chúa Giêsu sắp chịu thử thách. Người được dẫn vào sa mạc, địa điểm mơ hồ này nơi mà, theo Kinh Thánh, con người có thể có kinh nghiệm về sức mạnh của tà thần hay đi vào mối hiệp thông với Thiên Chúa hằng sống.

Luca mượn từ tài liệu “Nguồn các lời” một sắc thái Kitô giáo về Chúa Kitô được cấu trúc bằng ba lời trích dẫn mà ông chọn lựa cẩn thận từ sách Đệ nhị luật, để minh hoạ một kinh nghiệm căn bản của Chúa Giêsu. Trường hợp duy nhất trong văn chương Tin Mừng: ở đây Chúa Giêsu chỉ tuyên bố những trích dẫn từ Cựu Ước! Con Thiên Chúa phải trải qua ba thử thách mà dân Isaia đă chịu trong cuộc xuất hành và họ đă sa ngă; khi lợi dụng những bài học của Đệ nhị luật nhắc nhở ta canh chừng khỏi tái phạm những lầm lỗi tương tự. Chúa Giêsu chiến thắng địch thủ. Có vẻ như truyền thống tŕnh bày ba giai đoạn theo trật tự như thấy trong Matthêu: bánh (chỉ t́m của cải vật chất), chóp đỉnh Đền Thờ (thử thách Chúa để đ̣i hỏi những dấu chỉ Mêsia gây sửng sốt), vương quốc trần gian (thoả hiệp với cái ác để bảo đảm quyền lực Mêsia). Luca sẽ đảo lộn cám dỗ thứ hai và thứ ba, để cám dỗ sau cùng –cám dỗ quan trọng nhất- là thử Thiên Chúa được diễn ra tại Giêrusalem.

Đối thủ của Thiên Chúa –được gọi là ma quỷ bốn lần trong bản văn này- đă ghi nhận được lời tuyên bố từ trời. Biết rằng Chúa Giêsu là Đấng Mêsia, nó thử ngăn trở vai tṛ của Người trong lịch sử cứu độ, khi bằng cách này hay cách khác mời mọc Ngài thực hiện một Công vụ Mêsia lừng lẫy. Độc giả đừng lầm lẫn về sứ mạng đích thực của Con Thiên Chúa, Chúa Giêsu hoàn tất lời Thiên Chúa: Ngài từ chỗ làm phép lạ để có lợi cho cá nhân Ngài (x. Đnl 6,13 được trích ở câu 8), cũng như dùng quyền năng Con Thiên Chúa của ḿnh để tự bảo vệ… và quyến rũ người Do Thái bằng những phép lạ có tính cách lừa bịp (x. Đnl 6,16 được trích dẫn ở câu 12). Thấy tên quỷ trích Thánh Vịnh 91,11-12, độc giả cũng có thể nghĩ đến các đối thủ Do Thái chống lại niềm tin Kitô giáo, khi họ dựa vào một số bản văn Kinh Thánh nói về Đấng Mêsia hoàng vương để từ chối Đấng bị đóng đinh đă sống lại.

Như vậy cả ba lần, sự trung thành của Chúa Giêsu đối với Thiên Chúa và đối với chương tŕnh cứu độ đă bị thử thách. Thử thách chót chính là … thử Chúa bắt Chúa phải ra tay. Đó là lỗi của Israel trong sa mạc, khi họ đ̣i một phép lạ bằng những lời này; “Chúa có ở với chúng ta hay không?” (Xh 17,7). C̣n Chúa Giêsu, Ngài từ chối bắt Thiên Chúa phải can thiệp; Ngài không đ̣i phép lạ để cứu mạng ḿnh. Ngài cũng sẽ không xin điều đó khi Ngài ở trên thập giá (23,35).

Bởi v́ Luca đă thấy rơ cuộc khổ nạn. Trái với kết cuộc có hậu của Mt 4.11, khi Satan bỏ đi, Chúa Giêsu được các sứ thần phục vụ (x. Mc 1,13), tác giả Luca lại hướng chú ư về ma quỷ. Khi chống lại một cách vô ích quan niệm của Chúa Giêsu về sứ mệnh Mêsia của Ngài, quỷ đă thua một trận đánh, nhưng không phải là toàn bộ cuộc chiến và nói rời xa Ngài cho đến giờ H –giờ khổ nạn, mà dưới mắt của Luca nó là nhân vật chính và giấu mặt (22,3.31.53). Đối với Luca, những cơn cám dỗ đó là thử thách đầu tiên của một cuộc chiến sẽ kết thúc trên thập giá… và ở ngoài ngôi mộ Phục Sinh!

Sự chống đối giữa ma quỷ và Con Thiên Chúa là một thực tại: nó sẽ đưa Ngài đến cái chết. Khi thuật lại giáo huấn này về Đức Giêsu, Luca biết rằng ông diễn tả bằng h́nh ảnh. Chẳng hạn, phải chăng ông đă không loại bỏ ngọn núi rất cao từ đó người ta có thấy tất cả các nước trong thiên hạ –một cách diễn tả quen thuộc của Do Thái giáo, nhưng có thể người h luật pháp lại không hiểu nổi? Ông viết “trong giây lát” (c.5): bản âm không gian được thay thế bằng một ghi chú về thời gian!

Người ta sẽ hỏi đâu là nền tảng lịch sử của cảnh khai mạc này mà Luca đă có được? Bên cạnh một biến cố đúng thời gian, ta phải kể đến việc Chúa Giêsu sống ẩn dật trong một nơi không rơ ràng gọi là sa mạc, sau khi chịu phép rửa, với một thực tại kép: các cơn cám dỗ dĩ nhiên rồi, đặc biệt là cơn cám dỗ về một sự vụ Mêsia trần tục, những cám dỗ ấy là một chiều kích thường xuyên trong sứ vụ của Đức Giêsu; nhưng cũng cả việc Chúa Giêsu từ chối thuận theo cám dỗ nữa. Có những dấu vết chính xác về các cám dỗ ấy trong một tác phẩm của Luca (Lc 10,25; 11,6tt; 22,42…), và đă trở thành hiển nhiên: Chúa Giêsu là một Mêsia bị lột trần và đau khổ. Các môn đệ là chứng nhân và sứ mạng mà Ngài đă lănh nhận. Các độc giả của Luca phải hiểu rằng không dễ dàng để hiểu Ngài.

Một lần nữa, thử thách theo đuổi suốt cuộc đời Chúa Giêsu không phải là tội. Như tất cả mọi người, Con Thiên Chúa đă kinh nghiệm câu châm ngôn này của Kinh Thánh: “Con ơi! Nếu con muốn phụng sự Chúa, con hăy chuẩn bị tâm hồn để chịu thử thách” (Ch 2,1).

 
 

9. Chú giải của Noel Quesson

Sau khi chịu phép rửa, Đức Giêsu được đầy Thánh Thần. Từ sông Giođan trở về và được Thánh Thần dẫn đi trong hoang địa.

Đức Giêsu vừa thay đổi cuộc sống. Đối với Người đó là một khúc quanh quyết định. Cách đây chỉ có vài ngày, Người vẫn c̣n là anh thợ mộc thôn làng, ở Nadarét. Người vừa nhận phép rửa ở sông Giođan "nhận chức" tác vụ làm ngôn sứ. Người được tràn đầy Thánh Thần? Trước khi bắt đầu tác vụ, Người cảm thấy cần phải một ḿnh lui vào hoang địa. Người muốn cầu nguyện, suy nghĩ chọn những phương thế sẽ sử dụng để hoàn thành công tŕnh của ḿnh.

Không có một công tŕnh lớn lao nào của con người, hay cuộc sống thiêng liêng thực sự nào, mà không cần thời gian suy nghĩ, cô tịch và im lặng nội tâm. Trong Mùa Chay đang bắt đầu, tôi có dành mỗi ngày vài phút, hay mỗi tuần vài khắc đồng hồ cho việc này? Để cầu nguyện suy nghĩ, và thấy rơ hơn không?

Tôi dùng tưởng tượng, ngắm nh́n Đức Giêsu đang rời làng mạc đông dân cư, đi sâu vào những vùng đất sỏi đá không người, không cây cỏ, không nước. Người bước đi bước tới. Lạy Chúa, c̣n con có dám đi theo Chúa không, để có một thời gian trong "hoang địa"?

Tại đây Chúa bị cám dỗ trong 40 ngày.

Theo Luca, cơn "cám dỗ" mà Đức Giêsu đương đầu, kéo dài trong suốt thời gian 40 ngày. Người ở nơi hoang địa. Thời gian cầu nguyện, cũng là thời gian "thử thách". Chữ này nhấn mạnh đến khía cạnh tích cực của cơn cám dỗ. Tự thử thách chính ḿnh đó là xem ḿnh có thể làm được những ǵ và "đưa ra bằng chứng về chính ḿnh". Trắc nghiệm một cỗ máy, đó là thử xem giá trị thực sự của nó. Sự “thử thách", theo nghĩa này, là một điều rất tốt. Một mối t́nh được thử thách, đó là mối t́nh luôn bền vững và hiện giờ ta vẫn có thể chắc chắn về sự bền vững đó. Khi bảo chúng ta xin Thiên Chúa "đừng để chúng con xa trước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ" Đức Giêsu không muốn nói là chúng ta sẽ không bị cám dỗ, nhưng ta phải chiến thắng cám dỗ, không bị nó đè bẹp, bị bại trận, th́ sự dữ ngự trị. Nhờ khắc khổ, Đức Giêsu đă có kinh nghiệm về lợi ích của thử thách. V́ thử thách có thể làm t́nh yêu lớn lên: Những cám dỗ Người chịu, sẽ làm nổi bật giá trị ḷng "trung tín" của Người đối với Chúa Cha.

Trong những ngày ấy, Người không ăn ǵ và khi hết thời gian đó th́ Người thấy đói.

Tôi ngưng một lát để chiêm ngắm cảnh này: Đức Giêsu đang đau khổ v́ đói! Bao tử co thắt - chóng mặt, nhức đầu.

Đa số các tôn giáo lớn, đều có việc thực hành "chay tịnh" tự nguyện như thế! Nền văn minh hiện đại của chúng ta, có lẽ là nền văn minh duy nhất trong lịch sử, khước từ kinh nghiệm tôn giáo phổ quát này. Ta thường nói, cần phải hưởng thụ. Tại sao phải nín nhịn? Khi một người ít buông thả trong phạm vi t́nh dục hay ăn uống, họ có nguy cơ mất đi một điều cốt yếu: "Sự tự chủ”. Lúc đó, con người trở thành một sinh vật rất mềm yếu, không ư chí, nô lệ cho những bản năng sơ đẳng nhất. Ở đây, Đức Giêsu đưa ra cho chúng ta h́nh ảnh một con người mạnh, có thể quên ḿnh, “ăn chay" tự nguyện. Tôi có biết từ bỏ, hy sinh trong Mùa Chay này không?

1. Cơn cám dỗ thứ nhất.

Bấy giờ quỷ nói với Người: "Nếu ông là con Thiên Chúa th́ truyền cho ḥn đá này hoá bánh đi".

Cơn cám dỗ v́ cái đói, đă là sự thử thách của Israel trong hoang địa. Nhưng cơn cám dỗ để thoả măn cái đói của chúng ta, là sự thử thách của mọi người. Chúng ta biết rơ những khao khát thể xác của ḿnh. Thiên Chúa đă đặt chúng trong ta, nhưng chúng ta có thể dễ "lệch lạc", trở thành độc tài yêu sách. Xă hội tiêu thụ quanh ta lại càng tăng thêm quyền lực cho chúng: "Hăy mua món ragu, ḿ sợi Ư. Thế giới phương Tây, nói chung, quá dư thừa thực phẩm. Những y sĩ thường cảnh giác điều đó.

Đức Giêsu đáp lại: "Đă có lời chép rằng: Người ta sống không chỉ nhờ cơn bánh".

“Con người". Lạy Chúa Giêsu, con thích nghe lời này từ miệng Chúa. Con người, đó là nỗi đam mê của Chúa. Chúa đă đến trong nhân loại để phát huy giá trị của con người trong mọi chiều kích. Chúa lặp lại cho chúng con hôm nay: Hỡi con người, đừng sống chỉ nhờ cơm bánh! Đừng hạ thấp ḿnh xuống mức độ sơ đẳng nhất. Người không có nhu cầu nào khác hơn là ăn, uống hút xách... sao?

Trong Mùa Chay này, chúng ta có biết phát triển những giá trị tâm linh của ḿnh không? Chúng ta có biết cầu nguyện đón thận những thiếu sót khắc khổ, giúp ḿnh thêm sinh khí không?

2. Cám dỗ thứ hai.

Quỷ đem Đức Giêsu lên cao và trong giây lát chỉ cho Người thấy tất cả các nước thiên hạ. Rồi nó nói với Người: "Tôi sẽ cho ông toàn quyền cai trị cùng với vinh hoa lợi lộc của các nước này, v́ quyền hành ấy đă được giao cho tôi, và tôi muốn cho ai tuỳ ư. Vậy nếu ông bái lạy tôi, th́ tất cả sẽ thuộc về ông".

Rơ ràng, tŕnh thuật này không phải là một "phóng sự" của một nhà báo mô tả hay quay phim một biến cố. Đây là một trang thần học tóm kết và tổng hợp cách tượng trưng "tất cả những h́nh thức cám dỗ" (Lu ca sẽ nói rơ điều đó khi kết thúc tŕnh thuật của ông) mà Đức Giêsu đă gặp “thực sự” suốt cuộc đời của Ngài. Chẳng hạn, rơ ràng là cơn cám dỗ thứ hai này, cám dỗ để được "quyền hành thế gian", đă không ngớt tấn công Đức Giêsu. Hằng ngày, Ngài đă phải đẩy lui cơn cám dỗ "cứu thế nhất thời" mà người đương thời đă muốn lôi kéo Người bước vào: Một Đấng cứu thế có tính chính trị, một ông "vua của thế gian" này theo kiểu vua Đavít cầm đầu, cùng với Nhóm quá khích để chống lại quyền hành và vinh quang, chống lại quân Rôma xâm lược (Ga 6,15). Ngay từ ngày đầu tiên này, tại hoang địa, cho tới hơi thở cuối cùng, Đức Giêsu đă khước từ vương quyền để làm người "nghèo hèn" "người tôi tớ" (Ga 13,1-20). Đức Giêsu đă có thể trở nên giàu có và quyền thế nhưng Người đă chấp nhận "yếu đuối" (1 Cr 1,27), khi chọn thập giá là “điều ô nhục đối với người Do Thái, là sự điên rồ đối với dân ngoại". Cơn cám dỗ về "quyền hành" cũng là cơn cám dỗ của chúng ta: Muốn thống trị áp đặt, và lợi dụng.

Đức Giêsu đáp lại: "Đă có lời chép rằng: Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một ḿnh Người mà thôi". (Đnl 6,13)

Chống lại những cuộc tấn công của xatan, Đức Giêsu trả lời 3 lần bằng Kinh Thánh (Đnl 8,3-6,13-6,16), v́ đó cũng chính là những cơn cám dỗ mà dân Chúa đă gặp nơi hoang địa trong "40 năm", và giờ đây Đức Giêsu cũng đang sống lại trong bản thân Người: Đó là cơn cám dỗ về mana (Xh 16), cám dỗ thờ ngẫu thần và con ḅ vàng (Xh 32-42), cám dỗ làm những dấu lạ (Xh 17). Cơn cám dỗ của Israel cũng là cơn cám dỗ của Đức Giêsu, của toàn thể nhân loại, của chúng ta. Nghi ngờ Thiên Chúa, v́ người không tỏ hiện, để tin những ǵ khác".

Câu trả lời của Đức Giêsu là "không có ǵ hơn Thiên Chúa". Lạy Chúa Giêsu, theo chân Chúa, con không muốn thờ lạy và tin tưởng ở tiền bạc, lạc thú, quyền hành, "những ư thức hệ chính trị", những tiến bộ hay thời trang. Con chỉ phục bái “trước mặt Chúa". Cái tạm thời không phải là xấu. Nhưng biến nó trở nên "tuyệt đối", là một ảo tưởng bi thảm. Đức Giêsu là Đấng giải thoát chúng ta khỏi những “thần giả hiệu” đang gạt gẫm chúng ta.

3. Cơn cám dỗ thứ ba.

Quỷ đem Đức Giêsu đến Giêrusalem và đặt Người lên nóc đền thờ rồi nói với Người: “Nếu ông là con Thiên Chúa th́ đứng dậy, mà gieo ḿnh xuống đi! V́ có lời phép rằng: Thiên Chúa sẽ tay đỡ, tay nâng cho bạn khỏi vấp chân vào đá". (Tv 91,11-12)

Đó là cơn cám dỗ lớn và liên tục mà người ta đă đặt ra trước Đức Giêsu suốt đời sống công khai của Người: hăy làm phép lạ đi - Hăy cho chúng tôi một dấu chỉ trên trời. Hăy chứng minh rằng ông là Thiên Chúa. Hăy biểu lộ quyền hành của ông bằng phép lạ, chứng minh rằng ông là Đấng Cứu 'Thế chúng tôi đang mong đợi. Hăy bước xuống khỏi thập giá đi? (Lc 11,29-11,16-21,7; Ga 91,28-6,30-12,37; Mt 27,42-43). C̣n chúng ta, chúng ta cũng luôn đ̣i hỏi những điều đó với Chúa sao?

