|| Trang Chủ || Chia sẻ || Tập san || Thông hiệp ||

 

SUY NIỆM CHÚA NHẬT 7 THƯỜNG NIÊN A

Lời Chúa: Lv 19,1-2.17-18; 1Cr 3,16-23; Mt 5, 38-48

 

MỤC LỤC

1. Tha thứ kẻ thù.

2. Trở nên con cái Chúa.

3. T́nh yêu vượt ra khỏi mối hỗ tương.

4. Giơ má kia ra chăng?.

5. Yêu kẻ thù.

6. Chúng ta có tiến bộ tí nào không?.

7. Yêu kẻ thù là thánh.

8. Gợi ư giảng của Lm Carôlô.

9. Chú giải của Noel Quesson.

10. Chú giải của Fiches Dominicales.

11. Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt

  

 

1. Tha thứ kẻ thù

Đâu là phương thế để làm cho thêm bạn bớt thù trong cuộc sống của ḿnh?

Có một bản du ca tôi rất thích hát, bản du ca ấy có những lời lẽ như thế này: Kẻ thù ta đâu có phải là người giết người đi th́ ta ở với ai. Đúng thế, đă là người th́ ai cũng có những sai lỗi của ḿnh. Nhân vô thập toàn là thế. Hơn nữa, mỗi người lại có những tính t́nh và sở thích riêng biệt, bá nhân bá tánh là thế.

V́ vậy, đă sống chung cùng nhau chúng ta không thể nào tránh đi cho hết những va chạm, những bực bội và những buồn phiền, như một câu danh ngôn đă bảo: Hễ ở đâu có hai người sống với nhau, th́ ở đó thế nào cũng có sự xích mích và giận hơn.

Nếu suy nghĩ chúng ta sẽ thấy trên đời đâu phải chỉ có một hay hai người làm cho tôi sự mất ḷng, làm cho tôi phải nhục nhă và tức giận. Ngay cả đến những người bạn thân t́nh, ngay cả đến cha mẹ và anh chị em ruột thịt cũng đă nhiều lần làm cho tôi phải bực bội.

Vậy nếu hễ tức giận là báo thù, th́ tôi sẽ phải báo thù kẻ lạ cũng như người quen, kẻ ngoài xă hội cũng như người trong gia đ́nh, kẻ bên trái cũng như những người bên phải, kẻ đàng trước cũng như người đàng sau, nghĩa là phải tẩy chay, phải thanh toán hết mọi thứ người trên mặt đất này.

Hơn nữa, xă hội và ngay chính bản thân tôi, sẽ không thể nào được xây dựng trên sự thù oán và đấu tranh, v́ thù oán này sẽ nảy sinh ra thù oán khác, như một thứ bệnh truyền nhiễm làm cho xă hội bị sụp đổ, c̣n bản thân tôi sẽ phải quay quắt khổ đau. Thế nhưng, điều tệ hại nhất, đó là chính bản thân tôi nhiều khi lại là nguyên nhân cho sự thù oán, v́ hơn một lần tôi đă sai lỗi, hơn một lần tôi đă gian tham và bất công. Cho nên người đáng phải giết, đáng phải loại trừ lại chính là bản thân tôi. V́ vậy mà bản du ca trên có những lời lẽ được tiếp nối như sau: Kẻ thù ta tên nó là gian ác, tên nó là điêu ngoa, tên nó là tham tàn...

Phương thế hữu hiệu nhất để làm cho thêm bạn bớt thù, không phải là chết giết những kẻ thù ở bên ngoài, v́ sự trả thù chỉ là cái vui của những tâm hồn đê tiện, nhưng là phải lột mặt nạ và tận diệt cho bằng được những thói hư tật xấu, là những kẻ nội thù, nằm sẵn trong cơi ḷng chúng ta, như người xưa đă dạy: Kẻ thù đích thực th́ ở trong tâm hồn, v́ đó là những nguyên nhân gây nên thù oán ngoài xă hội.

Cùng với việc uốn nắn sửa đổi những sai lỗi của ḿnh, chúng ta hăy có thái độ khoan dung và tha thứ, cố gắng đi bước trước tiến đến sự hoà giải cùng nhau. Đừng khoan dung với ḿnh mà gay gắt với anh em, trái lại hăy khoan dung với anh em mà gay gắt với chính ḿnh. Cách tốt nhất để khỏi băn khoăn về kẻ thù là hăy làm cho họ trở nên một người bạn, bởi v́ thù oán không thể huỷ diệt được thù oán, chỉ có t́nh thương mới huỷ diệt được nó mà thôi.

Ngày kia thánh Clementê đi vào một tiệm ăn, ngửa tay ra và nói:

- Xin quư ông rộng lượng bố thí cho các em mồ côi một miếng cơm, một manh áo.

Tức th́ các thực khách cười lên hô hố một cách khinh bỉ. Sau đó, một anh thợ giày đă nói:

- Một miếng ư, được lắm.

Rồi anh ta uống một ngụm bia, phùng má trợn mắt phun thẳng vào mặt thánh nhân. Chúng ta thử tưởng tượng xem thánh nhân đă phản ứng như thế nào? Có lẽ ngài sẽ giáng cho anh ta một cái tát tai. Nhưng không, ngài vẫn b́nh tĩnh, rút khăn lau mặt, rồi lại ngửa tay và nói:

- Thưa quư ông, đó là phần của tôi, c̣n phần của các em mồ côi đâu chưa thấy.

Anh thợ giày bỗng té nhào xuống đất như bị một cú đấm thôi sơn, v́ anh ta chẳng bao ngờ tới trên cơi đời nham nhở này mà lại có được một người khích phách như vậy. Anh ḷm c̣m ngồi dậy và lắp bắp nói:

- Tôi... tôi sẽ gởi tặng các em.

Sau đó, anh đă dành một phần sản nghiệp và trao tận tay thánh nhân một số tiền lớn để tạ lỗi.

Hăy tha thứ để rồi bản thân sẽ được Chúa thứ tha.

 
 

2. Trở nên con cái Chúa

(Trích trong ‘Manna’)

Suy Niệm

Khi chúng ta suy niệm bài Tin Mừng này th́ Xuân đă về trước ngơ.

Mùa Xuân làm cho ḷng người rộn ră, cỏ cây chim chóc cũng reo vui với con người. Người ta chúc cho nhau bao điều tốt đẹp. Điều tốt đẹp nhất vẫn là sự b́nh an trong tâm hồn, sự b́nh an mua được bằng tha thứ yêu thương.

Khi dạy chúng ta đừng chống cự người ác, Đức Giêsu không đ̣i loại bỏ cảnh sát và pháp luật; cũng không lên án những cuộc chiến tranh tự vệ. Ngài chỉ muốn mời gọi các Kitô hữu hăy tránh thái độ báo thù, ăn miếng trả miếng.

Tha thứ là ra khỏi ṿng luẩn quẩn của oán thù, là mở ra con đường để người kia hoán cải.

Có một vị rất tâm đắc với bài Tin Mừng này, đó là Gandhi, người được dân Ấn-độ coi là đại thánh. Ông là cha đẻ của chủ trương bất bạo động, để giành lại độc lập cho đất nước từ tay người Anh. Ông nói: “Bất bạo động là luật của loài người, bạo động là luật của loài thú.”

Chúng ta thường sợ mang tiếng là hèn nhát, khiếp nhược, sợ kẻ ác thắng thế khi thấy ta lùi bước. Chúng ta ít dám tin vào sức mạnh của T́nh Yêu.

Chính T́nh Yêu chứ không phải bạo lực mới có thể làm trái tim con người tan chảy.

Đức Giêsu mời gọi ta yêu thương và cầu nguyện cho kẻ thù để trở thành con cái Cha trên trời.

Chúng ta không chỉ trở thành con Cha vào ngày Rửa tội. Chúng ta trở thành con Cha hơn nhờ những hành vi tha thứ yêu thương mỗi ngày.

Chúng ta thật là con, v́ giống Cha, Đấng cho nắng ấm, mưa rơi trên kẻ lành người dữ.

Chúng ta thường khó quên một xúc phạm đă qua, những chuyện cũ vẫn làm tim ta đau nhói. Cần nh́n lên Cha trên trời, Đấng để cho cỏ lùng mọc chung với lúa, Đấng mà ta phải nài xin ơn tha thứ mỗi ngày. Chỉ Ngài mới làm ta quên được điều tưởng như không thể quên.

Thế giới hôm nay có nhiều sự ác và người ác. Chúng ta phải tiêu diệt sự ác bằng sự thiện, hoán cải người ác bằng tha thứ yêu thương.

Kitô hữu là người dám đi lại con đường của Đức Giêsu, chấp nhận bị sự ác vùi dập và nuốt chửng, mà trên môi vẫn nói lời tha thứ. Nhưng cuối cùng là phục sinh, là niềm vui, hy vọng.

Chúng ta có dám tin rằng rốt cuộc chân lư, t́nh yêu và sự thiện sẽ chiến thắng không?

Gợi Ư Chia Sẻ

Bạn có thấy những lời Chúa dạy trong bài Tin Mừng hôm nay là những điều không thể thực hiện được? Có phải đó là thái độ của kẻ yếu nhược và hèn nhát không? Theo ư bạn, Đức Giêsu có dạy ta dung túng, bao che cho sự ác không?

Bạn đă và đang có những “kẻ thù” trong đời bạn, những người làm cho bạn phải đau khổ. Bạn có dám sống theo lời Chúa để tha thứ, yêu thương và cầu nguyện cho họ không?

Cầu Nguyện

Lạy Cha,

Cha đă cho chúng con sống thêm một năm, đi thêm một đoạn đường đời.

Nh́n lại đoạn đường đă qua, chúng con chỉ biết nói lên lời tạ ơn chân thành, v́ Cha vẫn cho chúng con sống, và sống trong t́nh yêu.

Mọi biến cố vui buồn của năm qua đều là những lời mời gọi kín đáo của Cha để thức tỉnh, nâng đỡ và đưa chúng con lên cao.

Tạ ơn Cha v́ những ǵ cuộc đời đă làm cho chúng con, và những ǵ chúng con đă làm được cho cuộc đời.

Xin cho chúng con sống những ngày tết dân tộc trong tinh thần vui tươi, hoà nhă, và không quên những ai nghèo khổ, cô đơn.

Ước ǵ những lời chúng con chúc cho nhau là những lời chúc lành xuất phát từ trái tim yêu thương.