Luca đă đặt cơn cám dỗ này, cám dỗ nơi đền thờ Giêrusalem xuống hàng thứ ba (c̣n đối với Matthêu, đó là cám dỗ thứ hai 4,5). Làm như thế, Luca mới nhấn mạnh đến sự tiệm tiến. Thực vậy, chính tại Giêrusalem, Đức Giêsu đă trải qua cơn thử thách lớn nhất của Người. Đó là cơn cám dỗ bi thiết, muốn cho Người khỏi phải chết: "Nếu có thể được, xin tha cho con khỏi uống chén này" (Lc 22,42). Đức Giêsu đă không được thiên thần "bảo vệ". Đó là cơn cám dỗ bi thảm nhất: trong đau khổ; mất niềm tin nơi Chúa Cha. Đức Giêsu đă không được bảo vệ, chân của Người đă vấp phải đá đường. Người đă không bao giờ dùng quyền năng thần linh của ḿnh để tránh sức mạnh ghê gớm của "thân phận con người phải chết”. Người đă khước từ những phương tiện "ngoạn mục" để thi hành xứ vụ của ḿnh, mà chỉ chọn những "phương tiện hạn hẹp". Chính nhờ thái độ Dâng lời tuyệt đối Chúa Cha, đến nỗi có cảm tưởng bị "Chúa Cha bỏ rơi" (Mt 27,48), mà người chứng tỏ ḿnh là Con Một của Cha. Người sẽ được ' "'cứu khỏi chết" nhờ sự phục sinh của ḿnh, nhưng chỉ sau khi đă sống trọn t́nh thương "cho đến tận cùng". Do đó, chúng ta chớ ngạc nhiên khi đến lượt ḿnh cũng cảm thấy cơn cám dỗ bi thảm này: Đó là cơn cám dỗ nặng nhất, khi nghĩ rằng “Chúa bỏ rơi ta", cám dỗ của khuynh hướng vô thần "nếu có một Thiên Chúa tốt lành, th́ tôi đâu có gặp thử thách như vậy! "

Chúa Giêsu đáp lại: Đă có lời rằng: ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi.

Chúng ta cũng thường "thử thách Thiên Chúa". Đôi khi chúng ta buộc Chúa phải theo ư muốn của ta: "Nếu Chúa hiện hữu, nếu con thật là con của Chúa, Chúa phải cho con lành bệnh, hay thoát khỏi một cơn thử thách nào đó hay thành công ở một kỳ thi nào đó. Nếu Chúa không làm như thế, th́ Chúa đâu có c̣n quan tâm tới con nữa, và Chúa đâu c̣n hiện hữu ǵ với con". Chúng ta biết rằng, vấn đề sự dữ trong thế gian là nguyên nhân của phần lớn những cuộc khủng hoảng tâm linh và dẫn đến nhiều trường hợp bỏ Đức tin.

Nhưng chúng ta cũng tin rằng, Đức Giêsu đang "ở cùng chúng ta". Đức Giêsu là người đầu tiền đă thắng cơn cám dỗ này, và dù có bị "đóng đinh trên cây gỗ”, vẫn một ḷng trung thành với Chúa Cha.

Sau khi đă xoay hết cách để cám dỗ Người, quỷ bỏ đi, chờ đợi thời cơ.

Như vậy những cơn cám dỗ này, chỉ là khởi đầu. Đức Giêsu sẽ c̣n bị cám dỗ nữa. Và có thể nói, xatan đă hẹn tại Giêrusalem. Nơi đó sẽ diễn ra trận đụng độ thực sự khi Đức Giêsu bước vào cuộc thương khó (Lc 22,3).

 
 

10. Trong sa mạc - R. Gutzwiller

Do Thần trí Thiên Chúa thúc đẩy, Chúa Giêsu đi vào sa mạc. Sự sung măn tinh thần cùng với việc đối thoại thân mật với Chúa Cha chiếm hữu Ngài mănh liệt đến độ Ngài không c̣n tưởng nghĩ đến những nhu cầu vật chất nữa, dường như Ngài xuất thần, sống trong một thế giới khác.

Rồi bốn mươi ngày trong trạng thái xuất thần ấy qua đi, nhường chỗ cho những nhu cầu của con người, khiến Ngài cảm thấy cơn đói mănh liệt. Tiếp theo ánh sáng từ trên cao là những u ám dưới đất; sau sự tràn đầy Thiên Chúa đến cơn cám dỗ của Satan vây bọc.

Càng là bậc thần bí chiêm niệm, càng là Đấng thánh thiện, th́ lại càng hay bị Satan bủa vây, công hăm; những vị sống ở mức độ thánh thiện cao th́ đồng thời cũng có nguy cơ liều ḿnh sa xuống vực thẳm. Chúa Giêsu đă được nâng cao hơn ai hết: cho nên không ai bị Satan cám dỗ bằng Ngài.

Đây Ngài sắp bị kẻ địch mở ba mũi dùi tấn công:

Cám dỗ thứ nhất muốn nói đến cách sử dụng sai lầm quyền năng Thiên Chúa để phục vụ cho một lợi ích thế trần. Chúa Giêsu cũng có thể làm giảm cơn đói đang hoành hành nơi bản thân Ngài, điều đó có thể lắm chứ! Thế nhưng Ngài đă trả lời: ‘Người ta sống, không phải chỉ bằng cơm bánh’.

Tinh thần hay cơm bánh, linh hồn hay thân thể, đâu là điều quan trọng đối với Ngài? Từng thứ một luân phiên xuất hiện trước mặt Ngài… Phần đa số nhân loại đều ao ước cả hai, nhưng lại đặt trật tự sai lạc: tiên vàn là những ǵ liên quan đến thân xác, no nê, tiện nghi đầy đủ, rồi sau đó, hay may mắn lắm là song song với nó, mới đến những yếu tố tinh thần và thiêng liêng.

Hơn nữa, nhiều người c̣n bị cái chủ hướng chỉ coi trọng vật chất. Những người này hoàn toàn chối bỏ tinh thần và linh hồn. Duy chỉ c̣n tiện nghi vật chất là cứu cánh cho đời họ: ‘Cơm bánh và vui chơi’. Ngày nay xu hướng đó có một tầm ảnh hưởng đặc biệt, v́ coi kinh tế như là động lực mang tính cách quyết định, những cái c̣n lại chỉ là phụ trội mà thôi.

Ngược lại, Chúa Giêsu xác quyết chỉ tinh thần mới có giá trị tuyệt đối. Bởi v́ Thiên Chúa quan trọng hơn thế gian nhiều. Do đó, tiên vàn phải lo t́m kiếm nước của Người và mọi sự khác sẽ đến sau. Trời quan trọng hơn đất, nên kẻ nào chỉ loay hoay với những sự dưới đất là những người vụng về, không biết đâu là chính yếu và đâu là tuỳ phụ. Sự vĩnh cửu đáng giá hơn thời gian, nên kẻ nào liều mạng sống ḿnh để chiếm được những cái chóng qua đời này, th́ kể là đă đặt tất cả mọi sự trên một địa bàn sai lạc.

Lời Chúa Giêsu trưng dẫn lấy từ đoạn ở sách Đệ nhị luật, trong đó nói về thứ bánh Thiên Chúa ban cho dân khi c̣n ở trong sa mạc, nhưng đồng thời cũng nhấn mạnh là Lời Sáng tạo và Thần trí Thiên Chúa trọng hơn bội phần, đáng giá hơn thứ bánh do phép lạ Thiên Chúa làm và càng hơn thứ bánh ta dùng thường ngày gấp ngàn vạn lần.

Chúa Giêsu không chỉ khinh rẻ thân xác và những nhu cầu thể xác. Chúng ta sẽ thấy Ngài chữa lành bệnh tật, làm phép lạ hoá bánh ra nhiều, phục sinh kẻ chết. Xem đó th́ biết Ngài không phải là anh trí thức một chiều, chỉ chu chu chăm chắm vào những điều thiêng liêng sáng láng, Ngài cũng chẳng phải là kẻ ngông cuồng không nhận biết Thiên Chúa. Nhưng Ngài muốn là tinh thần và Lời của Thiên Chúa phải được đặt vào đúng chỗ của nó, bởi v́ thân thể chỉ có được ư nghĩa đúng đắn và những nhu cầu vật chất cũng chỉ thoả măn một cách chính đáng khi tất cả đều diễn tiến theo một trật tự hợp với Thánh ư Thiên Chúa, hợp với luật của Người.

Do Thần trí Thiên Chúa thúc đẩy, Chúa Giêsu đi vào sa mạc. Sự sung măn tinh thần cùng với việc đối thoại thân mật với Chúa Cha chiếm hữu Ngài mănh liệt đến độ Ngài không c̣n tưởng nghĩ đến những nhu cầu vật chất nữa, dường như Ngài xuất thần, sống trong một thế giới khác.

Rồi bốn mươi ngày trong trạng thái xuất thần ấy qua đi, nhường chỗ cho những nhu cầu của con người, khiến Ngài cảm thấy cơn đói mănh liệt. Tiếp theo ánh sáng từ trên cao là những u ám dưới đất; sau sự tràn đầy Thiên Chúa đến cơn cám dỗ của Satan vây bọc.

Càng là bậc thần bí chiêm niệm, càng là Đấng thánh thiện, th́ lại càng hay bị Satan bủa vây, công hăm; những vị sống ở mức độ thánh thiện cao th́ đồng thời cũng có nguy cơ liều ḿnh sa xuống vực thẳm. Chúa Giêsu đă được nâng cao hơn ai hết: cho nên không ai bị Satan cám dỗ bằng Ngài.

Đây Ngài sắp bị kẻ địch mở ba mũi dùi tấn công:

Cám dỗ thứ nhất muốn nói đến cách sử dụng sai lầm quyền năng Thiên Chúa để phục vụ cho một lợi ích thế trần. Chúa Giêsu cũng có thể làm giảm cơn đói đang hoành hành nơi bản thân Ngài, điều đó có thể lắm chứ! Thế nhưng Ngài đă trả lời: ‘Người ta sống, không phải chỉ bằng cơm bánh’.

Tinh thần hay cơm bánh, linh hồn hay thân thể, đâu là điều quan trọng đối với Ngài? Từng thứ một luân phiên xuất hiện trước mặt Ngài… Phần đa số nhân loại đều ao ước cả hai, nhưng lại đặt trật tự sai lạc: tiên vàn là những ǵ liên quan đến thân xác, no nê, tiện nghi đầy đủ, rồi sau đó, hay may mắn lắm là song song với nó, mới đến những yếu tố tinh thần và thiêng liêng.

Hơn nữa, nhiều người c̣n bị cái chủ hướng chỉ coi trọng vật chất. Những người này hoàn toàn chối bỏ tinh thần và linh hồn. Duy chỉ c̣n tiện nghi vật chất là cứu cánh cho đời họ: ‘Cơm bánh và vui chơi’. Ngày nay xu hướng đó có một tầm ảnh hưởng đặc biệt, v́ coi kinh tế như là động lực mang tính cách quyết định, những cái c̣n lại chỉ là phụ trội mà thôi.

Ngược lại, Chúa Giêsu xác quyết chỉ tinh thần mới có giá trị tuyệt đối. Bởi v́ Thiên Chúa quan trọng hơn thế gian nhiều. Do đó, tiên vàn phải lo t́m kiếm nước của Người và mọi sự khác sẽ đến sau. Trời quan trọng hơn đất, nên kẻ nào chỉ hoay hoay với những sự dưới đất là những người vụng về, không biết đâu là chính yếu và đâu là tuỳ phụ. Sự vĩnh cửu đáng giá hơn thời gian, nên kẻ nào liều mạng sống ḿnh để chiếm được những cái chóng qua đời này, th́ kể là đă đặt tất cả mọi sự trên một địa bàn sai lạc.

Lời Chúa Giêsu trưng dẫn lấy từ đoạn ở sách Đệ nhị luật, trong đó nói về thứ bánh Thiên Chúa ban cho dân khi c̣n ở trong sa mạc, nhưng đồng thời cũng nhấn mạnh là Lời Sáng tạo và Thần trí Thiên Chúa trọng hơn bội phần, đáng giá hơn thứ bánh do phép lạ Thiên Chúa làm và càng hơn thứ bánh ta dùng thường ngày gấp ngàn vạn lần.

Chúa Giêsu không chỉ khinh rẻ thân xác và những nhu cầu thể xác. Chúng ta sẽ thấy Ngài chữa lành bệnh tật, làm phép lạ hoá bánh ra nhiều, phục sinh kẻ chết. Xem đó th́ biết Ngài không phải là anh trí thức một chiều, chỉ chu chu chăm chắm vào những điều thiêng liêng sáng láng, Ngài cũng chẳng phải là kẻ ngông cuồng không nhận biết Thiên Chúa. Nhưng Ngài muốn là tinh thần và Lời của Thiên Chúa phải được đặt vào đúng chỗ của nó, bởi v́ thân thể chỉ có được ư nghĩa đúng đắn và những nhu cầu vật chất cũng chỉ thoả măn một cách chính đáng khi tất cả đều diễn tiến theo một trật tự hợp với Thánh ư Thiên Chúa, hợp với luật của Người.

Chúa Giêsu cũng sẽ sử dụng quyền năng lạ lùng của Ngài theo lời, theo ư của Thiên Chúa chứ không theo sở thích của ḷng ḿnh, lại càng không theo ư muốn của ḿnh, hay sự thúc đẩy của thân xác. Sứ vụ của Ngài là loan báo Nước Thiên Chúa. Xu hướng coi trọng vật chất vẫn c̣n xung khắc với Kitô giáo.

Cám dỗ thứ hai liên quan đến sự ham hố quyền hành. Satan chỉ cho Chúa thấy ‘hết các nước thiên hạ’ và nói thêm: ‘Tôi hiến cho Ngài uy quyền đó hết thảy và vinh quang của các nước ấy, v́ nó đă được phú thác cho tôi, và tôi muốn hiến cho ai tuỳ ư tôi’. Lời ǵ mà lạ lùng thế! Tuy nhiên chính Chúa Giêsu đă gọi Satan là ‘Thủ lĩnh thế gian này’. Quyền lực tự nó đâu phải là cái ǵ xấu xa, nhưng có một chú quỉ quyền thế chỉ lo quyến rũ những kẻ ham danh và mê thống trị. Kẻ đó không c̣n lo t́m Đấng toàn năng, cũng chẳng t́m Thánh ư Thiên Chúa Tối Cao, Đấng mọi quyền hành đều phải phụng sự Ngài.

Trái lại, họ coi quyền hành của họ là sự thiện tuyệt đối và sử dụng tuỳ theo sở thích của họ. Kiêu ngạo, dương dương tự đắc quá lố như vậy tất sẽ đi đến chỗ lầm đường lạc lối. Sách Khải huyền gọi quyền thế là ‘con mănh thú vực sâu…’. Nói đúng ra, đối với những người có địa vị, cám dỗ này c̣n nguy hiểm hơn cám dỗ coi vật chất là số một, dù cám dỗ này cũng đă thật thô bỉ. Cám dỗ về ham quyền được nguỵ trang bằng những dáng vẻ đạo đức bề ngoài, v́ nó khuyến khích việc mở rộng nước Chúa nhờ những phương tiện bên ngoài của chính trị, vơ khí, tổ chức này tổ chức nọ, tiền bạc… Thậm chí có những việc khởi đầu hoàn toàn với ư hướng ngay thẳng, thế rồi dần dà cũng đi đến chỗ coi trọng quyền thế; tham quyền th́ cố vị, và rốt cuộc sa vào mưu mô của ma quỷ.

‘Vậy nếu ông bái xuống lạy tôi, th́ mọi sự ấy sẽ là của ông’. khi bái lạy quyền thế th́ người ta cũng thờ lạy Satan. Khi ham quyền và những lợi lộc do đó mà ra, th́ người ta đă đang tâm hiến ḿnh làm nô lệ cho quyền thế.

Đó là lư do tại sao Chúa Giêsu đă trả lời: ‘Ngươi phải bái lạy Chúa, Thiên Chúa của ngươi, và chỉ thờ phượng một ḿnh Người’ Đấng Tối Cao là Đấng độc nhất mà mọi sự phải quy phục. Đấng toàn năng là Vị Duy Nhất sở hữu và ban phát quyền năng chính đáng. Mọi thứ quyền hành không phụng sự Thiên Chúa là một sự lạm dụng và phục vụ cho Satan, cho dầu nó có vẻ huy hoàng rực rỡ mấy chăng nữa. Ham quyền quá đáng trao nộp chúng ta vào tay ma quỷ. Nhưng Chúa Giêsu đă đến để thiết lập Nước Thiên Chúa th́ đồng thời Ngài cũng phá tan vương quốc của kẻ thù.

Trong cái chết của Chúa Giêsu, quyền lực âm phủ mở tiệc ăn mừng; nhưng trên thực tế, nó đă bị bẻ găy và tỏ ra ḿnh yếu kém ngay tại đó. Trót cuộc sống Chúa Giêsu là một sự phục vụ Thiên Chúa, chứ không phải phụng sự Satan. ‘Ngươi phải thờ phượng một ḿnh Thiên Chúa’. Kẻ nào thờ lạy bất cứ cái ǵ khác phải kể là đă phản bội Thiên Chúa.

Cám dỗ thứ ba nói đến việc lạm dụng phép lạ với mục đích thoả măn tính hiếu kỳ.

Satan đưa Chúa Giêsu, trong Thần trí, lên chóp đỉnh đền thờ. ‘Nếu Ngài là Con Thiên Chúa, th́ hăy gieo ḿnh xuống’. Chú quỷ c̣n trưng dẫn Kinh Thánh nữa: ‘V́ Người đă truyền cho các thiên thần ǵn giữ ông; và các vị đó sẽ giơ tay nâng đỡ ông khỏi vấp chân vào đá’.

Chúa Giêsu đă khởi đầu cuộc sống công khai của ḿnh trong đơn sơ và ẩn mặt, v́ Ngài đă xen lẫn vào đám dân chúng, và những người tội lỗi bên bờ sông Giođan. Giờ đây, cám dỗ có ư muốn làm cho mọi chuyện xảy ra ngược lại: Ngài sẽ làm một phép lạ từ trời trước mặt quần chúng, tỏ ra ḿnh đặc biệt phi thường. Dân chúng đang khát khao được nh́n, được thấy. Họ muốn thấy Ngài xuất hiện trên chín tầng mây chứ không phải như một người trong họ, như bao nhiêu người khác.

Trong lănh vực tôn giáo, phép lạ vẫn luôn mang theo một sự lôi kéo mới mẻ. Người ta từ chối không muốn phụng sự Thiên Chúa trong những khó khăn của cuộc sống thường nhật và không muốn theo Thánh ư Người trong cuộc sống b́nh thường. Họ muốn có những chuyện lạ lùng bên ngoài, bên trong cũng được. Nhất là cảm nghiệm trong việc cầu nguyện thần bí.

Những chuyện Đức Mẹ hiện ra. Vị này vị nọ được in năm dấu Thánh, có sức lôi kéo họ đi hành hương bất chấp xa xôi vất vả và họ coi là có giá trị hơn là chấp nhận Lời Chúa và Thánh ư Người bằng niềm tin cùng với tấm ḷng đơn sơ chân thành. Thánh ư mà Chúa tỏ bày qua những hy sinh trong chức nghiệp bổn phận trong gia đ́nh, những thánh giá hằng ngày mà ít ai để ư, cũng chẳng ai tỏ vẻ khâm phục.