Và lạy Cha, năm mới đă đến, trái đất lại xoay một ṿng mới quanh mặt trời, chúng con cũng muốn ở lại trong quỹ đạo của Cha, nhận Cha là trung tâm cuộc sống, và nhận mọi người là anh em. Amen.

 
 

3. T́nh yêu vượt ra khỏi mối hỗ tương.

(Trích trong ‘Lương Thực Ngày Chúa Nhật’)

Khi đề nghị một buổi lễ đọc một đoạn Phúc Âm, Giáo Hội ao ước cho ta làm quen với giáo huấn, lối nh́n, cách suy nghĩ, sứ điệp của Chúa Giêsu. Ít nhất người ta cũng có thể nói một điều: là Chúa Giêsu đi ngược lại các phản ứng thuộc bản năng của con người. Không chống lại sự ác nghiệt và yêu mến kẻ thù, đó không phải là những khám phá của sự khôn ngoan sơ đẳng của bản tính nhân loại. Sự táo bạo kêu mời con người thực thi t́nh yêu hoàn hảo, chỉ có thể xuất phát từ Con Thiên Chúa, Đấng đă nêu gương về một mức độ t́nh yêu như thế. Nếu Người dám xin ta yêu mến thù địch ta, là v́ Thiên Chúa đă yêu loài người trước hết, ngay trong khi họ c̣n chống lại Người, c̣n nằm trong tội lỗi. Thiên Chúa chứng tỏ t́nh yêu Người đối với ta: ấy là khi ta c̣n tội lỗi, Đức Kitô đă chết cho ta (Rm 5,8). Có những triết thuyết, những tổ chức tôn giáo ngoài Kitô giáo đôi khi đă xích lại gần sự đ̣i hỏi của Chúa Giêsu nhưng không hề đạt tới được. Phúc Âm quả là một chóp đỉnh duy nhất mà chỉ Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô dám xin ta leo lên. T́nh yêu đối với thù địch nằm ở chóp đỉnh ấy. Giới răn của Chúa Giêsu buộc ta không được giản lược t́nh yêu vào tŕnh độ của mối hỗ tương, trao đổi không vươn xa hơn. T́nh yêu tuỳ thuộc ở một sự trao đổi là một t́nh yêu mong manh. Trái lại, t́nh yêu mà phát xuất từ sâu thẳm của hữu thể là một sức vọt mạnh mẽ, chỉ lấy tự do ḿnh làm giới hạn. Mà chiến thắng của cái tự do ấy, chính là ở chỗ nó quyết định yêu thương, cả khi gặp cản trở, tức bị từ chối. Chúa nêu gương cho ta về điều này:

1) Chúa muốn điều hay cho những kẻ muốn làm hại Người. Người chịu khổ, chịu chết để những ai bắt Người phải khổ, phải chết được hết đau khổ và chết chóc. Trước sự từ chối tuyệt đối của con người không đáp lại t́nh yêu – (trước sự từ khước một mối hỗ tương), Chúa vẫn duy tŕ quyết định tuyệt đối là thương yêu.

2) T́nh yêu ấy mặc khuôn mặt của ḷng tha thứ. T́nh yêu theo Thiên Chúa biết nh́n từ bên trong. Tha thứ là một sự sáng suốt của t́nh yêu. Lạy Cha, xin tha cho họ, v́ ho không biết ḿnh làm ǵ. Người tự coi là kẻ thù của ta, họ vâng theo những động lực nào? Có lẽ họ là nạn nhạn của sự dốt nát, của những sức mạnh tối tăm làm chủ họ, của tính t́nh v.v… Không ai nói phải khuyến khích ḷng độc dữ của họ, nếu họ tỏ ra nguy hiểm. Điều cấm làm, là trả thù. Điều phải làm theo là yêu mến họ, dầu sao đi nữa, và ao ước sự tốt lành cho họ. Điều này có thể đ̣i hỏi một sức mạnh tinh thần gần như là khí phách anh hùng. Phải biết thưa với Chúa rằng, nếu Người đ̣i hỏi phải nên anh hùng, th́ Người cũng phải ban đủ sức làm anh hùng.

 
 

4. Giơ má kia ra chăng?

Đây là một thí dụ điển h́nh để kiếm chứng bài giảng trên núi về chữ nghĩa và tinh thần. Đâu là tinh thần của câu “Hăy giơ má kia ra” là câu làm bất cứ ai cũng nhăn mặt?

Khi chính ḿnh bị một cái tát trong cuộc khổ nạn, Chúa Giêsu đă chẳng giơ má kia ra. Ngài đă đặt kẻ vũ phu đứng trước hành vi của ḿnh: “Nếu ta nói sai, hăy chứng minh điều sai đó: nếu ta nói phải, tại sao lại đánh ta?” (Ga 18,23).

Điều sai lầm đó cứ lao theo từ ngữ như con ḅ mộng lao vào cái khăn nhử: “Tôi mà giơ má ra à? Để tạo điều kiện cho bạo lực sao?” Đúng ra là Chúa Giêsu muốn điều ngược lại. Khi Ngài nói: “Ngươi đừng đánh trả kẻ dữ dằn”, th́ Ngài đă chỉ đích danh, và chúng ta biết phải làm ǵ đối với một kẻ dữ dằn rồi. nhưng đó là một cái ǵ vượt xa trên kẻ dữ dằn này cũng như trên cái má rát bỏng của chúng ta. Dưới cái h́nh ảnh gây ấn tượng này (giơ má kia ra!) ẩn giấu một kế hoạch phi thường: ngăn chận bạo lực gia tăng.

Con ngưới chấp nhận bạo lực như là một dữ kiện không thể bàn căi vào đâu được. Đánh trả và báo thù dường như là điều tự nhiên, mọi người đều như thế, ngay cả những Kitô hữu tốt cũng vậy. Nếu chúng ta muốn đo lường sự đảo ngược to lớn mà Chúa Giêsu đưa ra, chúng ta hăy mở Kinh thánh ra, Sáng Thế kư 4,24: “Lameck sẽ bị báo thù 77 lần!”. Và chúng ta hăy đặt ḿnh vào địa vị của Phêrô khi được trả lời rằng: “Ngươi hăy tha thứ bảy mươi lần bảy” (Mt 18,22).

Có thể tỏ ra hoàn toàn vô lư, sự đảo ngược này bắt đầu xảy ra thực sự ngay khi chúng ta có can đảm nói không đối với bạo lực của chính chúng ta. Không phải bạo lực của người khác, mà là bạo lực của chúng ta. Khi lái xe, khi làm việc, khi coi truyền h́nh chúng ta muốn la lên: “Đồ thối tha! Quân sát nhân!” (và con cái có thể nghe được).

- Ngươi hăy im đi, hăy b́nh tĩnh, đừng đánh trả những người hung dữ, Chúa Giêsu nói.

- Chúa muốn chúng con để cho tất cả những người gàn dở, tất cả những kẻ bạo hành tha hồ hành động hay sao?

Tin Mừng không đơn giản chút nào cả. Sau đây là một câu chuyện đă xảy đến với tôi. Tôi đă chứng kiến hai tên vô lại đi xe máy làm một bà già bị thương nặng khi kéo lê bà ta dưới đất để giật túi xách. Một nỗi oán ghét dâng lên trong ḷng tôi. Khi hai cảnh sát đến tôi nghĩ họ phải bắt hai tên đó, tẩn chúng cho tới chết để dạy cho chúng một bài học!

Điều đó chẳng dạy cho chúng một bài học nào cả. Bạo lực không bao giờ dạy cho ai một bài học nào cả. Nó chỉ có kêu gọi thêm bạo lực mà thôi. Tôi đă thấy rơ điều đó chung quanh bà già bị thương tội nghiệp. Chúng ta sẽ nh́n tất cả các thanh niên đi xe máy bằng con mắt thành kiến.

Thánh Phaolô đă đào sâu vấn đề này: “Đừng để ḿnh thua điều ác” (Rm 12,17). Đừng để cho ai cả, từ cậu bé vô lại cho tới tên đồ tể, có khả năng biến đổi bạn thành một con người đầy căm thù. Nếu không, bạn sẽ thua điều ác.

Chúng ta không lúc nào cũng có thể hoàn toàn tự kiềm chế trước một kẻ tàn ác hoặc xảo trá. Nhưng chúng ta có thể chống lại làn sóng bạo lực ở trong ta, chống lại những lời nói và những cử chỉ bạo lực. Chúng ta có thể không cố gắng làm cho sự tự vệ và sự tức giận chính đáng biến thành bạo lực lớn và mù quáng hơn, biến thành sự khinh bỉ, biến thành ước muốn và hành vi báo thù thuần tuư.

Nơi nào một Kitô hữu ngăn chận được việc lan truyền bạo lực bằng cách từ chối làm một mắt xích của chuỗi sự ác, th́ nơi đó một thế giới mới sinh ra.

 
 

5. Yêu kẻ thù

(Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’)

Anh em hăy yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đăi anh em, như vậy anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, v́ Người cho mặt trời mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt” (Mt 5,44-45).

“Anh em hăy yêu thương kẻ thù ḿnh”. Việc này thật đ̣i hỏi: Nó đảo lộn các suy nghĩ của ta và làm mọi người phải thay đổi hướng đi của đời ḿnh!

Bởi v́, đừng dấu diếm nữa, tất cả chúng ta đều có một vài kẻ thù… lớn hoặc nhỏ.

Kẻ thù đang ở đàng sau cánh cửa căn nhà bên cạnh, nơi người đàn bà đáng ghét đó mà tôi thường t́m cách tránh né mỗi làn bà ta sắp sửa cùng bước lên cầu thang. Kẻ thù ở chính nơi người bà con mà cách đây ba chục năm đă đối xử bất công với cha tôi, v́ thế tôi không c̣n chào hỏi nữa. Kẻ thù ngồi ở bàn đàng sau trong lớp học và từ ngày nó tố cáo cho bạn tôi với thầy giáo, không bao giờ bạn nh́n mặt nó. Kẻ thù là người bạn gái đó, v́ cô ta đă bỏ bạn để đi với người khác. Kẻ thù là người bán hàng đă đánh lừa bạn. Đó là những người không nghĩ như bạn về chính trị, v́ thế ta tuyên bố họ là kẻ thù. Có người coi Nhà Nước là kẻ thù, nên dùng bạo lực đối xử với người đại diện Nhà Nước. Cũng có người nh́n các linh mục và Giáo Hội như là thù địch. Tất cả những người này và vô vàn những người khác mà ta gọi là “kẻ thù” ta phải yêu thương họ.

Phải yêu thương họ sao?