Chúa Giêsu không coi rẻ phép lạ đâu. Chính Ngài sẽ thực hiện những phép lạ, nhưng không phải để thoả măn những thèm khát của đại chúng hoặc để cho tôn giáo có tính chất ngoại lệ đặc biệt, một chỉ để vâng phục Thánh ư Thiên Chúa, Cha của Ngài trên trời, và do đó chứng ḿnh rằng ḿnh nhận lănh sứ vụ từ nơi Chúa Cha. Tất cả những ǵ ngoài mục đích đó đều được coi là thử thách Cha Ngài, là có ư bắt Thiên Chúa làm những phép lạ không cần thiết, cũng không theo lệnh, chẳng theo ư của Người.

V́ đó, Chúa Giêsu trả lời: ‘Ngươi đừng thử thách Chúa là Thiên Chúa của ngươi’.

Đó là cám dỗ chống lại Thiên Chúa cao trọng, chống lại Thần trí, ư muốn và quyền năng của Người. Chúa Giêsu lướt thắng Satan nhờ Thiên Chúa và phá tan mưu chước bằng cách chạy đến Thiên Chúa. Cũng thế, con người không thể đứng vững trước những cơn thử thách nhờ vào sức riêng của ḿnh được. Đứng giữa Thiên Chúa và ma quỷ, con người chỉ có thể vượt thắng được ma quỷ nhờ sự trợ lực của Thiên Chúa. Không thể có chuyện trung lập hay lẩn tránh. Người ta chỉ có thể xa lánh Satan khi quay hướng về Thiên Chúa, làm như vậy th́ người ta cũng xa tránh được mưu chước cám dỗ của Satan.

Bây giờ đây, thời gian chuẩn bị cho cuộc đời công khai của Chúa Giêsu đă chấm dứt. Được Thiên Chúa uỷ phái, nhưng Ngài lại ở giữa loài người. Sinh bởi Thiên Chúa, tuy nhiên cũng là con loài người, Ngài được đầy tràn Thần khí Thiên Chúa và sẽ chiến đấu với Thần trí Satan. Thánh ư Thiên Chúa cũng là lề luật của Ngài, nước Thiên Chúa là bổn phận của Ngài, tất cả những ǵ thuộc về ma quỷ là thù địch của Ngài. Ngài sẽ xây dựng nước Thiên Chúa và sẽ huỷ diệt vương quốc của Satan.

Sau phần mở đầu uy hùng và bi tráng này, thái độ mâu thuẫn giữa sức lực trên cao và quyền năng dưới thế sắp bắt đầu công cuộc hành động của Ngài trên dân chúng.

 
 

11. Chú giải của Fiches Dominicales

TUYÊN XƯNG ĐỨC TIN BÀNG HÀNH ĐỘNG

VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI

1. Liên hệ chặt chẽ với phép rửa của Đức Giêsu

Sau tŕnh thuật về phép rửa, lúc tiếng nói từ trời tuyên bố: "Con là Con Cha. Hôm nay Cha đă sinh ra Con", Luca đưa vào bản gia phả của Người, nhắc lại tổ tiên nhân loại của Đức Giêsu cho tới "Adam, con Thiên Chúa". Cũng trong mối liên lạc chặt chẽ với quang cảnh phép rửa là với bản gia phả mà thánh sử định vị cho giai đoạn cám dỗ: Đức Giêsu "đầy Thánh Thần" rời bỏ "bờ sông, Giođan"; người "được Thánh Thần hướng dẫn vào hoang địa" - Đây là nơi mơ hồ, nơi mà theo Kinh Thánh, con người bị thần dữ thử thách hoặc đi vào kết hiệp với Thiên Chúa hằng sống "trong 40 ngày"

Người sẽ bị "ma quỉ thử thách" với tư cách là Con Thiên Chúa. Ma quỉ hỏi với Người: "Nếu ông là Con Thiên Chúa hăy truyền cho ḥn đá này trở nên bánh. Nếu ông là con Thiên chúa, hăy nhảy xuống đất".

2. Thử thách đầu tiên trong cuộc chiến toàn thắng.

Cũng như bản văn của Mátthêu - tuy thứ tự có khác – bản văn của Luca kết cấu chung quanh 3 cuộc cám dỗ. Ba cuộc cám dỗ, chính Tin Mừng xác định rơ ràng ở phần kết, đă “múc cạn” mọi h́nh thức cám dỗ": những cơn cám dỗ mà Đức Giêsu sẽ phải đương đầu suốt dọc tác vụ của Người cho đến khi chết, những cơn cám dỗ mà các môn đệ và mọi thành phần trong cộng đoàn của các ngài sẽ gặp. Ba cơn cám dỗ, cũng như ba lời trích dẫn đă ghi chú cặn kẽ, đă được khéo léo lựa chọn từ sách Thứ Luật (trích trong bài đọc 1 và thánh Phaolô trích dẫn trong bài đọc 2), chính là những cơn cám dỗ mà dân Israel đă phải đương đầu, trong suốt 40 năm sa mạc. Có điều họ đă sa ngă. Nay đến phiên Đức Giêsu phải đương đầu với những cơn cám dỗ ấy, suốt 40 ngày trong sa mạc: Ba lần, địch thù thử thách ḷng trung tín của người Con đối với Thiên Chúa và với chương tŕnh cứu độ của Người; trong cả 3 lần, Đức Giêsu đă chiến thắng.

Hugues Cousin nhận xét: "Đây là trường hợp độc nhất trong văn chương Tin Mừng. Đức Giêsu chỉ nói những lời tích từ Cựu ước, Con Thiên Chúa phải trải qua 3 cuộc thử thách mà xưa kia dân Israel trong chuyến Xuất Hành đă đương đầu và đă sa ngă đă sa ngă; rút được kinh nghiệm từ những bài học trong sạch thứ Luật, cảnh giác để khỏi tái diễn những lỗi lầm tương tự. Đức Giêsu đă chiến thắng đối thủ" ("Tin Mừng theo thánh Luca", Centurion, trg 62).

+ Cơn cám dỗ đầu tiên, giống như Mátthêu, là cơn cám dỗ về Sở Hữu, cơn cám dỗ chỉ t́m lợi lộc vật chất, cơn cám dỗ của một chủ nghĩa Mêsia thiển cận: "Nếu ông là Con Thiên Chúa, hăy biến ḥn đá này thành bánh đi".

Lần đầu tiên trích dẫn sách Thứ Luật 8,3 - đoạn nói về manna - Đức Giêsu trả lời ngay tức khắc: "Người ta sống không nguyên bởi bánh". Người từ chối làm phép lạ v́ lợi lộc riêng tư. Là "Con" thật sự, Người nhận tất cả từ Thiên Chúa, Cha của Người và chỉ từ Chúa Cha mà thôi; nên Người phó thác tất cả cho Thiên Chúa, Cha của Người và chỉ phó thác cho Chúa Cha mà thôi. Roland chú giải: "Con là kẻ nhận được sự hiện hữu, sự sống không từ chính ḿnh, nhưng từ một kẻ khác, từ Cha của ḿnh. Con là kẻ hiểu biết trong niềm vui và niềm biết ơn rằng ḿnh sống nhờ Cha. Người không phải là kẻ ra lệnh để có bánh; chính Chúa, Thiên Chúa của Người sẽ ban lương thực cùng với Lề Luật. Con không ra lệnh, Người khẩn cầu: "Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày" (Tin Mừng theo thánh Luca. Phân tích tu từ", Cerf, quyển 3, trg 50).

+ Cơn cám dỗ thứ hai, khác với tŕnh thuật của Mátthêu, là cơn cám dỗ về QUYỀN LỰC; cơn cám dỗ về một chủ nghĩa Mêsia theo tham vọng loài người, dù phải trả giá bằng sự thoả hiệp. "Nếu ông thờ lạy tôi, quỉ đoán chắc, ông sẽ có tất cả" ("Mọi quyền lực và vinh quang của các vương quốc ấy”).

Lần thứ hai trích dẫn sách Thứ luật 6, 1 3 - đoạn nói về con ḅ vàng - Đức Giêsu trả lời ngay: "Đă chép rằng: Người chỉ được thờ lạy Chúa, Thiên Chúa của ngươi mà thôi". Người từ chối không tôn kính thủ lănh trần gian để hành xử vương quyền phổ quát. Là Con thật sự, Người sẽ nắm giữ vương quyền từ Thiên Chúa, Cha của Người, và chỉ từ Cha người mà thôi, theo con đường Cha đă chọn: con đường khiêm nhường, nghèo hèn, thánh giá. R. Meynet chú giải: "Đức Giêsu sẽ nhận được các vương quốc trần gian, Người sẽ là Đức Kitô, Vua, v́ Người đă từ chối vương quyền xấu xa của ma quỉ, v́ Người đă tự nguyện trở nên tôi tớ của Thiên Chúa và của nhân loại" (Sđd).

+ Cơn cám dỗ thứ ba Luca đă cho diễn ra ở Giêrusalem, báo trước thử thách quyết liệt sau này, đó là cơn cám dỗ MA THUẬT, cơn cám dỗ thử thách Thiên Chúa, đi t́m những dấu chỉ kinh thiên động địa của Đấng Mêsia. Ma quỉ dùng Tv 90, cố cám dỗ một lần cuối: "Nếu ông là Con Thiên Chúa, hăy gieo ḿnh xuống; Có lời chép rằng: người đă ra lính cho các thiên thần ǵn giữ ông".

Lần cuối cùng trích dẫn sách Thứ Luật 6,16 - đoạn nói về Massa, nơi dân Do Thái đă buộc Chúa phải cho họ nước uống - Đức Giêsu đáp tức khắc: "Đă chép rằng: "Ngươi đừng thử thách Chúa là Thiên Chúa của ngươi". Người từ chối sử dụng quyền làm Con Thiên Chúa để bảo vệ ḿnh; và mê hoặc người Do Thái bằng những điều kỳ diệu. Người từ chối buộc Thiên Chúa phải can thiệp. Người không đ̣i phép lạ để cứu mạng sống ḿnh; người chẳng đ̣i hỏi cả khi Người bị treo trên thánh giá. R. Meynet nói tiếp: "Người tin chắc rằng: Thiên Chúa sẽ cứu Người, Người không có quyền kiểm chứng xem Chúa Cha có trung tín không; Thiên Chúa chẳng cần phải chứng tỏ cho mọi người thấy Thiên Chúa có cứu Người" (sđd).

3. Sẽ hoàn tất trên thánh giá

Nếu, như nói ở trên, Luca hoán đổi vị trí 2 cơn cám dỗ sau, đó là v́ muốn thiết lập một thứ tự tiệm tiến cho tới cơn cám dỗ thứ ba: Tại Giêrusalem, nơi có cuộc đụng đầu quyết liệt và nơi hoàn thành quyển sách đầu tiên của ngài. Đây là khúc nhạc mở đầu loan báo cuộc thử thách lớn lao trong khổ nạn.

Hôm nay, đối thủ đành chịu khuất phục, nó rút lui "chờ giờ phút đă định". Lúc ấy, nó sẽ xuất hiện, ra những đ̣n cuối cùng tấn công Đấng Chịu Đóng đinh qua miệng các sĩ quan, quân lính và cả người trộm dữ nữa.

“Nếu ông là Đức Kitô, hăy cứu ḿnh và cứu chúng tôi với!, một kẻ cùng chịu đóng đinh với Người lên tiếng, thách thức.

Trong lúc thất bại ê chề trước mặt mọi người, Đức Giêsu: vẫn vững vàng trong thử thách; vẫn gần bó với thánh giá giữa các người bạn cùng đau khổ. Người phó thác trọn vẹn cho Chúa Cha cội nguồn sứ mạng của Người. Và người trộm lành đă sinh ra trong ánh sáng nên đă không nguyền rủa.

Quân lính chế nhạo: "Nếu ông là Vua dân Do Thái, hăy tự cứu ḿnh đi".

Trong lúc công cuộc của Người tưởng như vĩnh viễn lụi tàn, Đức Giêsu vẫn kiên vững trong thử thách, vẫn lặng lẽ. Đấng Mêsia - Vua chịu đóng đinh và bất lực cầu khẩn một ḿnh với Chúa Cha "Lạy Cha, con dâng phó hồn con trong tay Cha" (Tv 30.6). Thái độ của Người trước cái chết đă khiến viên sĩ quan Rôma phải thốt lên những lời đầy hứa hẹn: "Quả thật ông này là người công chính".

Thủ lănh trong dân châm chọc: "ông ta đă cứu được người khác: hăy tự cứu ḿnh đi, nếu ông ta là Đấng Mêsia của Thiên Chúa, "Đấng được tuyển chọn".

Trong khi tất cả mọi người quấy rối, Đức Giêsu vẫn kiên vững trong thử thách, tha thứ cho các đao phủ. Và sự đau khổ cũng như cái chết của Người, được đảm nhận trong t́nh yêu, đă sinh hoa kết quả: Có người đă tách ra khỏi các thành viên của hội đồng, đó là Giuse người Arimathia.

Có người sẽ hỏi, đâu là gốc rễ lịch sử của đoạn văn mà Mátthêu và Luca thuật lại. H. Cousin trả lời: "Bên cạnh một biến cố xác thực, cuộc tĩnh tâm của Đức Giêsu trong hoang địa sau khi chịu phép rửa, ta phải xét đến 2 thực tại: những cơn cám dỗ chắc chắn phải có, đặc biệt là cơn cám dỗ về chủ nghĩa Mêsia trần tục, v́ chúng vẫn tồn tại trong suốt sứ vụ của Đức Giêsu; và Người vẫn kiên tŕ chống trả không bao giờ chịu lùi bước nhượng bộ. Những dấu vết hiển nhiên tồn tại trong suốt Tin Mừng Luca (10, 25; 11, 6 và kế tiếp; 22, 42...) càng cho ta thấy rơ rằng: Đức Giêsu là một Đấng Mêsia nghèo nàn và đau khổ. Các môn đệ làm chứng Người luôn trung tín với Thiên Chúa, với sứ mệnh mà Người đă lănh nhận. Luca đă làm cho độc giả hiểu ràng Đức Giêsu đă phải chọn lựa một h́nh thức thi hành sứ mệnh, một cách thế hiện hữu và không phải dễ dàng để đi đến cùng chọn lựa ấy" (Sđd, trg 63-64).

BÀI ĐỌC THÊM

1. Cơn cám dỗ của Đức Giêsu trong hoang địa: một pha gây cấn

(H. Denis trong "100 từ ngữ diễn tả đức tin", DDA, trg 111- 112).

Mùa Chay khai mạc - vào Chúa nhật đầu tiên - đưa ta đến trước một cảnh lạ lùng, thậm chí đáng lo ngại: cơn cám dỗ Đức Giêsu trong hoang địa.

Ta muốn nói như Phêrô khi nghe loan báo cuộc khổ nạn: "Không! Thầy không phải chịu như thế. Đôi khi ta cố xoay xở, nhưng đó không phải là linh đạo tối ưu khi giải thích sự vật" như sau: Thực ra, Đức Giêsu không thực sự bị cám dỗ, Người đă chấp nhận bị cám dỗ "v́ ta", để dạy ta biết phải chống lại các cơn cám dỗ như thế nào. Nhưng giá phải trả cho lối giải thích này rất nặng. Làm như Đức Giêsu "giả vờ" không bằng. Rồi sẽ suy ra người giả vở làm người, giả vờ học hành, giả vờ đói giả vờ đau khổ, giả và chết.

Nếu ta muốn chấp nhận Đức Kitô có nhân tính thực sự, ta phải t́m hiểu xem bằng cách nào Đức Giêsu đă thực sự bị cám dỗ ra khỏi con đường thẳng tắp của sứ mệnh của Người, và Người đă chống trả thế nào.

Cơn cám dỗ về bánh để nuôi dân no đủ vốn là cơn cám dỗ của mọi lănh tụ, có tôn giáo hay không. Đức Giêsu đă chống cự. Nếu có lần Người chấp nhận hoá bánh ra nhiều, đó cũng chỉ nhằm giúp người ta có đủ sức nghe lời phát xuất từ miệng Thiên Chúa và để họ t́m được một thứ lương thực khác: "Này là Ḿnh Ta, sẽ bị nộp v́ các con". Cơn cám dỗ về phép lạ, về những điều kỳ diệu cũng đă bị đẩy lui. Phải chăng đó đă là dấu chỉ của một Đức Giêsu chỉ chữa bệnh v́ Nước Trời? "Phúc cho ai không thấy mà tin".

Cơn cám dỗ về quyền lực trên trần gian cũng tinh vi không kém. nhưng Đức Giêsu biết rằng Satan ẩn nấp trong mọi thứ vinh quang không qui về Chúa Cha. Vinh quang của Đức Kitô là vinh quang của sự hiến ḿnh. Điều ấy sẽ được thực hiện trên thánh giá, trong khó nghèo tột độ, khi mọi sự hoàn tất.

2. Những cạm bẫy tương tự trải dài suốt lộ tŕnh của ta

(F. Deleclos, trong ‘hăy cầm lấy Lời Chúa mà ăn’ Centurion -Duculot, trg 193-194)

Thật tốt nếu ta vui vẻ để "Chúa Thánh Thần dẫn vào hoang địa". Đó là cơ hội sống động cho ta khám phá hoặc tái khám phá ra những cạm bẫy thường xuyên giăng dưới bước chân người Do Thái, những cạm bẫy mà Đức Kitô đă gặp, cũng là những cạm bẫy trải dài suốt hành tŕnh và suốt lịch sử đời ta. Ta hăy học cách vạch trần những cơn cám dỗ để khỏi bị lệch hướng xa đường giao ước, xa đường sứ mạng của ta.

Những cạm bẫy của Thần Dữ toả ra hào quang duyên dáng và lôi cuốn, mời mọc tinh vi và đáng sợ, cộng với trí thông minh và sự kiên nhẫn của "Địch thủ của triều đại Thiên Chúa".

Đó là cơn cám dỗ dùng Lời Chúa phục vụ mọi ham thích của ta về sở hữu, về hiểu biết, về quyền lực, là những nguồn không bao giờ cạn “của mọi loài h́nh cám dỗ" luôn quấy phá các tín hữu và các Giáo Hội.