Thưa phải, phải yêu thương họ! Và đừng cho ḿnh có thể làm được bằng cách thay đổi t́nh cảm oán ghét thành t́nh cảm nhân hậu hơn.

Mà c̣n hơn nữa. Bạn hăy lắng nghe lời Đức Giêsu dạy:

“Anh em hăy yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đăi anh em, như vậy, anh em mới thực sự trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, v́ Người cho mặt trời mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt”.

Bạn thấy không? Đức Giêsu muốn một t́nh thương thể hiện qua việc cầu nguyện và những hành động cụ thể.

Ở nơi khác, Ngài cũng dạy: “Anh em hăy làm ơn cho kẻ oán ghét ḿnh, chúc lành cho kẻ nguyền rủa ḿnh, cầu cho kẻ nhục mạ ḿnh” (Lc 6,27-28).

Ngài giải thích cho ta lư do tại sao Ngài truyền dạy như vậy, và chỉ cho ta mẫu gương là t́nh thương của Thiên Chúa, Cha Ngài; Ngài dạy ta làm như vậy cùng hành xử theo gương Chúa Cha.

Điều đó có nghĩa là trên đời ta không c̣n cô đơn: ta có một người Cha và phải sống như Người. Không những thế, mà Thiên Chúa c̣n có quyền đ̣i ta làm như vậy, bởi v́ khi ta c̣n là thù địch của Người, c̣n sống trong tội lỗi, Thiên Chúa đă yêu thương chúng ta trước (x.2Ga 4,19), và sai Con của Người đến với ta, Đấng đă chết cách nhục nhă v́ mỗi người chúng ta.

“Anh em hăy yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đăi anh em, như vậy anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, v́ Người cho mặt trời mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt”.

Bài học ấy chú bé Jery người da đen đă học được ở Washington. V́ có trí thông minh, em đă được nhận vào một lớp đặc biệt gồm toàn thiếu niên da trắng. Nhưng trí thông minh không đủ để làm cho các bạn cùng lớp hiểu rằng em cũng b́nh đẳng như chúng. Màu da đen đă làm cho tất cả ghét bỏ em, đến độ ngày lễ Giáng Sinh các học sinh tặng quà cho nhau nhưng không thèm để ư tới Jery. Em bật khóc, điều này dễ hiểu! Nhưng khi về nhà em nghĩ đến Chúa Giêsu: “Hăy yêu thương kẻ thù của anh em”, và đồng ư với má, em mua quà vui vẻ tặng cho tất cả những “người anh em da trắng” của ḿnh.

“Anh em hăy yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đăi anh em, như vậy anh em mới trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, v́ Người cho mặt trời mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt”.

Ngày hôm đó Elizabeth, cô bé có đạo ở thành phố Florence (Italia) thật đau ḷng, khi bước lên bậc thang vào nhà thờ dự lễ, v́ cô nghe tiếng cười nhạo của một nhóm đồng lứa tuổi. Cho dù muốn chống lại, em mỉm cười và trong nhà thờ em cầu nguyện cho những thiếu niên ấy.

Khi đi ra, các thiếu niên chặn em lại và hỏi lư do tại sao em xử sự như vậy. Em trả lời, ḿnh là người có đạo, nên phải thương yêu luôn luôn. Em nói lên điều đó với niềm xác tín mạnh mẽ.

Chứng ta của em Elizabeth đă được thưởng công: Chúa Nhật sau đó em thấy tất cả các thiếu niên ấy trong nhà thờ, rất chăm chú ở hàng ghế trên cùng. Các thiếu niên chấp nhận Lời Chúa như thế. Do đó các em là người lớn trước mặt Chúa.

Có lẽ ta cũng nên điều chỉnh lại một vài t́nh trạng, hơn nữa cũng v́ ta sẽ được xét xử theo như cách ta xét đoán người khác. Thật vậy, chính ta là người trao vào tay Chúa cái thước mà Ngài phải dùng để đo t́nh yêu của chúng ta. Ta đă chẳng xin Chúa: “Xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con” đó sao? Vậy ta hăy yêu thương kẻ thù! Chỉ khi xử sự như vậy ta mới có thể sửa chữa lại sự chia rẽ, đạp đổ những hàng rào ngăn cách và xây dựng cộng đoàn huynh đệ.

Điều đó khó khăn sao? Nặng nề sao? Nó không để ta ngủ yên, ngay khi mới nghĩ đến sao? Hăy can đảm lên! Điều đó không phải là quá sức: một nỗ lực nhỏ từ phía ta, rồi 99 phần trăm Thiên Chúa sẽ làm, và… trong tâm hồn ta sẽ dâng trào niềm vui.

 
 

6. Chúng ta có tiến bộ tí nào không?

(Trích trong ‘Mở Ra Những Kho Tàng’ của Charles E. Miller)

Ḍng giống nhân loại đă làm một tiến bộ vượt bực trong lịch sử gần đây. Hăy suy nghĩ về điều tương phản giữa một “toa xe không ngựa kéo và một chiếc xe hơi hiện đại”, hoặc sự khác nhau giữa “chuyến bay đầu tiên ở Kitty Hawk, Bắc Caroline vào năm 1903 và một cuộc du hành bằng máy bay hiện đại”. Vào một trăm năm trước, không người nào có thể tưởng tượng ra rằng người ta có thể ngồi trước một cái hộp, vừa gọi điện vừa nghe được tiếng nói, vừa xem thấy người đang tṛ chuyện với ḿnh.

Những tiến bộ của chúng ta thật đáng kinh ngạc, nhưng một vấn nạn về luân lư và giáo dục vẫn c̣n tồn tại và nặng nề hơn cả người sống ở thế kỷ trước hay ba mươi thế kỷ qua. Chúa Giêsu trong Phúc Âm, Người đă ám chỉ tới sách Xuất hành, sách đó thuật lại sự kiện đă xảy ra trước khi Chúa Giêsu sinh ra khoảng một ngàn bốn trăm năm. Đoạn văn mà Người đă trích dẫn như sau: “Mắt đền mắt, răng đền răng”. Điều này có nghĩa là chỉ có mắt mới đền mắt được và chỉ có răng mới đền răng được. Nói cách khác, đây là một sự bào chữa cho một công lư chính xác vào một thời mà nền quân chủ ngự trị, không hè do dự phạt tội chết một người ăn cắp một quả nho trên bàn của vua. Hăy nhớ lại vào những ngày tháng của Chúa Giêsu, nhiều năm sau lời bào chữa này đă trở nên ḥa hoăn hơn. Vua Hêrôđê đă không do dự chém đầu Gioan Tẩy Giả bởi v́ vị quốc vương dại gái ấy đă làm một lời hứa ngu ngốc với một cô gái nhảy dâm đăng.

Chúa Giêsu t́m kiếm một nền đạo lư cao hơn cho những người đi theo Người. Nơi h́nh ảnh một bức tranh Người đ̣i hỏi chúng ta không nên nhấn mạnh đến một sự công lư nghiêm thẳng. Điều đó đang muốn nói đến án lệnh làm cho sự việc nên nghiêm trọng hơn. Chúa Giêsu c̣n đi xa hơn nữa. Người tuyên bố nếu chỉ yêu thương những người cùng dân tộc với ḿnh th́ không đủ. Người ban mệnh lệnh yêu thương ngay cả kẻ thù của ḿnh và cầu nguyện cho những kẻ bắt bớ ḿnh. Những kẻ hoài nghi chế tạo những giáo huấn này. Họ nghĩ rằng Chúa Giêsu là một gă khờ khạo và những giáo huấn của Người là những lư tưởng không thể thực hiện được. Đương nhiên Chúa Giêsu không ngây thơ tí nào, Người rất khôn ngoan. Những lư tưởng Người đưa ra là những mục đích không phải là không đạt tới được. Ít nhất chúng ta cũng như những người có dit đă nghe và chấp nhận sự thách đố của Người: “Các con phải trở nên hoàn hảo như Cha các con ở trên trời là Đấng Hoàn Hảo”.

Thánh Phaolô hỏi chúng ta: “Anh em không ư thức anh em là Đền Thờ Chúa Thánh Thần ư, và Thánh Thần của Thiên Chúa ngự trong ḷng anh em sao?”. Một sự khiêm nhượng giả hiệu sẽ không bao giờ làm cho chúng ta quên đi giá trị của ḿnh. Chúng ta xét thấy nhà thờ là nơi thánh thiêng bởi v́ đó là nhà của Thiên Chúa. Cùng một cách ấy, chúng ta phải nhận biết sự thánh thiêng của chúng ta v́ nó là Đền Thờ của Thiên Chúa. Thánh Thần Thiên Chúa sống động bên trong chúng ta, biến đổi chúng ta nên con cái của Thiên Chúa, củng cố h́nh ảnh Con Thiên Chúa là Chúa Giêsu nơi chúng ta. Có phải không khi nói với chúng ta rằng chúng ta phải trở nên khác đi, rằng chúng ta không phải tự dối ḿnh bằng việc suy nghĩ theo lối trần tục sao? Chúng ta được kêu gọi để hành động theo những tiêu chuẩn của Thiên Chúa, không phải theo những tiêu chuẩn của xă hội thế trần.

Khi chúng ta đến dự Thánh Lễ, việc đầu tiên chúng ta lắng nghe Lời Chúa, Thánh Kinh sẽ dẫn chúng ta đi đến những lư tưởng và những thách đố. Tiếp đó, chúng ta tham dự Phụng vụ Thánh Thể và chúng ta được lănh nhận Ḿnh và Máu Chúa. Thánh Thể là nguồn sức mạnh Thiên Chúa ban cho chúng ta để chúng ta tiến bước theo những lư tưởng của Thánh Kinh và để chấp nhận những thách đố ấy. Sẽ không có sự tiến bộ thật sự trong đạo đức nếu chúng ta không sẵn ḷng cố gắng, dù vất vả cũng không hề chi để toàn tâm toàn ư với tiếng gọi của Chúa Giêsu là: “Các con hăy trở nên trọn lành như Cha trên trời là Đấng trọn lành”.

 
 

7. Yêu kẻ thù là thánh.

(Trích trong ‘Xây Nhà Trên Đá’ của Lm. ViKiNi)

Mở đầu sách Đại học của Nho Giáo đă nêu rơ mục đích là “Đại học chi đạo: Tại minh minh đức, tại thân dân, tại chỉ ư chí thiện”.

Kết thúc Hiến chương nước Trời trong bài Tin Mừng hôm nay cũng đặt rơ mục đích là “Anh em hăy nên hoàn thiện như Cha trên trời... là yêu kẻ thù”.