Đó là những ham hố quá đáng đi t́m điều lạ lùng, săn đuổi các cuộc hiện ra, các phép lạ, làm lệch hướng những đ̣i hỏi khẩn cấp của Tin Mừng.

Đó là cầu nguyện sốt sắng bên ngoài để phiền nhiễu Thiên Chúa, mong rút tỉa được đặc ân tránh khỏi thử thách, khổ đau.

Cạm bẫy c̣n là những an thân giả tạo, những bảo đảm hăo huyền mà ta mải mê t́m kiếm trong một mớ chồng chất những lễ nghi trống rỗng vô nghĩa vô hồn.

Cơn cám dỗ tinh vi cuốn ta vào đủ mọi thứ hy sinh đến từ tinh thần thống trị, ḷng ham thích sức mạnh và say mê quyền lực Thiên đường các ngẫu tượng.

Làm cách nào trả lời 3 cuộc cám dỗ tiêu biểu nếu không phải là 3 câu trả lời bằng ăn chay, cầu nguyện và chia sẻ. Gặp gỡ Chúa để Lời chân lư và sự sống đổ đầy vào trái tim ta và vọt ra từ môi miệng ta. Khước từ những phồn vinh muốn chôn vùi ta và khám phá thấy trong sự tiết độ những giá trị vững bền. T́nh liên đới làm phát sinh và nuôi dưỡng ḷng quảng đại huynh đệ đối với biết bao kẻ đói khát sự công chính và b́nh an, những người bị loại trừ khỏi t́nh yêu và ḷng kính trọng, những người bị áp bức ở mọi nơi, đám đông mênh mông những người bị đóng đinh nơi đó Đấng giải phóng, Đấng Phục sinh hằng sống đang náu ẩn trong vô danh.

 
 

12. Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt

CÁM DỖ TRONG SA MẠC

1. Phần dẫn nhập của tŕnh thuật này (cc.1-2) có vẻ chi tiết hơn Mt. Lc thêm hai chỉ dẫn quan trọng: Chúa Giêsu “tràn đầy Thánh Thần” (x.Cv 6,5; 7,55; 11,24 - với động từ “tràn đầy":Lc 1,15.41.67; Cv 2,4; 4,8; 31,9; 17,13,9.52) và Chúa Giêsu “bỏ bờ sông Giodan”. Hai chi tiết này chứng tỏ ư hướng muốn nối kết chặt chẽ cám dỗ với cuộc thần hiện sau phép rửa. Lc muốn cho ta hiểu rằng gia phả Chúa Giêsu chỉ là một “cái ngoặc đơn” mà thôi. Bắt đầu kế tiếp (4,14), Lc lần nữa nhắc lại việc Chúa Giêsu vừa lănh nhận Chúa Thánh Thần: việc Ngài giảng dạy cũng được nối kết với cuộc thần hiện ở sông Giodan. Chính trong địa vị làm Con Thiên Chúa tràn đầy Thánh Thần mà Chúa Giêsu bắt đầu sứ mạng rao giảng của Ngài.

Lc không nói như Mc và Mt là Chúa Giêsu được Thánh Thần dẫn “vào sa mạc": Chúa Giêsu băng qua sa mạc dưới sự thúc đẩy mạnh mẽ của Chúa Thánh Thần là Đấng h́nh như không cho phép Ngài dừng bước. Lời xác định “trong suốt 40 ngày” ăn khớp với động từ êgeto (được dẫn đưa): dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, Chúa Giêsu đă đi suốt 40 ngày trong sa mạc. Người ta có thể thấy ở đây ảnh hưởng của câu Đệ Nhị Luật 8,2 mà Lc đă theo sát trong bản dịch 70 (câu này nằm ngay trước Đnl 8,3 mà Chúa Giêsu mượn làm câu trả lời đầu tiên): “Hăy nhớ con đường mà Thiên Chúa ngươi đă dẫn ngươi đi (êgagen se)(bản Talmud: suốt 40 năm) trong sa mạc để hạ ngươi xuống và để thử thách ngươi khi đọc Mt, người ta có cảm tưởng cơn cám dỗ xảy đến cho Chúa Giêsu sau 40 ngày, c̣n Lc lại theo Mc, tŕnh bày cơn cám dỗ kéo dài suốt cả thời gian trong sa mạc. Ba chước cám dỗ do ma quỉ do Lc kể lại h́nh như chỉ là những h́nh thức tiêu biểu nhất, đặc biệt nhất của các chước cám dỗ đủ loại Chúa Giêsu phải chịu đựng suốt 40 ngày: chúng đánh dấu cao điểm tấn công của ma quỉ.

2. Về cám dỗ thứ nhất, có một hiệu đính quan trọng, được xem là của Lc, là việc thay đổi “những viên đá này, những chiếc bánh từ số nhiều sang số ít. Do mối ưu tư tả thực, Lc đă chọn kiểu nói số ít, có vẻ tự nhiên hơn. Làm như vậy, ông khiến ta bớt nghĩ đến Manna là ư tưởng tiềm ẩn nơi tŕnh thuật của Mt: ông này, để gợi lại h́nh ảnh Manna che phủ mặt đất trong sa mạc, đă tự nhiên nói đến nhiều viên đá biến được thành bánh; c̣n h́nh như Lc không muốn nhấn mạnh đến ảnh Giêsu - Israel. Viết cho những người không phải là Do thái, ông dẹp bớt những ǵ làm họ ngỡ ngàng.

Sau lời đề nghị “hăy truyền cho những ḥn đá này biến thành bánh có thể dễ dàng xác định thêm “để ông có thể ăn”. Một xác tín kiểu đó, nếu lôi kéo chú ư đến sự thoả măn riêng tư của Chúa Giêsu, th́ cũng để cho người ta liên tưởng tới cám dỗ Evà (St 3,6) và tới những cám dỗ Kitô hữu năng gặp. Nhung Lc, mặc dầu vừa nhắc đến Adam vài câu trước đó (3,38) và là người thường ưa quảng diễn dài ḍng, đă không muốn gợi những liên tưởng đó. V́ thật ra, việc thoả măn cơn đói chỉ là chuyện thứ yếu; điều tác giả muốn nhắm ở đây là chính quyền lực lạ lùng của Đấng vừa mới được tuyên bố là Con Thiên Chúa khi Ngài chịu phép rửa. Chính trong ư nghĩa này mà ta phải hiểu lời ngoắt ngoéo thâm hiểm của ma quỉ: “Nếu ông là Con Thiên Chúa”. Cũng như trong tŕnh thuật Mt, ở đây chắc chắn ma quỉ không chút nghi ngờ ǵ. Sau khi đă chứng kiến tất cả những dấu chỉ lạ lùng xung quanh ngày Giáng sinh và ngày thơ ấu của Chúa Giêsu, sau khi đă thấy rơ Ngài không thể phạm tội cho đến lúc bấy giờ, và có lẽ cũng đă thấy được biến cố thần hiện ở sông Giodan (nếu biến cố này được biểu lộ ra bên ngoài) th́ chắc chắn ma quỉ phải biết rơ ràng con người đang đứng trước mặt nó là Đấng Thiên sai của Israel, là Con Thiên Chúa. V́ thế chữ “nếu” của câu “nếu ông là Con Thiên Chúa” không phải là một từ ngữ nói đến điều kiện (như trong câu: “Nếu ngày mai trời tốt, tôi sẽ đi chơi) nhung là chữ “nếu” diễn tả lư do. Lời cám dỗ của ma quỉ có thể viết ra như thế này: v́ ông là Đấng Thiên sai, hăy dùng quyền lực Thiên sai của ông để làm những điều lạ lùng có lợi cho ông.

Thứ tự các cám dỗ thứ hai và thứ ba nơi Mt bị Lc đảo ngược. Để biết thứ tự nguyên thuỷ, phải nghiên cứu các câu trả lời của Chúa Giêsu. những câu trả lời ấy được rút ra từ sách Đệ Nhị luật, nhưng Mt đă đảo ngược thứ tự tŕnh bày, nghĩa là Đnl 8,3 rồi đến 6,16; 6,13. Song cũng chính Đnl đă đảo lộn thứ tự lịch sử của các biến cố thời Xuất hành: Đnl 8,3 lấy lại Xac 16 (phép lạ Manna); Đnl 6,16 th́ nhắc lại Xac 17,1-7 (phép lạ nước uống); cuối cùng Đnl 6,13 tương ứng với Xac 23,32-34 (nhất là giai thoại con ḅ vàng). Khi đảo lộn thứ tự của Đnl, Mt lập lại thứ tự lịch sử những cám dỗ của Israel thời Xuất hành. Sự song đối giữa những cám dỗ của Chúa Giêsu và của Israel thời xuất hành. Sự song đối giữa những cám dỗ của Chúa Giêsu và của Israel phải được coi là h́nh thức nguyên thuỷ của tŕnh thuật. Vậy là Lc đă thay đổi cách phối trí, lư do trước hết là để tŕnh thuật được kết thúc ở Girusalem, như tất cả phúc âm của ông.

3. Cám dỗ thứ hai (cc.5-8) là đoạn mà Lc đă thay đổi nhiều nhất. Ông không muốn nhắc đến “một ngọn núi cao” (Mt) v́ đối với Lc, ngọn núi là nơi tuyệt đối dành riêng cho việc thông giao với Thiên Chúa nhờ cầu nguyện và thần hiện, chứ không phải là nơi để cám dỗ hoặc ngay cả giảng dạy (bài giảng trên núi được ông tŕnh bày như là đă xảy ra trên một khoảng đất bằng phẳng so sánh Lc 6,17 và Mt 5,1). Vậy, thay v́ nói đến một đoạn núi cao từ đó người ta có thể thấy toàn trái đất “trong nháy mắt”. Lc biết rơ rằng không có một ngọn núi nào mà từ đó có thể thấy được cả toàn cầu, song v́ muốn có vẻ thực, ông đă thay thế một chỉ dẫn địa dư mơ hồ bằng một ư niệm thời gian, để cho thấy đây là một thị kiến hoàn toàn ảo ảnh, một thị kiến rất nhanh (không đầy nháy mắt), có tính cách siêu nhiên.

Điểm thêm vào quan trọng nhất phải kể là nơi lời giải thích của câu 6. Nơi Mt, đó chỉ là một vấn đề sở hữu: “Hết mọi cái đó, tôi hiến cho ông” (Mt 4,9). C̣n Lc trước tiên chú ư đến quyền lực, quyền bính, esousia (là ư tưởng ông quen dùng: 12,11; 20,20; 22,53; 23,7; Cv 20,18): ma quỉ hứa ban một quyền lực chính trị trên mọi dân nước. Do thái giáo thời gần đó (Is 24,21-23; 27,1) và nhất là trong văn chương khải huyền (Đnl 7,2) đă xác tín rằng các quyền lực ma quỉ, thù nghịch với Thiên Chúa, đang điều khiển các vương quốc trần gian, để ngược đăi dân Tc chọn. Các vương quốc này thờ ngẫu tượng và áp bức Israel, v́ dân tin Tc thật. Người ta thấy ma quỉ ẩn núp dưới các bụt thần. Các nước thế gian bày tỏ ḷng trung thành với ma quỉ qua việc thờ ngẫu tượng. Tư tưởng này cũng được các tác giả Thiên Chúa chia sẻ (Kh 13,2). Thánh Gioan gọi ma quỉ bằng một tên đầy ư nghĩa: “Đầu mục thế gian” (Ga 12, 31; 14,30; 16,11). Phaolô c̣n gán cho nó tước hiệu lạ lùng: “thần đời này” (2Co 4,4). Cũng như Lc và Ga, Phaolô nh́n thấy trong hành động của những người đóng đinh Chúa Giêsu (1Co 2,8) sự xúi giục của “đầu mục của đời tạm này”.

Thế gian, nghĩa là thời đại này, âiôn houtos, là lănh địa của ma quỉ, nên dĩ nhiên quyền lực thế gian tuỳ thuộc nó. Nhưng phải nhận rằng quyền ấy “đă được trao cho” nó: thể thụ động diễn tả hành động hay sự cho phép của Thiên Chúa, chủ thể tối cao (so sánh Ga 19,10); đến thời sau hết, Ngài sẽ tiêu diệt các quyền lực, dân nước đă nổi lên chống lại ngài. Tạm thời, ma quỉ sử dụng quyền lực chính trị đó, và cám dỗ nói ở đây là một cám dỗ về quyền lực, dân nước đă nổi lên chống lại Ngài. Tạm thời, ma quỉ sử dụng quyền lực chính trị đó, và cám dỗ nói ở đây là một cám dỗ về quyền lực chính trị. Nhưng khác với Mt 4,9, lời hứa của câu 7 không nhằm sự chiếm hữu các vương quốc, nhưng là sự thừa hưởng một uy quyền (exousia) tuyệt đối trên tất cả các vương quốc ấy.

4. Về cám dỗ thứ ba (cc. 9-12), Lc thêm hai xác định trong lời của ma quỉ để đi sát với câu trích dẫn Tv 91 hơn. Cũng như trong cám dỗ trước, Lc rơ ràng chú trọng đến ma quỉ và những lời của nó hơn. Trái lại ông làm yếu câu trả lời của Chúa Giêsu bằng cách mở đề: “Đă có nói rằng” thay v́ như Mt: “Lại có viết là”, kiểu đối đáp ăn miếng trả miếng với lập luận của ma quỉ.

5. Phần kết luận (c.13) chứa đựng nhiều âm điệu đặc biệt của Lc, làm cho đoạn văn này mang một chiều hướng thần học thật độc đáo.

Phần đầu của câu kết luận ("sau khi dùng hết mọi h́nh thức cám dỗ") nói đến cám dỗ, peirasmos (ở số ít). Trong Lc, peirasmos luôn ám chỉ cám dỗ theo nghĩa luân lư: 8,13; 11,4; 22,40; 22,46. Cũng tiếng ấy ở số nhiều, peirasmoi lại ám chỉ những thử thách với nghĩa tổng quát hơn nghĩa thuần luân lư: 22,28; Cv 20,19. Lc sẽ c̣n nói đến những “thử thách” (peirasmoi nơi 22,28) của Chúa Giêsu, nhưng không nhắc đến chữ “cám dỗ” (peirasmos) khi bàn về các môn đệ nữa; đặc biệt ông không ghi lại sự can thiệp bậy bạ của Phêrô tại Késaree của Philip (Mc 8,32-33; Mt 16,22-23) nơi Pharô bị gọi là quỉ cám dỗ Chúa Giêsu. Vậy dưới cái nh́n của Lc, việc Chúa Giêsu chiến thắng ma quỉ trong sa mạc có tính cách quyết định. Thực sự ma quỉ đă “dùng hết mọi phương chước cám dỗ”, và khi nó tái xuất giang hồ, th́ không c̣n là để “cám dỗ” Chúa Giêsu nữa, song là t́m cách giết Ngài. Những nhận xét này cho thấy ư nghĩa của câu 13; trong tư tưởng của Lc, các chước cám dỗ Chúa Giêsu chịu thực sự đă xong rồi, sẽ không c̣n cám dỗ nào khác. Những thử thách Ngài gặp sau đó không c̣n đặt lại vấn đề ḷng trung tín của Ngài đối với Thiên Chúa và với sứ mạng Ngài đă được Chúa Cha trao phó.

Phần thứ hai của câu kết luận xác quyết cách giải thích này. Lc đă viết: “Ma quỉ bỏ Ngài một thời gian” (Achri cairou) (Bj: au temps marqué, Nguyễn thế Thuấn: đợi dịp). Thành ngữ này chỉ gặp lại một lần trong nơi khác của Tân Ước, Cv 13,11: Elymas, v́ muốn gây trở ngại cho Phaolô, đă bị mù không thấy ánh sáng mặt trời “một thời gian”. Như thế, khi loan báo ngày trở lại bất ngờ của ma quỉ, Lc đă minh nhiên tŕnh bày nó như một vai trong cuộc khổ nạn. Thật thế, câu chuyện khổ nạn bắt đầu bằng sự phản bội của Giuda, nhưng ngay từ đầu đoạn văn này, ở 22,3, Lc ghi chú một câu đầy ư nghĩa: “Satan đă nhập vào Giuda”. Đó là việc tái xuất hiện của tên cám dỗ, mở màn cho một thử thách cam go nhất. Và ta cũng thấy, khi đứng trước những địch thủ tới bắt ḿnh, Chúa Giêsu đă nói: “Này là giờ các ông, là thời của quyền lực (exousia) tối tăm (22,53).

6. Việc thay đổi thứ tự cám dỗ 2 và 3 có ư nghĩa nào?

Câu trả lời thứ nhất hệ tại chỗ nhấn mạnh sự quan tâm về địa lư của Lc. Lc muốn kết thúc tŕnh thuật những cám dỗ tại Giêrusalem, v́ trước tiên đối với ông, Giêrusalem là một địa điểm có tính cách thần học (Conzelmann). Lời giải thích này đúng nhưng chưa đủ.

Đối với Lc, Giêrusalem tự bản chất là nơi mà các lời loan báo về cuộc khổ nạn và vinh quang của Đấng Cứu thế phải được hoàn tất. Thực vậy sau cuộc cám dỗ, đoạn văn đầu tiên nói đến Giêrusalem trong tương quan với Chúa Giêsu nằm trong giai thoại biến h́nh; suốt cuộc biến h́nh này Môisen và Elia đă đàm đạo với Chúa Giêsu về việc “ra đi (oxodos) Ngài sắp hoàn tất tại Giêrusalem” (9,31). “Việc ra đi” đó ám chỉ toàn thể mầu nhiệm vượt qua: tử nạn và phục sinh. Từ giai thoại biến h́nh này trở đi, Lc tăng thêm những lần nhắc đến Giêrusalem như là nơi mà Chúa Giêsu sẽ lên, nơi mà Ngài sắp hoàn thành sứ mệnh. Người ta thấy cũng một ư tưởng ấy trong hai giai thoại của Phúc âm thời thơ ấu Chúa Giêsu: giai thoại “dâng con trẻ trong đền thờ” với lời tiên tri đầu tiên của Simeon loan báo cuộc tử nạn (2,34-35) và giai thoại “lạc mất, t́m lại con trẻ sau ba ngày” với một lời nói bí nhiệm chỉ hiểu được về sau (2, 41-50); đây là giai thoại tiên trưng cuộc vượt qua cuối cùng của Chúa Giêsu khi Ngài “trở về nhà Cha” và chỉ được các tông đồ t́m gặp lại sau ba ngày.