Nho Giáo ở phương trời Viễn Đông, Kitô giáo ở phương trời Cận Đông, tuy xa nhau hàng ngàn dặm, nhưng t́nh yêu đâu có khác nhau?

Một đàng muốn con người nên chí thiện ở tại thân dân, thương yêu dân.

Một đàng bảo: “Anh em hăy nên toàn thiện ở tại thương yêu cả kẻ thù”.

Một đàng: “Minh minh đức”, minh là làm sáng tỏ, minh đức là đức sáng láng của Trời; minh minh đức là làm cho đức sáng của Trời sáng tỏ ra, chiếu sáng ra.

Một đàng bảo: hăy cầu nguyện, cốt yếu của cầu nguyện là làm cho danh thánh Cha trên trời hiển sáng, chiếu sáng ra khắp muôn dân. Thiên Chúa là ánh sáng, Đức Kitô là ánh sáng bởi ánh sáng (Ga. 1, 9).

Phần kinh của sách Đại học chỉ có 205 chữ: đây là cương lĩnh, là Hiến chương của Nho Giáo, mục đích đào tạo người học Thánh quân tử, thánh nhân.

Hiến chương nước Trời của Đức Giêsu cũng rất ngắn gọn, vài trăm chữ, nhằm đào tạo con người thành con Cha trên Trời, thành Thánh nhân của Thiên Chúa.

Hai Hiến chương có lẽ chỉ khác nhau ở chỗ: Tin Mừng nói rơ Cha trên trời là Đấng hoàn thiện và hạnh phúc Nước Trời; sách Đại học không nói rơ, nhưng cũng ngầm hiểu: làm cho dân được hạnh phúc là ở tới đích chí thiện; chí thiện chính là Thiên Chúa.

Lời Chúa hôm nay đặt chương tŕnh nên chí thiện, nên chí thánh rất cụ thể.

Bài I (Lv. 19, 1-2; 17-18) Chúa phán dạy: “Các ngươi phải nên thánh”. Nhờ sống thánh thiện, mới tránh được: ghen ghét, oán hận, trả thù; mới biết yêu đồng loại như chính ḿnh. Nền tảng của dân thánh đặt trên: “Ta là Đấng Thánh”.

Ở thời Cựu Ước, trước kỳ lưu đầy, khi nghe nói đến “Đấng Thánh” th́ dân nhớ đến Đền Thánh, nhớ đến nơi cực Thánh trong cung thánh, nhớ đến những ngày lễ Thánh, những việc Thánh họ phải làm nơi đền thờ để được nên thánh.

Đến thời lưu đầy đền thờ bị phá hủy, dân bơ vơ, không c̣n điểm tựa để nhận ra Giavê là Đấng Thánh cho dân nên thánh. Họ phải nhớ lại giới luật giao ước núi Sinai mà Giavê, Đấng Thánh đă ban cho họ. Họ cần sống thực hiện giới luật đó để họ nên thánh như Đấng Thánh đă truyền dạy họ. Họ mới mong Đấng Thánh giải phóng họ khỏi cảnh lưu đầy như Ngài đă giải phóng tổ tiên họ khỏi nô lệ Ai Cập.

Bài II (1Cr. 3, 16-23) Phaolô không nhắc tới đền thờ Giêrusalem, không nhắc đến luật cũ nữa. Tân Ước là thời đại mới, dân Chúa thực sự không nên thánh nhờ đền thờ hay lề luật. Họ nên thánh, họ là dân thánh (1Phêrô 2, 9) nhờ được tái sinh bởi nước và Thánh Thần. Phaolô cho họ thấy: “Anh em là đền thờ Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em” Từ nay họ là chi thể thánh của Đức Kitô “Anh em thuộc về Đức Kitô, Đức Kitô thuộc về Thiên Chúa”

Thánh Phaolô đă cho ta biết rơ, bản chất cốt yếu của thánh thiện, không nhờ đền thờ hoặc bất cứ ai dù là Phaolô... hay luật lệ chỉ nhờ một ḿnh Thiên Chúa: “Chính nhờ Người, với Người và trong Người” đă làm cho ta nên thánh.

Khi đă nhờ Người mà nên thánh, th́ chính nhờ Người mà chúng ta mới có thể yêu kẻ thù.

Nhờ Người và như Người, chúng ta sẵn sàng chịu vả má phải và giơ thêm má trái cho họ vả, chứ không như luật dạy: mắt đền mắt răng đền răng. Nhờ Người và như Người, chúng ta không cần che thân, không cần bảo vệ, sẵn sàng chịu bóc lột áo trong cũng như áo ngoài. Nhờ Người và như Người không có ḥn đá gối đầu, chúng ta không tiếc xót khi cho vay mượn, không bám gót của cải, dễ dàng cho đi, bỏ đi.

Nhờ Người và như Người đă vác khổ giá, chúng ta sẵn sàng phục vụ công việc như nô dịch, làm phu như ông Simon vô cớ bị quân dữ bắt làm phu vác đỡ thánh giá Chúa. Hơn nữa, c̣n phải sẵn sàng hy sinh cả mạng sống để yêu kẻ thù.