Văn mạch này cho phép ta phỏng đoán lư do tại sao Lc đă muốn tŕnh thuật các cám dỗ đạt tới cao điểm ở Giêrusalem. Thưa v́ không có ǵ thích hợp cho bằng việc chọn thành ấy làm nơi chấm dứt cám dỗ, nơi ma quỉ từ biệt Chúa Giêsu, nơi y sẽ tái xuất không phải để “cám dỗ” Ngài nữa mà là để gây ra cuộc thử thách cuối cùng. Đó cũng là điều giải thích tại sao Lc đă lưu tâm đến ma quỉ trong tất cả tŕnh thuật này: ông lợi dụng tŕnh thuật để tŕnh bày tên đối thủ, đă một lần thất trận trong sa mạc, tưởng ḿnh sẽ chiến thắng tại Giêrusalem trong ngày thứ sáu tuần thánh.

KẾT LUẬN

Trong tŕnh thuật những cám dỗ, Lc nhấn mạnh đến hai điểm: khuôn mặt của ma quỉ và tương quan của biến cố này với biến cố tử nạn. Trong lúc các câu trả lời của Chúa Giêsu ngắn hơn hoặc ít quan trọng hơn so với nơi Mt, th́ ở Lc, những lời cám dỗ của tên ma quỉ có vẻ thực hơn (cám dỗ 1) dài ḍng hơn (cám dỗ 2) và ăn khớp với lời trích dẫn Thánh kinh hơn (cám dỗ 3). Cuối cùng đoạn kết luận của tŕnh thuật c̣n nói đến ma quỉ chứ không phải Chúa Giêsu (khác với Mt). Lc nối kết các cám dỗ với cuộc khổ nạn và với Giêrusalem, nơi hoàn thành những lời tiên tri loan báo về đau khổ và vinh quang của Đấng Cứu thế. Cuộc khổ nạn và thành Giêrusalem đă được nhắc đến trong Tin mừng thời thơ ấu (2,34-35. 41-45). Rồi tiếp đến, phần đặc biệt nhất của phúc âm thứ ba lại tŕnh bày việc Chúa Giêsu lên Giêrusalem (9,51-18,9). Khi lặp đi lặp lại Chúa Giêsu lên Gierusalem (9,51; 9,53; 13,22-33; 17,11; 18,31; 19,11-28), Lc nhấn mạnh Giêrusalem sẽ là nơi xảy ra “cuộc ra đi” ()9,31 và cuộc “siêu thăng” của Ngài (9,51). V́ vậy người ta có thể nói rằng: trong lúc các tŕnh thuật của Mt chỉ nh́n về quá khứ của dân Israel để minh chứng sự thể hiện chương tŕnh của Thiên Chúa, th́ các tŕnh thuật của Lc h́nh như lại qui hướng hơn về những biến cố chính yếu làm thành nền tảng thực sự của nhiệm cục mới: tử nạn, phục sinh, hiện xuống.

Ư HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Chính nhờ Thánh Thần hướng dẫn mà Chúa Giêsu vào sa mạc để chịu cám dỗ. Qua việc đó ta thấy rằng bị cám dỗ không phải là một điều xấu. Chính Chúa Giêsu cũng đă biết qua cơn cám dỗ. Điều xấu là ngă gục trước cám dỗ ấy. Chống lại cám dỗ một cách anh dũng như Chúa Giêsu trong sa mạc chính là cho ḿnh có dịp biểu lộ t́nh con thảo hiếu với Chúa Cha. Dĩ nhiên chúng ta không được liều ḿnh đứng trước cám dỗ (điều ấy chỉ ḿnh Chúa Giêsu mới có thể làm được v́ Ngài là Con Thiên Chúa và sự đối đầu với ma quỉ ngay từ đầu sứ mệnh Cứu thế là một phần trong chương tŕnh của Thiên Chúa). Liều ḿnh đứng trước cám dỗ khi không cần thiết là điều làm Chúa Giêsu - đă không muốn làm khi ma quỉ xúi Ngài gieo ḿnh từ nóc đền thờ xuống. V́ như vậy là thách thức Thiên Chúa. Nhưng khi hoàn toàn ngoài ư muốn mà chúng ta bị đặt trong những hoàn cảnh phải chịu cám dỗ th́ không có ǵ phải hoảng hốt. Hăy nhớ rằng với tư cách là môn đệ của Đấng đă bị cám dỗ trong sa mạc, chúng ta đương nhiên phải trải qua cám dỗ, lúc ấy hăy làm như Chúa Giêsu: lợi dụng những phương thế siêu nhiên có sẵn: tăng sức mạnh lời Chúa, năng cầu nguyện (như Chúa Giêsu trong vườn cây dầu) nuôi dưỡng ḿnh bằng thịt và máu của Đấng đă từng chiến thắng Satan.

2. Sứ vụ của Chúa Giêsu khai mào bằng việc chiến thắng ma quỉ: Ngài vượt lên trên nó. Thời cứu độ Chúa Giêsu khai mở là thời đánh dấu khởi đầu ngày tàn của ma quỉ: “Ta đă thấy satan từ trời rơi xuống như một tia chớp” (Lc 10,18). Ở đâu mà Chúa Giêsu ra tay hành động, ở đó ma quỉ bị bó buộc phải nhường bước, rút lui. Bây giờ cũng vậy, khi cơn cám dỗ đến độ mạnh chúng ta có cảm tưởng rằng ma quỉ thật toàn năng; tốt nhất hăy nhớ lại rằng nó chỉ là một kẻ chiến bại, một tù binh được tự do tạm thời chờ ngày tận thế, một viên tướng đă thất trận ngay từ đầu.

3. Xưa cũng như nay, các cám dỗ của ma quỉ đều giống nhau: chúng luôn luôn nhắm tách rời chúng ta khỏi Thiên Chúa bằng ư chí quyền lực, bằng thái độ từ chối tin tưởng vào sự quan pḥng của Cha trên trời, bằng khuynh hướng lợi dụng sự che chở và ḷng tha thứ của Ngài. Những phương thế chiến thắng các cám dỗ này cũng luôn giống nhau, đó là những phương thế chính Chúa Giêsu đă dùng: khiêm nhượng tuân phục thánh ư Chúa Cha, chấp nhận với t́nh yêu số phận của Chúa Cha dọn sẵn cho ta (số phận không phải là không có thánh giá, nhưng chắc chắn sẽ đưa chúng ta đến vinh quang sau cùng) từ chối khiêu khích Thiên Chúa can thiệp cách đặc biệt có lợi cho ta.

4. Ma quỉ luôn hứa ban quyền thống trị thế giới cho Kitô hữu hôm nay cũng như mọi thời, nhưng với điều kiện là tôn thờ và phục tùng nó. Một cách cụ thể, nó ban cho những phương tiện làm giàu mau chóng bằng cách lấy của người lân cận, những phương thế chiếm đoạt các chức vị lợi lộc bằng âm mưu loại trừ người xứng đáng hơn, những dịp hưởng lạc thú bằng cách bất trung trong đời sống lứa đôi... Ma quỉ không bao giờ cho đi mà không đ̣i lại gấp trăm, trái lại với Thiên Chúa là Đấng ân thưởng gấp trăm cho ai bố thí một ly nước lă v́ danh Ngài. Xét cho cùng, đời sống Kitô hữu là một chọn lựa giữa Thiên Chúa và ma quỉ, giữa việc thờ phượng ma quỉ với Chúa Cha. Không ai có thể làm tôi hai chủ (Mt 6,24). Thờ phượng ma quỉ th́ có thể được lợi trong chốc lát, nhưng sớm muộn ǵ cũng đưa tới thất vọng, cay đắng, cái chết đời đời. Thờ phượng Thiên Chúa th́ phải từ bỏ chính ḿnh, nhưng rồi cũng sẽ được b́nh an, thoả măn nội tâm và được sống vĩnh cửu.

  


 

13. Phương cách ma quỉ dùng để cám dỗ ta - JKN

Câu hỏi gợi ư:

1. Khi câu cá, để câu được nhiều cá, ta phải dùng những thứ mồi thật ngon, những thứ mà cá ưa thích nhất. Để cám dỗ ta một cách hữu hiệu, ma quỉ dùng những loại mồi nào? Có phải là chính những nhu cầu cấp thiết nhất của ta, những điều ta ham muốn nhất không?

2. Khi bị cám dỗ ta thường phải lựa chọn giữa điều tốt và điều xấu, hay giữa điều thật tốt và điều ít tốt hơn?

3. Bạn có nghĩ rằng bị cám dỗ là một dịp tốt để ta chứng tỏ và củng cố t́nh yêu của ta đối với Thiên Chúa và tha nhân không?

Suy tư gợi ư:

1. Ma quỉ dùng chính những nhu cầu cấp thiết nhất của ta để cám dỗ ta

Đức Giêsu là con người, nên có những nhu cầu tự nhiên về tâm linh, tâm lư và thể lư y như mọi người. Thoả măn những nhu cầu tự nhiên, tự bản chất, là điều chính đáng, v́ chính Thiên Chúa đă dựng nên con người có những nhu cầu tự nhiên đó. Chẳng hạn, về thể chất, ăn khi đói, uống khi khát là điều chính đáng. Về tâm lư, mong được mọi người yêu thương, kính phục cũng là điều chính đáng. Nhưng có những trường hợp thoả măn những nhu cầu tự nhiên ấy lại trở thành tội lỗi, sai trái, hay ít nhất là làm ta bớt hoàn hảo, kém giá trị. Đó là khi để thoả măn những nhu cầu tự nhiên ấy, người ta phải lỗi một bổn phận quan trọng hơn, hoặc phải làm một điều trái đạo, đi ngược với lương tâm hay những nguyên tắc đạo đức…

Ma quỷ thường dùng những nhu cầu chính đáng nhất của con người để cám dỗ họ, đưa họ vào con đường tội lỗi. Thật vậy, biết bao người đă v́ miếng ăn, v́ những nhu cầu rất chính đáng về vật chất hay tinh thần, mà phải bán rẻ lương tâm, chấp nhận làm những điều sai trái hay tội lỗi.

Khi Đức Giêsu đă nhịn đói nhiều ngày, giả như Ngài có làm phép lạ để biến đá thành bánh mà ăn th́ tự bản thân việc ấy chẳng có ǵ là xấu hay sai trái, mà c̣n là một việc chính đáng nữa. V́ con người có bổn phận phải lo cho sức khoẻ hay bảo vệ mạng sống ḿnh. Nhưng nếu Ngài đă quyết định ăn lại vào một thời điểm nào đó, nhưng chỉ v́ đói mà Ngài lại chiều theo cơn cám dỗ để ăn sớm hơn, th́ Ngài đă lỗi với chính quyết định của ḿnh. Nếu làm thế, Ngài tỏ ra thiếu tự chủ và chưa phải là người hoàn hảo. Nhưng trong thực tế, Ngài đă không chiều theo cơn cám dỗ.

2. Giữa hai điều tốt, ma quỉ cám dỗ ta chọn điều ít tốt hơn

Nếu phải lựa chọn giữa một điều tốt và một điều xấu, th́ sự lựa chọn tương đối dễ dàng, v́ sự việc quá rơ ràng. Khi ta mới bắt đầu bước vào đời sống tu thân, ta thường phải lựa chọn kiểu này. Nhưng khi đă tiến triển trên con đường tu thân, nhiều khi ma quỷ cám dỗ ta một cách rất tế nhị. Nó khiến ta phải chọn lựa một trong hai điều tốt, và ta phải cân nhắc để làm điều tốt hơn, có giá trị lớn hơn. Chính cách lựa chọn này chứng tỏ ta yêu mến Thiên Chúa, quí trọng sự thiện tới mức nào. Nếu ta chiều theo cơn cám dỗ chọn cái ít giá trị hơn, cái ít tốt hơn, điều đó chứng tỏ ta thiếu quảng đại và c̣n nhiều ích kỷ.

Chẳng hạn, có những trường hợp ta phải chọn lựa giữa sự an toàn của bản thân ta với sự an toàn của cả gia đ́nh. Giữa sự tồn tại và phát triển của Giáo Hội ta với sự tồn tại và phát triển của cả đất nước. Giữa hạnh phúc của gia đ́nh ta với hạnh phúc của cả xă hội. Giữa chất lượng với số lượng. Giữa sự sự tốt đẹp có thực bên trong và h́nh thức giả dối bên ngoài. Giữa ư muốn tốt lành của ta với ư muốn của Thiên Chúa. Giữa việc của Thiên Chúa với chính Thiên Chúa… Tất cả những đối tượng phải lựa chọn đều là điều tốt, nhưng nhiều khi ta không thể chọn cả hai, mà chỉ có thể chọn một trong hai. Chỉ khi ấy, cách lựa chọn của ta mới chứng minh được ta quí trọng cái nào hơn, và ta sẵn sàng hy sinh cái nào cho cái nào. Trước sự lựa chọn này, ta thường bị cám dỗ đặt nặng cái riêng hơn cái chung, bản thân ta hơn cả gia đ́nh, gia đ́nh ta hơn cả xă hội, Giáo Hội ta hơn cả thế giới, cái bên ngoài hơn cái bên trong, số lượng hơn chất lượng, ư riêng ta hơn ư Thiên Chúa…

Rất nhiều khi sự lựa chọn sai lầm của ta trở thành một tội ác. Chẳng hạn có nhiều người đă trở thành phản quốc chỉ v́ thương gia đ́nh ḿnh hơn thương cả quốc gia, nên đă hy sinh quyền lợi của cả quốc gia cho quyền lợi của gia đ́nh ḿnh. Có những chức sắc tôn giáo đặt nặng sự phát triển của các giáo hữu trong địa hạt ḿnh hơn cả sự tồn tại và phát triển của cả đất nước. Có những vị lănh đạo quốc gia coi sự phát triển của đất nước ḿnh trọng hơn sự an nguy của cả thế giới…

3. Ma quỷ cám dỗ ta chấp nhận điều xấu để thực hiện điều tốt

Cám dỗ thứ hai của Đức Giêsu là cám dỗ về quyền lực và vinh hoa phú quư. Quyền lực tự bản thân nó là một điều tốt, thậm chí rất cần thiết để phục vụ tha nhân một cách hữu hiệu và qui mô. Tuy nhiên, quyền lực vẫn là con dao hai lưỡi, nó cũng có thể khiến ta hại tha nhân một cách hữu hiệu và trầm trọng hơn. Vinh hoa phú quư tự bản thân cũng là những điều tốt, đáng ao ước, v́ nó làm cho đời sống con người hạnh phúc hơn, sống xứng với phẩm giá con người hơn. Thánh Kinh vẫn coi sự giàu sang phú quư là những ơn lành Chúa ban để ân thưởng những người tốt lành (x. Đnl 8,18; 1V 3,13; 2Sb 1,12). Nhưng vinh hoa phú quí có thể làm ta mờ mắt, khiến ta chấp nhận tội ác để đạt nó cho bằng được.

Nếu người ta đạt được quyền lực hay vinh hoa phú quư một cách chính đáng do tài năng và đức độ của ḿnh, th́ quyền lực hay vinh hoa phú quư ấy quả là điều tốt lành rất đáng mong ước. Nhưng chính v́ nhiều người mong ước nó, nên ma quỷ đă dùng nó làm bẫy để giết linh hồn những ai quá ham nó.

Khi ma quỷ cám dỗ Đức Giêsu lần thứ hai, nó hứa sẽ ban cho Ngài quyền lực và vinh hoa phú quư, với điều kiện là phải bái lạy, tùng phục nó. Ma quỷ vẫn dùng chiến thuật này đối với những kẻ giầu tham vọng, muốn nắm giữ quyền lực và ham sống giàu sang phú quư, ở ngoài đời cũng như trong Giáo Hội. Nhiều người sẵn sàng bán lương tâm của ḿnh để có địa vị cao sang ngoài xă hội hay trong Giáo Hội. Trong những chế độ độc tài, nhiều chức sắc tôn giáo đă đồng ư thực hiện một yêu cầu nào đó của nhà cầm quyền, bất chấp điều đó đi ngược lại lương tâm ḿnh, để được họ ban cho những điều kiện thăng tiến bản thân, hầu dễ dàng ngoi lên những địa vị cao trong tôn giáo ḿnh. Có khi điều kiện ấy chỉ là chấp nhận im lặng, làm ngơ, bỏ qua, không lên tiếng, không phản ứng ǵ để kẻ có quyền có thể tự do thao túng, làm hại công ích hay đi ngược lại quyền lợi người dân. Như vậy, rất nhiều khi ma quỷ dùng những khát vọng chính đáng của con người để cám dỗ con người.

4. Ma quỷ cám dỗ ta tập trung vào «cái tôi» của ḿnh

Lần cám dỗ thứ nhất và thứ ba, ma quỷ nói với Đức Giêsu: «Nếu ông là Con Thiên Chúa… th́…». Ma quỉ muốn lợi dụng nhu cầu thể hiện hay xác định bản thân ḿnh (affirmation de soi), nhu cầu biểu lộ «cái tôi» của ḿnh để cám dỗ con người. Đây là nhu cầu rất tự nhiên, tốt đẹp và cần thiết để con người vui sống và có hứng thú thăng tiến bản thân, đồng thời làm cho cuộc đời ḿnh có ư nghĩa. Nhưng khi vượt quá giới hạn hợp lư, con người trở thành khoe khoang, kiêu căng, tự măn, đáng ghét, do muốn đưa «cái tôi» của ḿnh lên và hạ thấp «cái tôi» của người khác xuống. Con người đă từng gây bao tội ác, bao phức tạp, bao đau khổ cho ḿnh và cho người chính v́ sa chước cám dỗ về nhu cầu xác định «cái tôi» này. Như vậy, ma quỷ dùng chính nhu cầu tâm lư quan trọng nhất của con người để cám dỗ con người chỉ tập trung vào chính ḿnh hầu xa rời Thiên Chúa và tha nhân.

Để câu một con cá, để nhử một con thú vào bẫy, ta phải chọn mồi đúng với nhu cầu và sở thích của con vật mà ta muốn bẫy. Cũng vậy, để làm ta sa bẫy, ma quỉ cũng dùng chính những ǵ ta cần, ta ham muốn, thường là những ǵ rất tốt đẹp, rất có giá trị. V́ thế, chúng ta cần phải cảnh giác với chính những nhu cầu, sở thích của ḿnh, nhất là những tham vọng hay những ǵ mà ta mong muốn hay ưa thích nhất. Khi ta đặt nặng những nhu cầu, sở thích hay tham vọng của ta hơn thánh ư của Thiên Chúa, hơn những chuẩn mực đạo đức, là ma quỉ sẽ dùng chính những thứ đó để dẫn ta xa rời Thiên Chúa, và dần dà đưa ta vào con đường tội lỗi. Vậy, hăy tỉnh thức và đề pḥng!

CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, khi ma quỷ cám dỗ, nó cũng dùng chính lời Kinh Thánh để làm con lầm tưởng điều nó muốn con làm là điều tốt, là hợp với thánh ư của Cha. Nó luôn luôn dùng điều tốt để nhử con, và dùng những cách nguỵ biện để giải thích lời của Cha, hầu đưa con vào bẫy của nó. Xin giúp con khôn ngoan, tỉnh thức và thêm sức mạnh cho con khi bị cám dỗ. Nhưng cũng cho con nh́n thấy khía cạnh tích cực của cám dỗ. Chính Cha cho phép ma quỉ cám dỗ con trong mức độ con có thể chiến thắng, để con có dịp chứng tỏ và củng cố t́nh yêu của con đối với Cha và đối với tha nhân

 
 

14. Satan

Qua báo chí cũng như qua những câu chuyện thường ngày, chúng ta thấy xă hội loài người đầy dẫy những tội ác và bất công, nào là tham nhũng hối lộ, nào là cướp của giết người, nào là cao bồi du đăng, nào là rượu chè cờ bạc, nào là x́ ke ma tuư, nào là ly dị phá thai…

Nếu hỏi tại sao lại có t́nh trạng bi đát ấy, người ta sẽ không ngần ngại đưa ra những lư do về xă hội, về kinh tế, về giáo dục…Tuy nhiên, có người lại bảo đó là kết quả những việc làm của ma quỷ.

Nghe qua câu trả lời này chúng ta mỉm cười, v́ ma quỉ hiện giờ là một cái ǵ xa lạ đối với năo trạng và sự suy tư của con người thời nay. Vậy th́ ma quỉ là như thế nào?

Nói tới ma quỉ hay Satan chúng ta liên tưởng tới những h́nh vẽ, những bức tượng thời Trung cổ, vừa có sừng lại vừa có đuôi, vừa đen đủi lại vừa xấu xa, luôn ám hại chúng ta. Nó có thể dùng một chiếc đũa thần làm cho chúng ta trở nên xinh đẹp, hay biến chúng ta trở thành một nhà triệu phú, miễn là chúng ta bán linh hồn cho nó, miễn là chúng ta thờ lạy nó.

Đối với chúng ta ngày nay, những h́nh ảnh đó không c̣n thích hợp nữa. Ma quỉ dần dần mất đi vai tṛ và sự quan trọng trong cuộc sống. Phải chăng đó cũng là điều nó mong muốn? Chính trong sự lăng quên này mà nó ra tay hành động, làm đảo lộn trật tự và bậc thang giá trị.

Người xưa người ta thường khuyên nhủ:

- Ai không để tâm tới Thiên Chúa, th́ ít nữa đừng làm lợi cho ma quỉ.

Thế nhưng, con người thời nay đă thay đổi câu nói trên:

- Ai không để tâm tới ma quỉ th́ ít nữa đừng làm lợi cho Thiên Chúa.

Trong Phúc âm th́ khác, Chúa Giêsu đă đặt nặng vấn đề ma quỉ, Ngài gọi nó là chủ của trần gian. Hơn thế nữa, qua đoạn Tin Mừng hôm nay, mặc dù không thể sa ngă, nhưng Ngài đă để cho ma quỉ cám dỗ, nhờ đó Ngài chia sẻ thân phận yếu đưới với con người, và vạch trần chiến thuật tinh vi của ma quỷ.

Cám dỗ thứ nhất, đó là nhu cầu vật chất. Ma quỉ lợi dụng cái đói tự nhiên để cám dỗ Chúa, bởi v́ bụng đói th́ đầu gối phải ḅ, có thực mới vực được đạo…Nó cũng hứa “cơm áo gạo tiền” cùng với những tiện nghi vật chất cho chúng ta, để rồi chúng ta quên mất lư tưởng theo đuổi và chối bỏ đức tin của ḿnh.

Cám dỗ thứ hai, đó là ḷng thèm muốn vinh quang. Nhiều người dễ dàng rơi vào chiếc bẫy của nó. V́ một chút địa vị, v́ một chút quyền bính mà người ta sẽ dễ dàng bán Chúa như Giuđa và chối Chúa như Phêrô,

Cám dỗ thứ, đó ba là tham vọng thống trị. Đối với nhiều người thời nay th́ tiền bạc và chức quyền vẫn là những cám dỗ thường xuyên, họ có thể đánh đổi tất cả miễn sao được thoả măn những ước vọng kể trên.

C̣n một điều nữa chúng ta cũng cần phải lưu ư: Ma quỉ thời nay không c̣n mặc lấy một bộ dạng xấu xa như người ta vốn thường tưởng tượng vào thời Trung cổ. Nhưng có thể là một nhân vật tầm vóc, với một bộ áo quần sang trọng nhưng lại chủ trương một lập trường, một quan điểm thật nguy hại, gây chia rẽ và đổ vỡ.

Có thể là những tác phẩm đồ sộ được in ấn một cách mỹ thuật và đẹp mắt nhưng lại chất chứa những điều khả dĩ làm lung lạc đức tin và hoen ố tâm hồn.

Bổn phận của chúng ta là phải vạch trần bộ mặt của ma quỷ. Bởi v́ ma quỉ đang ở giữa chúng ta, ẩn núp dưới những chiêu bài chính trị, dưới những tờ bích chương, dưới những h́nh ảnh quảng cáo, dưới những chương tŕnh truyền thanh truyền h́nh gây độc hại cho tâm hồn.

V́ thế, hăy tin tưởng vào Chúa và hăy tỉnh thức để xa tránh những mưu chước của ma quỷ, nhờ đó mà chúng ta mới có thể bảo vệ vẻ trong trắng của tâm hồn.

  


 

15. Nhận biết

Lần kia, một vị thầy ước muốn được thoáng nh́n thấy tâm hồn của con người và trắc nghiệm những nhận định của họ về chính bản thân ḿnh. Ông mời ba người đi qua đường vào nhà ông. Quay sang người đầu tiên, ông nói “Giả thử anh nh́n thấy một cái túi đựng đầy những đồng tiền vàng, th́ anh sẽ làm ǵ với cái túi đó?”

Người đàn ông trả lời: “Tôi sẽ trả cái túi đó ngay cho người chủ của nó, tất nhiên là tôi phải biết được ai là chủ nhân”.

Vị thầy kêu lên: “Thật là điên rồ?”. Thế rồi ông đặt cùng một câu hỏi cho người thứ hai.

Người đó đáp “Tôi sẽ không trả lại cái túi đó cho người chủ của nó, mà bỏ ngay vào túi của tôi. Tôi không quá ngu xuẩn đến nỗi để mặc cho thứ của cải từ trời rơi xuống đó trượt khỏi tay tôi như vậy đâu “.

Vị thầy kêu lên: “Đồ vô loại!”. Thế rồi ông đặt cùng một câu hỏi cho người thứ ba.

Người đó đáp “Thưa thầy, làm sao tôi có thể biết được là tôi sẽ làm ǵ trong trường hợp này? Liệu tôi có khuất phục được khuynh hướng xấu xa chăng? Hoặc sự dữ sẽ nhanh chóng chế ngự tôi, và khiến tôi cứ lấy đi thứ tài sản thuộc về người khác? Tôi không biết nữa. Nhưng nếu có ơn Chúa ban sức mạnh cho tôi chống lại khuynh hướng xấu, th́ tôi sẽ trả số tiền đó lại cho người chủ của nó”. Vị thầy kêu lên: “Những lời nói của anh thật là hay. Quả thật anh là một con người khôn ngoan”.

Vị thầy cho rằng người đàn ông đầu tiên là điên rồ. Tại sao? Bởi v́ anh ta hoàn toàn thiếu sự nhận biết bản thân ḿnh. Anh ta dám cho rằng ḿnh có đủ sức mạnh, để kháng cự lại chước cám dỗ giữ lại món tiền. Không ai biết chắc chắn rằng ḿnh không thể sa ngă được. Người ta không sa ngă bởi v́ yếu đuối, nhưng lại sa ngă là do họ nghĩ rằng ḿnh mạnh mẽû.

Vị thầy gọi người đàn ông thứ hai là hạng vô loại, bởi v́ anh ta có ư định giữ lại tài sản không phải thuộc về ḿnh, mà lương tâm không hề day dứt chút nào. Đối với một con người như vậy, chước cám dỗ là một cơ hội để làm cho ḿnh giàu có lên, bằng tài sản của người khác.

Vị thầy khen ngợi người đàn ông thứ ba là một con người vừa tốt bụng, vừa khôn ngoan. Đó là v́ anh nhận biết rằng ḿnh yếu đuối giống như tất cả mọi người khác. Anh hy vọng rằng khi đương đầu với chước cám dỗ giữ lại số tiền, th́ anh sẽ có sức mạnh để làm được điều đúng đắn. Nhưng anh biết rằng để làm được như vậy, anh cần phải có ơn Chúa giúp, và anh chuẩn bị để t́m kiếm sự giúp đỡ đó.

Tất cả chúng ta đều yếu đuối và dễ sa ngă. Đây có thể là một sự thật gây bối rối, nhưng trong khi liều lĩnh, chúng ta lại không biết đến điều này. Vấn đề lớn trong thời đại của chúng ta là chúng ta đă thất bại trong việc nhận biết chính ḿnh, trong việc nhận ra sự dữ và đối phó với sự dữ ở ngay trong con người ḿnh. Tuy nhiên, khi nhận biết và chấp nhận sự thật thấp hèn này, th́ chúng ta có được một niềm an ủi và sự tự do.

Chúng ta phải đấu tranh chống lại sự dữ nơi những người khác và nơi xă hội. Nhưng cuộc đấu tranh gay go nhất là chống lại sự dữ phát xuất từ ngay bên trong con người của chúng ta. Bản chất của chúng ta là có những xung đột nội tâm cứ thúc giục chúng ta, làm cho chúng ta luôn luôn có thể thực hiện được điều tốt lành, nhưng điều đó không bao giờ là dễ dàng cả. Chiến thắng gay go nhất chính là chiến thắng chính bản thân ḿnh.

Chước cám dỗ của Đức Giêsu không phải là đóng kịch, mà là sự thật. Những cám dỗ của Đức Giêsu là những chước cám dỗ của các Kitô hữu thuộc tất cả mọi thời đại: sống chỉ v́ vật chất; t́m kiếm vinh quang cho bản thân ḿnh, hơn là vinh quang cho Thiên Chúa; và từ bỏ việc thờ phượng Thiên Chúa, để tôn thờ quyền lực và sự nổi tiếng theo thế gian.

Chiến thắng của Đức Giêsu vượt lên trên Satan không phải là chiến thắng một lần cho tất cả. Người đă chiến thắng một cuộc chiến đấu, chứ không phải là một cuộc chiến tranh. C̣n có những lần tấn công khác mà chúng ta cần phải cự tuyệt. Một số người cho rằng ḿnh sẽ đạt được một cấp độ, khi họ vượt ra ngoài chước cám dỗ. Đức Giêsu không bao giờ đạt được một cấp độ, các thánh cũng vậy. Thiên Chúa ở với chúng ta trong những cuộc đấu tranh của chúng ta, giúp đỡ chúng ta chế ngự nó.

Thánh Augustinô nói: “Chính thông qua chước cám dỗ, mà chúng ta nhận biết được bản thân ḿnh. Chúng ta không thể chiến thắng đạt được triều thiên của ḿnh, trừ phi chúng ta vượt qua được chước cám dỗ đó, và chúng ta không thể vượt qua được, trừ phi chúng ta đi vào cuộc chiến đấu, và không có cuộc chiến đấu, trừ phi chúng ta có một kẻ thù và những chước cám dỗ mà kẻ thù đó mang lại.

 


 

16. Cám dỗ

Một số người cho rằng thật khó mà tin rằng Đức Giêsu có thể bị cám dỗ. Mặc dù có bản chất thần thánh, nhưng Người cũng có một bản chất của con người. Ngoài ra, tự thân chước cám dỗ không phải là một tội lỗi. Có phải ma quỷ đă thực sự hiện ra với Người không? Chúng ta không biết. Điều chính yếu là những chước cám dỗ của Người đều có thật, giống như chúng ta vậy, mặc dù quỉ sứ không hiện ra với chúng ta trong h́nh dạng của một con người. Nhưng những chước cám dỗ của Người chứa đựng cái ǵ?

Chước cám dỗ đầu tiên là biến ḥn đá thành bánh. Ngoài ư nghĩa rơ rệt, chữ “bánh” có thể mang ư nghĩa là những thứ vật chất nói chung. Ma quỉ đang nói với Đức Giêsu là hăy sử dụng những quyền năng đặc biệt của Người, để mang lại cho con người tất cả những thứ vật chất mà có thể họ mong muốn. Nhưng Đức Giêsu biết rằng tự thân những thứ vật chất đó sẽ không bao giờ thoả măn được con người. Công việc chính của Người là nuôi dưỡng tâm trí và tấm ḷng con người bằng lời của Thiên Chúa. Đây là chước cám dỗ mang lại cho con người những điều họ mong muốn, hơn là những nhu cầu của họ. Chước cám dỗ chính là thoả măn đám đông, bằng cách cho họ những ǵ sẽ thoả măn các mong muốn nhất thời của họ, khi họ không biết điều ǵ ḿnh thực sự cần đến.

Chúng ta có những nhu cầu và những khát vọng lớn lao hơn. Tâm hồn con người thực sự khát khao cái ǵ? Chắc hẳn rằng đó không phải là cơm bánh. Cơm bánh là cái mà cơ thể thèm khát. Sau phép lạ ban bánh và cá, ngày hôm sau, dân chúng trở về với mong muốn sao cho có thêm bánh nữa. Nhưng Đức Giêsu đă từ chối ban thêm bánh cho họ. Người nói “Các ngươi đừng làm việc v́ của ăn không thể tồn tại được, nhưng hăy làm việc để t́m kiếm lương thực kéo dài cho đến cuộc sống đời đời”.

Đối với một vị thầy về mặt thiêng liêng, th́ tinh thần chiếm vị trí ưu tiên vượt lên trên lương thực của cơ thể. Khi đặt ưu tiên cho những nhu cầu thân xác, điều đó có nghĩa là giảm giá trị con người, là đối xử với họ không hơn ǵ một con vật. Chúng ta cũng bị cám dỗ chỉ sống cho những thứ vật chất mà thôi. Không phải là chúng ta khước từ đời sống thiêng liêng, nhưng chúng ta bỏ qua đời sống đó.

Chước cám dỗ thứ hai là tạo dựng một vương quốc chính trị, là việc dẫn đến quyền lực hơn là t́nh yêu. Quyền lực tạo ra một sự thay thế dễ dàng cho công việc khó khăn mà có thể t́nh yêu đ̣i buộc. Người ta dễ dàng muốn làm chủ người khác, hơn là yêu thương họ, dễ dàng thống trị người khác, hơn là trở thành người phục vụ họ. Đức Giêsu không đến để cai trị, nhưng để phục vụ. Người không hề nại vào quyền lực thần thánh của Người, nhưng đă tự huỷ ḿnh ra không, và trở thành người tôi tớ đầy yêu thương đối với tất cả mọi người. Chúng ta luôn luôn bị cám dỗ thay thế t́nh yêu bằng quyền lực.

Chước cám dỗ thứ ba cốt ở việc làm được một điều ǵ đó kỳ lạ (tự gieo ḿnh xuống khỏi đền thờ), nhằm khơi gợi ḷng tin – giống như một ảo thuật gia có thể khơi gợi được ḷng tin, qua nghệ thuật làm một số chuyện mang tính cách quảng cáo phô trương. Ư tưởng này nghe thật hấp dẫn. Một kiểu quảng cáo như vậy sẽ làm cho mọi người đồn thổi về Người tại Giêrusalem. Nhưng lối gây giật gân lại đưa đến vinh quang cho bản thân ḿnh, hơn là vinh quang cho Thiên Chúa. Đức Giêsu khước từ việc gieo ḿnh này. Người không muốn t́m kiếm những kẻ ái mộ ḿnh. Người mong muốn có những kẻ đi theo Người, nghĩa là những kẻ muốn bắt chước lối sống của Người.

Trong suốt sứ vụ của Người, Đức Giêsu đă khước từ việc ban cho dân chúng những kiểu dấu lạ, ngay cả khi người ta ép buộc Người phải làm như vậy. Những loại dấu lạ này không có ích lợi ǵ cả, không đ̣i hỏi điều ǵ tốt đẹp nhất nơi chúng ta, mà chỉ hạ thấp giá trị của ḷng tin. Ḷng tin không phải là ma thuật. Sự thánh thiện không hệ tại ở việc cố gắng ép buộc Thiên Chúa phải làm theo ư muốn của chúng ta, nhưng là nỗ lực bắt buộc chính bản thân ḿnh phải làm theo thánh ư Thiên Chúa.

Các chước cám dỗ là đ̣n tấn công trên tất cả những yếu tố cơ bản đối với sứ vụ của Đức Giêsu. Vâng, Người đến để thiết lập một vương quốc, nhưng không phải là loại vương quốc mà Satan đề nghị. Và Người đă khước từ chước cám dỗ đạt được vương quốc bằng phương tiện trần thế. Cả ba chước cám dỗ cuối cùng đều qui về cùng một điều: đặt những thứ vật chất và vinh quang bản thân lên trước hết, kế đó, mới đến các điều thiêng liêng và Thiên Chúa. Nói chung, đây là những chước cám dỗ chủ yếu trong Giáo Hội của Người, và nơi mỗi người chúng ta là các thành viên trong Giáo Hội. Chúng ta phải luôn hướng mắt về Đấng đă khước từ biến những ḥn đá thành bánh, tự gieo ḿnh xuống khỏi nóc Đền thờ, và cai trị bằng quyền lực.

Kinh nghiệm này đă giúp cho Đức Giêsu tự thấu hiểu sứ vụ của Người là ǵ, và làm thế nào để hoàn tất sứ vụ đó. Và một khi đă biết được sứ vụ của ḿnh là ǵ, th́ Người quyết định hoàn toàn tận hiến cho sứ vụ đó.

Chước cám dỗ không phải là những thứ chỉ xảy ra một lần mà thôi, không bao giờ chúng kết thúc, mà có thể trở lại mỗi khi có cơ hội. Trong suốt cuộc đời của Đức Giêsu, chước cám dỗ vẫn tiếp tục xảy ra, bởi v́ ma quỉ vẫn cứ t́m mọi cách để xói ṃn sứ vụ của Người, mặc dù là vô hiệu. Ngay cả khi Người đă bị treo trên thánh giá, chúng ta vẫn nghe thấy tiếng vang vọng của chước cám dỗ thứ hai “Nếu ông ta là Đấng Mêsia, th́ ông ta hăy xuống khỏi thánh giá, rồi chúng ta sẽ tin ông ấy”.

Tất cả những ai đang đấu tranh để sống một cuộc sống tốt đẹp, đều có thể ghi ḷng tạc dạ điều này: Việc chống trả lại chước cám dỗ không hề dễ dàng đối với Đức Giêsu, cũng không dễ dàng đối với chúng ta. Nhưng nơi Đức Giêsu, chúng ta có được một người anh, Đấng biết được rằng chúng ta đang phải chiến đấu với cái ǵ. Người tha thứ cho chúng ta, và nâng chúng ta lên, khi chúng ta vấp ngă. Người ban cho chúng ta khả năng tuân theo Lời của Thiên Chúa, tin tưởng nơi Người và chỉ thờ phượng một ḿnh Người mà thôi.

  


 

17. Cơm bánh

Con người không chỉ sống bằng cơm bánh. Cơm bánh chỉ là một trong những thức ăn chủ yếu của cuộc sống – cuộc sống của thân thể. Để nuôi dưỡng một con người, không giống như vỗ béo một con vật. Cơ thể của chúng ta cần có lương thực. Linh hồn của chúng ta cũng vậy. Linh hồn chúng ta đang khát khao lương thược nuôi dưỡng. Câu chuyện về Elvis Presley minh hoạ hùng hồn cho chân lư này.

Elvis trở nên rất giàu có. Ông ta sở hữu 8 xe hơi, 6 xe máy, 2 máy bay, 16 tivi, một toà lâu đài rộng lớn và nhiều tài khoản ngân hàng. Vượt lên trên tất cả những thứ đó, anh ta c̣n là thần tượng của nhiều người hâm mộ. Tuy nhiên, anh không hề hạnh phúc. Giữa tất cả sự giàu có và thành công của ḿnh, anh ta đă phải trải qua t́nh trạng bất ổn về tinh thần, và thường than phiền về nỗi cô đơn, buồn chán.

Anh giăi bày tâm sự với một phóng viên “Tiền bạc gây ra nhiều chuyện nhức đầu”.

Mẹ của anh rất lo lắng cho anh. Không bao giờ bà muốn anh bị những chuyện đó. Bà chỉ đơn giản mong muốn anh trở về nhà, mua một cửa hàng bán vật dụng trong nhà, cưới vợ và có con.

Càng ngày, anh càng trở nên sợ hăi và trầm cảm. Năm lên 22 tuổi, anh nhận thấy là không c̣n thế giới nào để chinh phục nữa. T́nh trạng bất ổn này có thể là một cơ hội. Đây là một lời nhắc nhở rơ ràng rằng “con người không chỉ sống nguyên bằng bánh”, nghĩa là chỉ sống bằng những thứ vật chất mà thôi.

Thông điệp này vang lên lớn tiếng và rơ rệt trong bài Tin Mừng hôm nay. Đây là một thông điệp quan trọng, và có lẽ thích hợp với ngày nay hơn bao giờ hết. Mặc dù chúng ta có thể nhận thấy được lẽ phải của bức thông điệp này, nhưng trên thực tế, thật không dễ dàng thực hiện. Chúng ta không chỉ sống bằng cơm bánh – ít nhất là không, nếu chúng ta mong muốn được sống dồi dào, và hoàn toàn được nuôi dưỡng với tư cách là con người và con cái của Thiên Chúa. Vậy chúng ta c̣n cần đến điều ǵ khác nữa. Chúng ta cần đến Lời Chúa.

Bạn hăy thử tưởng tượng cảnh cha mẹ nuôi dưỡng con cái của họ, mà không bao giờ nói một lời nào với con trẻ, không hề hướng dẫn, khích lệ, xác nhận, an ủi. Không bao giờ họ nói một lời để truyền đạt sự b́nh an và đón nhận, hoặc t́nh yêu thương và niềm vui. Cơ thể của con trẻ có thể được nuôi dưỡng, nhưng tâm trí và linh hồn của chúng bị trống rỗng. Chúng ta là con cái của Thiên Chúa. Chúng ta cần được nghe Lời của Người.

Nếu chỉ có cơm bánh, không phải lúc nào cũng sẽ đảm bảo được sự sống c̣n, ngay cả về mặt thể lư. Thi sĩ Irina Ratushikaya đă sống một thời gian trong nhà tù cộng sản ở Nga (với tư cách là tù nhân chính trị). Bà nói “Nhiều người phụ nữ có nhiều thức ăn hơn tôi, tuy nhiên, họ vẫn bị chết”. Điều ǵ đă giữ cho bà c̣n sống được? Chắc hẳn là nhờ đức tin Kitô giáo của bà.

Không phải chỉ có cơ thể con người mới đói khát. Tâm hồn và tinh thần con người cũng biết đói khát nữa. Chúng ta sẽ không được nuôi dưỡng đầy đủ, cho đến khi chúng ta thừa nhận sự đói khát của tâm hồn và tinh thần.

Đức Giêsu thách đố chúng ta hướng tới những nỗi khát khao sâu xa hơn và những nhu cầu lớn lao hơn của chúng ta. Tâm hồn thực sự khát khao điều ǵ? Thưa rằng tâm hồn khát khao loại lương thực không thể hư nát – Lời Chúa. Lời Chúa có sức mạnh nuôi dưỡng chúng ta. Lời Chúa nuôi dưỡng chúng ta bằng tấm bánh của cuộc sống có ư nghĩa, tấm bánh của niềm hy vọng, và vượt lên trên tất cả, đó là tấm bánh của t́nh yêu.

  


 

18. Cám dỗ

Thánh Grêgôriô Giáo Hoàng đă viết như sau: Hết mọi ngày trong năm, ḷng đạo đức của người tín hữu được diễn tả bằng nhiều h́nh thức khác nhau, nhưng không h́nh thức nào quan trọng cho bằng lễ Phục sinh. Bởi v́ chính từ sự Phục sinh mà xuất phát tính cách thánh thiện của các lễ khác. Với tất cả nguồn ân sủng vũ trụ đă nhận được đều do bởi cây thập giá của Chúa. Lẽ cố nhiên đó, mừng ngày lễ Phục sinh và để tham dự vào các mầu nhiệm của Chúa, chúng ta chuẩn bị bằng 40 ngày ăn chay quả là một việc chính đáng. Không riêng ǵ các Giám mục, linh mục, các phó tế có nhiệm vụ thanh tẩy ḿnh khỏi tội lỗi mà cả toàn thể Giáo Hội. Tất cả mọi người v́ là đền thờ của Thiên Chúa phải được tráng lệ trong từng ḥn đá huy hoàng, trong từng góc một. Hiểu như thế chúng ta mới ư thức được tính cách nghiêm cẩn và khổ hạnh trong suốt thời gian mùa chay mà chúng ta khai mạc từ thứ tư lễ tro.

Mùa chay là thời kỳ đi bộ, phải vất vả nhọc nhằn mà mục đích là hy sinh chịu khó thanh tẩy để tham dự vào chặng đường khổ nạn của Chúa Kitô. Những hy sinh khổ hạnh trong mùa chay được diễn tả trong hai bài đọc và trong bài Phúc âm của thánh lễ Chúa nhật I Mùa chay. Cuộc đi bộ, cuộc hành tŕnh trong 40 ngày của mùa chay được ví như là cuộc hành tŕnh gian lao đau khổ của dân Do thái trong những năm bị nô lệ bên Ai Cập, bị dân bản xứ hành hạ mạt sát tàn nhẫn.

Trong thời gian nô lệ, dân Do thái đă kêu gào Thiên Chúa nh́n lại số phận đau thương của họ. Quả thật, Chúa đă đến giải thoát họ khỏi ách nô lệ Ai Cập và dẫn vào một xứ sở phồn thịnh, nơi đó sữa và mật ong trôi chảy dồi dào.

Quan điểm trên đây thánh Phaolô tŕnh bày lại theo lối văn linh động của ngài bằng quan niệm đức tin, và thực ra đức tin cũng là một lời cầu khẩn lên Thiên Chúa. Chỉ Ngài mới có quyền năng cứu thoát chúng ta khỏi ṿng nô lệ tội lỗi.

Quan niệm đức tin c̣n tiếp diễn trong bài Phúc âm của Chúa nhật I Mùa chay được thánh Luca diễn tả: Được tràn đầy Chúa Thánh Thần, Chúa Giêsu từ sông Giocđan trở về, sau đó Chúa Thánh Thần đưa Ngài đến hoang địa, tại đây Chúa bị cám dỗ trong ṿng 40 ngày, nghĩa là Chúa bị ma quỉ quấy phá sau khi đă chịu phép rửa của thánh Gioan, tức là sau khi Chúa Giêsu đă được Chúa Cha long trọng tuyên bố: “Đây là Con Ta yêu dấu”.

Satan biết rằng, Chúa Giêsu Con Thiên Chúa có quyền năng có thể thực thi những dấu chỉ lớn lao, do đó Satan đến cám dỗ Chúa hăy hành động theo uy quyền của một vị cứu thế theo nghĩa trần gian oai phong lẫm liệt. Hai lần Satan xúi giục Chúa theo danh nghĩa: “Nếu ông là Con Thiên Chúa…” Các loại cám dỗ ỷ vào uy thế Thiên Chúa này c̣n theo măi cho đến ngày Chúa chịu tử nạn. Chúa đă bị treo trên thập giá rồi mà ma quỉ c̣n dùng miệng dân chúng để thử thách Chúa một lần sau cùng: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, là người được Thiên Chúa lựa chọn th́ hăy tự cứu ḿnh đi”.

Ma quỉ cám dỗ Chúa đi ra ngoài chương tŕnh của Thiên Chúa Cha đă tiền định. Nó xúi giục Ngài là một vị cứu thế theo quan điểm của một người trần gian được người ta hoan hô, chứ không theo ư định của Thiên Chúa. Do đó mà Chúa Giêsu đă trả lời cho ma quỉ khi Ngài nhắc đến lời Kinh Thánh có chép rằng, hăy minh chứng cho thế giới và toàn thể nhân loại biết sở dĩ Chúa xuống trần gian là để thực thi thánh ư của Thiên Chúa Cha, và sau đó Ngài đă chiến thắng ma quỉ là Ngài đă tin vào lời của Thiên Chúa Cha.

Cơn cám dỗ của Chúa Giêsu cũng là tiêu biểu cho sự cám dỗ ngàn đời của mỗi người Kitô hữu chúng ta trên trần gian này. Ma quỉ xúi giục chúng ta chọn nếp sống tiện nghi, dễ dàng thực thi những ǵ theo ư muốn riêng tư của ḿnh, chứ không phải sống theo lề luật là thực thi thánh ư của Thiên Chúa.

Trong mùa chay này, chúng ta có nhiệm vụ thanh luyện chính ḿnh để xứng đáng được tham dự vào các mầu nhiệm của Chúa Phục sinh. Xin Chúa hướng dẫn chúng ta trong cuộc hành tŕnh biến đổi này.

  


 

19. Cám dỗ

Cách đây vài năm, ngay tại giữa thủ đô Paris của nước Pháp, xuất hiện một Đan viện ḍng Trapis, một ḍng tu có nếp sống khắc khổ nghiêm ngặt. Người ta không khỏi ngạc nhiên tự hỏi: Tại sao một ḍng tu vốn có truyền thống rất lâu đời lại chọn những địa điểm xa cách thành thị để lập những Đan viện, nhờ đó các Đan sĩ hưởng được bầu khí thanh tịnh thoát tục, nối tiếp tinh thần của các ẩn sĩ ngày xưa trong sa mạc hoặc trong rừng vắng, nay lại hiện diện giữa chốn đô thị rực rỡ ánh sáng văn minh, sôi động nhịp sống chính trị, kinh tế và văn hoá này? Phải chăng ḍng tu nay đă thay đổi đường hướng cho hợp thời, hợp hoàn cảnh?

Vị viện phụ của Đan viện nói trên đă trả lời như sau:

Ḍng vẫn trung thành với truyền thống đan tu và thoát tục của ḿnh trong việc lập một Đan viện ngay giữa chốn phồn hoa đô hội này, bởi v́ tại những địa điểm ồn ào, náo nhiệt như vậy chúng tôi khám phá ra một bộ mặt mới của hoang mạc, của rừng rú, của thử thách để nêu một chứng từ, để cất lên một tiếng kêu thức tỉnh.

Nếu như ngày nay Đức Giêsu cần một hoang địa để chay tịnh, cầu nguyện và chịu thử thách, Người có lẽ không phải nhọc công đi đâu xa, nhưng có thể đến bất kỳ một trung tâm thành phố nào trong xă hội cực kỳ văn minh tiến bộ của thời đại chúng ta. Bởi lẽ theo truyền thống Thánh Kinh, hoang địa là địa điểm của thử thách, của sàng lọc, thanh luyện như dân Israel xưa phải vượt qua hoang địa trước khi được vào đất hứa.

Phải chăng xă hội hiện đại của chúng ta hôm nay lại không đầy dẫy t́nh chất thách đố cam go, sàng lọc và thanh luyện dữ dội như bất kỳ một hoang địa nào thời xưa. Đây là nơi chạm trán của tứ chiếng anh hùng, của đủ mọi bộ mặt, mọi tâm dạ, mọi thủ thuật, mọi mánh lới, mọi chiêu bài, mọi chủ nghĩa, mọi ư thức hệ, mọi thiên thần và mọi gă quỉ ma vương. Đây là nơi vàng thau lẫn lộn, chân t́nh và dối trá, trung nghĩa và dua nịnh, can trường và hèn nhát, ánh sáng và bóng tối, thánh thiện và tội lỗi, yêu thương và thù hận.

Cũng theo truyền thống Thánh Kinh, hoang địa là thế giới của thú dữ, của rắn rết, bọ cạp, là vùng đất chết nơi con người không thể sinh sống, tồn tại. Phải chăng thế giới văn minh hiện nay của chúng ta lại không đầy dẫy những loài thú ăn thịt người, những loài giống rắn hổ mang, những ḍng bọ cạp hiểm độc nguỵ trang dưới bộ mặt con người xinh đẹp, sang trọng, học thức, đạo đức, nhân nghĩa? Phải chăng xă hội thừa mứa tiện nghi vật chất của chúng ta hiện nay lại không là một vùng đất chết khi không c̣n t́nh người, không c̣n trái tim trắc ẩn, không c̣n ḷng nhân ái vị tha, không c̣n t́nh cảm chia sẻ đùm bọc mà chỉ toàn là lợi dụng, trao đổi, mua bán, vụ lợi, thực dụng, lạnh lùng và sơ cứng?

Phải chăng xă hội văn minh phồn hoa đô hội của chúng ta hiện nay lại không phải là một băi tha ma khi mà mọi giá trị tinh thần, mọi truyền thống đạo đức đều bị chôn vùi dưới nấm mồ của chủ nghĩa sùng bái vật chất, chủ nghĩa thụ hưởng, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa vô thần?

Phải chăng xă hội vốn tự hào là đỉnh cao trí tuệ, với khoa học kỹ thuật hùng hậu lại không đang biến thành cơi rừng rú nơi bạo lực được cổ xuư, hận thù được cấp dưỡng, hành vi sát nhân được trả lương, tuyên dương, dù nạn nhân là những trẻ em vô tội, những bào thai chưa kịp nh́n thấy mặt cha mẹ, nơi người nghèo bị khinh miệt, người già yếu tật nguyền bị bạc đăi lăng quên, người thiểu số bị tước bỏ quyền lợi về kinh tế, chính trị?

Nếu như ngày nay Đức Giêsu bước vào hoang địa mới của xă hội loài người hiện đại để bắt đầu cuộc tịnh chay và cầu nguyện, Người có lẽ sẽ không c̣n gặp những thử thách quá đơn giản và kinh điển về thói mê ăn, tính háo danh và ḷng tham lam của cải, thay vào đó Người có lẽ phải đối đầu với trăm ngàn t́nh huống, trường phái phức tạp tinh vi hơn nhiều. Đó là vấn đề miếng cơm manh áo hằng ngày giữa một thị trường kinh tế toàn cầu hoá, không có đất sống cho tôm tép, cho con sâu chú kiến, mà chỉ có hạng ḱnh ngư cá mập, hùm beo làm mưa làm gió. Đó là nỗi cám dỗ khó chống cưỡng, muốn làm giàu cách nào dễ dăi nhất, ít vất vả nhất, nhanh chóng nhất, dù có thể là vô luân nhất, dơ bẩn nhất như buôn lậu vũ khí, ma tuư, buôn người và rửa tiền.

Có thể trong bối cảnh hoang địa đời mới này, Đức Giêsu sẽ phải dấn thân vào một cuộc chiến đấu cam go và phức tạp gấp trăm ngàn lần hơn và cũng sẽ kéo dài trăm ngàn lần hơn. Có thể Đức Giêsu sẽ phải chật vật trăm ngàn lần hơn khi đối đầu với một Satan trong một bối cảnh xă hội văn minh, kỹ thuật cao, tinh xảo cực kỳ hôm nay. Và có thể Người sẽ phải cô đơn một ḿnh chống lại Maphia trăm ngàn lần bi đát hơn, v́ không dễ t́m ra ai đó trong cơi hoang mạc rừng rú của xă hội hôm nay để đóng vai thiên thần đến động viên tiếp sức thêm cho Người.

Rồi có thể trong cuộc chiến với Satan thời đại khoa học điện tử hôm nay, Đức Giêsu sẽ không c̣n một giây phút rảnh rang để thở, để cầu nguyện, để thân thưa cùng Thiên Chúa Cha, để nhớ lấy một câu Kinh Thánh mà củng cố đức tin cho ḿnh, v́ ma quỉ không c̣n nghỉ giữa hiệp đấu để chờ đợi cuộc tấn công khác như xưa nữa, mà tranh thủ liên tục cả ngày lẫn đêm, luôn cả dịp hưu lễ.

Có thể trong cuộc chiến đấu này, cuối cùng rồi Đức Giêsu sẽ chiến thắng Satan như Người đă từng chiến thắng và sẽ măi măi chiến thắng, song c̣n những kẻ muốn thực sự theo bước Người vào cuộc chiến đó trong bối cảnh của thế giới, của xă hội hôm nay th́ chiến thắng vẫn c̣n là một ẩn số, một thách đố. V́ thế, chúng ta cần phải giữ vững niềm tin của ḿnh vào Chúa Kitô mà giờ đây chúng ta cùng nhau tuyên xưng đức tin qua kinh tin kính.

  


 

20. Cám dỗ

Đoạn Tin Mừng kể việc Chúa Giêsu bị cám dỗ và chiến thắng Satan. Giáo Hội cho chúng ta nghe đọc đoạn Tin Mừng này để mời gọi chúng ta nh́n ngắm h́nh ảnh Chúa Giêsu như kiểu mẫu và bảo đảm cho chúng ta trong cuộc chiến đấu với Satan và những cám dỗ của nó.

Chiến thuật hay phương thế ma quỉ sử dụng để lôi kéo, xúi giục, thúc đẩy người ta phạm tội là cám dỗ. Chúng không kiêng nể ai hay không buông tha ai, v́ thế không ai thoát khỏi cám dỗ của chúng. Bản chất của cơn cám dỗ là sự quyến rũ. Bất cứ cơn cám dỗ nào cũng đều mang một bộ mặt quyến rũ giả tạo, một sự hứa hẹn hăo huyền, và một vị ngọt ngào lừa phỉnh. Thế nhưng những tính cách giả tạo, hăo huyền và lừa phỉnh đă được che đậy tài t́nh bởi bàn tay bậc thầy là ma quỉ và cơn cám dỗ vẫn thành công như lần đầu nó đă thành công.

Thực vậy, ma quỷ đă thành công khi cám dỗ ông bà nguyên tổ bằng trái cấm. Trái cấm bao gồm nhiều vẻ quyến rũ: cung cấp cho thị giác một h́nh ảnh mê hoặc, tuyệt diệu, cung cấp cho thính giác những lời bảo đảm, thoả măn, cung cấp cho khứu giác mùi vị mời mọc, quyến rũ, cung cấp cho xúc giác sự êm dịu, thích thú, nhất là khi đă biết và có trái cấm trong tay, rồi khi đưa lên ăn, lại có thêm sự tham gia và đồng t́nh của vị giác. Đến lúc này th́ cái bẫy sập xuống, bộ mặt thật của cơn cám dỗ lộ ra nguyên h́nh và con người đă mở mắt nh́n ra sự thật.

Điều đáng buồn là qua cái nh́n ấy, con người nhận ra chính ḿnh lại là nạn nhân tự nguyện, ḿnh đă ngă v́ chính sự yếu đuối cũng như sự dại dột của ḿnh. Ông Richard Wumbrand đă diễn tả điều này rất đúng bằng h́nh ảnh như sau: chúng ta như những cô gái vừa đến độ xuân th́. Người yêu cô thật ḷng, muốn chia sẻ cuộc đời với cô và kẻ sở khanh lừa phỉnh, chỉ muốn qua đêm để hại đời cô, cùng dùng chung một ngôn ngữ, cùng chia chung một động từ, đó là “Anh yêu em”. Nếu chỉ để ư đến những cái hào nhoáng bên ngoài hay những lời nói ngon ngọt và không có sự tỉnh táo cần thiết để phân biệt th́ chắc chắn thảm hoạ sẽ xảy đến.

Đàng khác, bên cạnh sự lừa đảo tinh vi của cơn cám dỗ và sự khôn ngoan quỉ quyệt của kẻ đứng sau cơn cám dỗ ấy, phải kể đến sự áo tưởng và vụng dại của con người. Chơi dao có ngày đứt tay; đùa với lửa có ngày gây nên hoả hoạn. Con người biết đó là những bài học và đă có biết bao nhiêu thí dụ “xương máu” để chứng minh. Thế nhưng vẫn c̣n không ít người sa lầy ngay trên bánh xe của người đi trước. Biết rơ đó là trái cấm, biết rơ đó là ma tuư, biết rơ đó là cơn cám dỗ, thế mà vẫn liều lĩnh mon men đến gần, hay chần chừ v́ ảo tưởng: không sao đâu. V́ thế các nhà đạo đức cho rằng: tránh xa những dịp tội là tốt nhất, và nếu có phải giáp mặt th́ không nên trao đổi hay thoả hiệp ǵ cả.

Ma quỉ biết rất rơ những ǵ chúng ta cần, chúng ta thích, chúng ta ham mê, nếu không tỉnh táo, chắc chắn chúng ta sẽ bị sa bẫy cám dỗ của chúng v́ chính những nhu cầu và sở thích của ḿnh. Tương tự như khi chúng ta muốn bẫy một con vật, chúng ta phải t́m hiểu xem con vật cần ǵ, muốn ǵ, thích ǵ, t́m ǵ. Sau đó chúng ta đặt thứ mồi đó vào bẫy, và con vật nào dại dột sẽ sa bẫy. Nếu chúng ta không biết con vật cần ǵ, thích ǵ th́ chúng ta sẽ không thể bẫy được con vật ấy v́ đă để vào bẫy những thứ không thích hợp. Chẳng hạn như khi câu cá, nếu chúng ta không biết rằng cá thích ăn giun hay trùng mà cứ để vào lưỡi câu thịt ḅ hay thức ăn khác th́ rất ít khi câu được cá. V́ vậy, để đề pḥng cám dỗ, chúng ta nên đề pḥng chính những nhu cầu và ham muốn của chúng ta. Những người nào giảm thiểu nhu cầu của ḿnh tới mức tối đa và tập luyện không ham muốn ước vọng nhu cầu ǵ cả th́ ít khi bị cám dỗ, và nếu có bị cám dỗ th́ cũng thắng được dễ dàng.

Chúng ta thấy ma quỷ đă lợi dụng ngay nhu cầu căn bản nhất của con người là ăn uống để cám dỗ Chúa Giêsu. Ngài nhịn ăn đă 40 ngày, nên nhu cầu ăn uống lúc đó thật là khẩn thiết và chính đáng. Nhưng Chúa đă làm chủ được nhu cầu thể xác và không sa chước cám dỗ. Tiếp đến, ma quỉ nhằm vào những ǵ mà tất cả mọi người đều ham muốn, thậm chí đam mê, đó là sự giàu sang, quyền bính, địa vị, danh vọng. Hễ đă là người th́ ai cũng thích cái tôi của ḿnh được đề cao, được tôn vinh, được triển nở, được thăng tiến. Rất nhiều người đă nhượng bộ ma quỉ để có một đời sống dễ dăi, giàu có, sang trọng, uy quyền. Nhưng Chúa Giêsu đă không để những ham muốn đó làm chủ, nên đă không sa bẫy của chúng. Rồi ma quỉ lại nhằm vào khuynh hướng thích khoe khoang, nhất là sự khoe khoang đó lại không đúng sự thật. Nhiều khi chỉ cần một câu nói thách thức hay chạm tự ái là người ta làm theo thách thức đó. Một số bạn trẻ rơi vào x́ ke, ma tuư cũng chỉ v́ một lời thách thức hay khiêu khích ǵ đó. Đối với Chúa Giêsu, Ngài đă làm chủ tính khoe khoang. Ngài không bị mắc bẫy.

Có thể nói ai trong chúng ta cũng đều có kinh nghiệm về việc cám dỗ. Chúng ta đă bị cám dỗ nhiều lần. Có lần chúng ta đă vượt qua được, và nhiều lần chúng ta đă bị vấp ngă. Đó chính là thân phận của con người yếu hèn và bất toàn. V́ vậy điều quan trọng là chúng ta phải luôn đề cao cảnh giác trước những quyến rũ, hấp dẫn của cám dỗ. Không nên quá tự tin vào khả năng của ḿnh mà không cầu nguyện cùng Chúa. Mỗi khi bị cám dỗ chúng ta càng phải cầu nguyện nhiều để xin ơn Chúa trợ giúp. Và nếu chẳng may vấp ngă, chúng ta phải năn năn sám hối ngay.

  


 

21. Chiến đấu

Thánh lễ hôm nay các con thấy có ǵ đặc biệt nào? Phải rồi, cha mặc lễ phục màu tím, thầy cũng đeo dây tím, các bạn lễ sinh cũng mang khăn tím. Vậy là chúng ta đă vào một mùa phụng vụ mới, mùa ǵ nào? Đúng rồi, mùa chay. Hôm nay là Chúa nhật I mùa chay. Mùa chay là thời gian thuận tiện để chúng ta theo gương Đức Kitô tập luyện chiến đấu chống lại ma quỉ. Bài Tin Mừng hôm nay cho biết Chúa Giêsu ba lần bị ma quỉ cám dỗ và cả ba lần Ngài đă chiến thắng thật vẻ vang.

Lần thứ nhất, sau khi Chúa Giêsu ăn chay cầu nguyện, không ăn ǵ cả suốt 40 ngày, Ngài đói meo, lúc đó ma quỉ tới cám dỗ Ngài: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, th́ truyền cho ḥn đá này biến thành bánh đi”. Ma quỉ muốn Ngài dùng quyền phép để dễ dăi thoả măn cơn đói của riêng ḿnh, chẳng cần phải vất vả làm việc. Chúa Giêsu phản công làm sao? Người đă dùng một câu trong sách thánh: “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh”.

Lần thứ hai, quỉ cho Chúa Giêsu thấy tất cả các nước trên thế gian, mọi thú vui và giàu sang, rồi nó dám lếu láo nói với Chúa: “Nếu ông thờ lạy tôi, tôi sẽ cho ông toàn quyền cai trị các nước đó”. Sức mấy mà Chúa Giêsu chịu thờ lạy nó, Người quả quyết: “Ngươi phải thờ lạy Thiên Chúa và chỉ phụng thờ một ḿnh Người”. Đây cũng lại là một câu trích trong sách thánh.

Lần thứ ba, quỉ đưa Chúa Giêsu lên nóc đền thờ Giêrusalem, nó dụ dỗ Chúa Giêsu: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, th́ hăy gieo ḿnh xuống đi… v́ Thiên Chúa sẽ truyền cho thiên sứ ǵn giữ ông”. Ma quỉ cám dỗ Chúa Giêsu thử thách Thiên Chúa, đồng thời biểu diễn phép lạ để mọi người thấy phải lác mắt thán phục. Chúa Giêsu mắng nó: “Ngươi chớ thử thách Thiên Chúa là Chúa của ngươi”. Lại một lần nữa Người chiến thắng ma quỉ bằng một câu trích trong sách thánh. Cả ba lần ma quỉ đều thua, thế là chúng phải rút lui.

Các con thấy đó, Chúa Giêsu mà c̣n bị ma quỉ cám dỗ huống hồ ǵ là chúng ta. Mọi người chúng ta đều bị ma quỉ cám dỗ. Các con bị cám dỗ, thầy cũng bị cám dỗ và chính cha mẹ các con cũng bị cám dỗ nữa.

Vậy theo các con cám dỗ là ǵ? À giỏi lắm, các con có thể hiểu nôm Ngài như thế: cám dỗ là những lời rủ rê chúng ta làm điều xấu, xúi giục chúng ta phạm tội. Thế th́ ma quỉ cám dỗ chúng ta bằng cách nào? Phải chăng nó hiện ra thành một thằng quỉ đen thùi lùi, có đuôi dài, trên đầu có hai cái sừng để cám dỗ chúng ta? Không đâu! Trước hết nó có thể cám dỗ chúng ta qua những người khác. Đó có thể là những bạn xấu, khi họ rủ rê ta làm điều sai trái. Đó cũng có thể là những người xấu khi họ muốn lợi dụng chúng ta, làm hại chúng ta. Thầy nghe nói, có những bọn xấu, chúng đến tận các cổng trường, cho các em học sinh tiền bạc bánh kẹo, dụ dỗ các em học sinh hút thuốc hay dùng thuốc gây nghiện để rồi biến những em học sinh thành những kẻ nghiện ma tuư, phải mua hàng của chúng. Trong những trường hợp như thế này, các con phải làm sao? Phải chạy à? Đúng rồi, khi có người đề nghị các con điều ǵ các con không biết đúng hay sai, các con hăy chạy ngay lại thầy cô, cha mẹ để hỏi xem có được làm như thế hay không. Bọn xấu nghe nói các con đi hỏi cha mẹ thầy cô th́ nó lỉnh đi liền.

Ngoài ra ma quỉ cũng có thể trực tiếp cám dỗ chúng con, nó bỏ nhỏ vào tai chúng con, nó xúi giục trong tâm trí chúng con, nên chúng con rất khó nhận ra chúng. Chẳng hạn bạn Rong, trên đường đi lễ, ngang qua chỗ tṛ chơi điện tử, ma quỉ nói nhỏ vào tai: c̣n sớm mà, vào đây coi một tí rồi ra ngay. Thế rồi Rong bước vào, nó lại rủ rê: chơi 15 phút thôi. Rong mê mải chơi và quên mất thời gian, thế là không đi lễ. Về nhà má hỏi đi đâu về trễ. Nghe ma quỉ xúi giục Rong lại nói dối má: con đi lễ và học giáo lư mới về.

Các con thấy đó, ma quỉ rất xảo trá, khi cám dỗ bao giờ ma quỉ cũng bày ra những h́nh ảnh hay đưa ra những lời dụ dỗ thật hấp dẫn, làm cho ta khoái, làm cho ta thích. Hơn thế nữa, ma quỉ rất ĺ lợm, cám dỗ một lần không được nó sẽ trở lại cám dỗ cách khác, cám dỗ nữa, cám dỗ hoài, cho đến khi ta chiều theo ư nó. Nó cũng lại rất ranh ma, quỉ quyệt chẳng bao giờ nó cám dỗ các con phạm tội nặng ngay, nhưng ban đầu nó xúi hăy bỏ qua việc này việc nọ, hay nó chỉ xúi phạm những tội nhẹ, một khi phạm tội nhẹ quen rồi, nó sẽ cám dỗ ta phạm tội nặng mấy hồi. Thế nên, các con đừng bao giờ dại dột nghe lời dụ dỗ của nó mà phạm tội, dù là phạm tội nhẹ, đừng giống như chú vịt trời trong câu chuyện sau đây:

Có một đàn vịt trời bay về phương nam để trú đông. Vào một buổi chiều cả đàn đáp xuống một nông trại, thấy vịt nhà đang ăn bắp, chúng ùa theo vào ăn ké. Hôm sau chúng lại tiếp tục cuộc hành tŕnh. Thế nhưng có một chú vịt con, v́ được một bữa ăn ngon nên không muốn bay theo đàn, nó tự nhủ để mai mốt bay theo cũng chưa muộn. Thế rồi, ngày qua ngày, chú vẫn ở ĺ với đàn vịt nhà để được ăn ngon mà chẳng phải vất vả ǵ. Mùa xuân về, đàn vịt trời bay qua. Các bạn cũ kêu gọi nó: “Hăy theo chúng tôi. Được bay lượn trên bầu trời rộng lớn, được chu du khắp mọi nơi, thích lắm!” Chú vịt trời ráng sức đập cánh bay lên, thế nhưng, những bữa ăn no nê làm nó mập ú, và đôi cánh lâu nay không bay trở nên yếu ớt nên nó chỉ bay là đà đến ngọn cây rồi té cái bịch xuống đất, nó không bay theo đàn được nữa. Thế là dần dần quen đi, nó cam ḷng sống lẹt bẹt dưới đất với lũ vịt nhà.

Trở lại trường hợp bạn Rong trên kia, nếu Rong không chịu sửa lỗi, cứ nói dối mà trốn học, trốn lễ để chơi điện tử, rồi sẽ đến một ngày khi không có tiền, ma quỉ xúi giục ăn cắp của má một ít, của ba một ít, ngày này qua ngày khác… Thế là ăn cắp quen tay, lớn lên Rong có thể ăn cắp nhiều hơn, rồi đi ăn trộm, ăn cướp…

Các con thấy đó, kẻ thù của chúng ta đúng là lũ ranh ma quỉ quyệt, vậy làm sao chúng ta chống lại được chúng? Tuy ma quỉ gian tà giảo quyệt, nhưng chúng ta không sợ ma quỉ. Chúng con biết tại sao không? Tại v́ chúng ta có Chúa. Chúa mạnh hơn ma quỉ, Chúa giỏi hơn ma quỉ. Có Chúa ở phe ta th́ ma quỉ không làm ǵ chúng ta được. Vậy muốn thắng được ma quỉ các con phải có Chúa Giêsu và phải trang bị khí giới của Chúa Giêsu. Khí giới của Chúa Giêsu là ǵ? Đó là cầu nguyện, ăn chay hăm ḿnh, đó là Lời Chúa trong sách thánh. Vậy muốn sắm cho được khí giới của Chúa Giêsu, trước hết các con hăy siêng năng sớm tối đọc kinh cầu nguyện; biết hy sinh hăm ḿnh, nghĩa là biết chăm làm, chăm học, không làm biếng. Thứ đến là phải chăm chỉ học giáo lư, trong thánh lễ th́ chăm chú nghe giảng để được biết về Chúa biết về những điều Ngài dạy. Để có Chúa th́ phải làm sao? Phải năng lănh nhận các bí tích nhất là bí tích giải tội và Thánh Thể. Mỗi khi tham dự thánh lễ, lănh nhận Ḿnh Thánh Chúa là các con được lănh nhận chính Chúa Giêsu, chính Ngài chiến đấu trong các con, tiếp thêm sức mạnh cho các con. Ước chi trong mùa chay này, các con biết luôn tin tưởng bám chặt vào Chúa, được vậy ma quỉ sẽ chẳng thể làm ǵ hại các con, bởi v́ Chúa sẽ luôn trợ giúp và bảo vệ các con như lời Kinh Thánh mà thánh Phaolô lập lại trong bài đọc 2 hôm nay: “Ai đặt niềm tin vào Chúa, sẽ không phải thất vọng” và “Ai kêu cầu danh Chúa, sẽ được cứu thoát”.