Như thế, mới được trở nên con Cha, Đấng đă làm cho mặt trời mọc lên soi sáng cho kẻ xấu cũng như người tốt và cho mưa xuống cho kẻ dữ cũng như người lành. Chiêm ngắm những kỳ công bao la đó, Nho gia xưa đă rất ngạc nhiên kêu lên: “Ôi đạo của bậc thánh vĩ đại thay! mênh mông như biển cả, sinh thành, nuôi dưỡng, giáo dục, thánh hóa tất cả vạn vật trong vũ trụ từ đất đi tới trời cực kỳ tốt đẹp: Đại tai thánh nhân chi đạo! dương dương hồ, phát dục vạn vật; tuấn cực vu thiên” (Trung Dung - chương 27)

Thánh như vậy đă “phối hợp với trời đất rộng dầy cao minh: bác hậu phối địa, cao minh phối thiên” (Trung Dung - 26)

Lời Chúa hôm nay giúp chúng ta thấy ba mức độ thánh thiện:

Thánh thiện ở đền thờ, kinh lễ như hạng tư tế, bị Chúa phê: quân này mến Ta bằng môi miệng và ḷng nó xa Ta.

Thánh thiện ở giữ trọn lề luật như chàng thanh niên giàu có, nhưng anh thiếu một điều là: hăy về bán những ǵ anh có mà cho người nghèo, người nghèo là kẻ thù của người giàu.

Thánh thiện ở yêu kẻ thù, yêu kẻ thù mới thực là t́nh yêu chí thiện, chí thánh phản ánh rơ nét t́nh yêu Thiên Chúa đă thí mạng sống Con Một cho kẻ thù: kẻ thù của Thiên Chúa là kẻ tội lỗi.

Lạy Chúa, xin thánh hóa t́nh yêu con, cho con biết yêu mến mọi người, nhất là những người thù ghét, oán hận con. Amen.

 
 

8. Gợi ư giảng của Lm Carôlô.

SỐNG BẰNG YÊU THƯƠNG

1) Thế nào là thánh?

Trong các bài đọc hôm nay, chúng ta nghe được hai lời kêu gọi nên thánh như Thiên Chúa: “Các ngươi hăy nên thánh, v́ Ta là Đấng Thánh” (bài đọc I); “Các con hăy nên trọn lành như Cha các con ở trên trời là Đấng trọn lành” (Bài Tin Mừng).

Thánh là thế nào?

Người ta thường h́nh dung vị thánh là một người khổ hạnh, xa lánh thế gian, chuyên chăm đọc kinh cầu nguyện… V́ h́nh dung như thế, người ta ngưỡng mộ các vị thánh nhưng không thích làm thánh.

Bài đọc I và bài Tin Mừng hôm nay h́nh dung vị thánh một cách rất dễ thương, dễ thích: Thánh là người cố gắng giống Chúa. Mà v́ Chúa là t́nh yêu cho nên thánh là người sống yêu thương, chẳng những yêu thương những người thân cận với ḿnh, mà c̣n yêu thương cả những kẻ thù ghét ḿnh.

Một vị thánh như thế, ai mà không thích? H́nh ảnh một vị thánh như thế, ai mà không muốn trở thành? Và những người thánh như thế, xă hội nào mà không cần đến?

2) “Mắt đền mắt, răng thế răng”

Toàn văn của khoản luật trả đũa được ghi trong sách Xuất hành (Xh 21,24) như sau: “Mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền tay, chân đền chân, phỏng đền phỏng, bầm đền bầm, sưng đền sưng”. Mục đích của khoản luật này là tuy cho phép trả đũa nhưng giới hạn sự trả đũa đúng mức bị gây hại: kẻ thù làm ḿnh hư một mắt, ḿnh có thể trả đũa làm cho nó hư lại một mắt (không được hai); nó đánh ḿnh bầm, ḿnh có thể đánh nó bầm lại (không được hơn)…

Một điều đáng buồn là ngay trong thời đại Tân Ước này, nhiều người chẳng những chưa giữ được giới hạn tối thiểu của luật Cựu Ước mà c̣n tệ hơn thế nhiều. Họ sống theo luật “Ḥn đất ném đi, ḥn ch́ ném lại”. Hăy nh́n t́nh h́nh xung đột bên Trung Đông giữa Palestine và Israel: một người của bên này bị bắn tỉa chết là liền sau đó một làng của bên kia bị máy bay bên này ném bom. Trên b́nh diện nhỏ hơn: hai đứa trẻ đánh nhau kéo theo hai gia đ́nh xung đột với nhau; khi hai người căi nhau, người này chửi một câu th́ người kia đáp lại ba câu; người này nói “Cha mầy” th́ người kia đáp lại “Tổ tiên sư mầy”…

Làm thế nào để chấm dứt xung đột? Cách giải quyết “Mắt đền mắt răng đền răng” rất khó dừng lại ở giới hạn hợp lư mà thường có khuynh hướng leo thang trả đũa. C̣n nếu giải quyết bằng cách “Ḥn đất ném đi ḥn ch́ ném lại” th́ xung đột càng leo thang nhanh hơn.

Đến đây chúng ta mới thấy giáo huấn của Đức Giêsu rất khôn ngoan. Xung đột chỉ chấm dứt được khi một bên chịu nhường nhịn. Nhường nhịn không có nghĩa là ḿnh yếu, ḿnh thua, nhưng là ḿnh đang cố gắng nên thánh như Thiên Chúa ở trên trời là Đấng thánh.

3) Yêu thương kẻ thù không phải là thiện cảm, mà là thiện chí

Martin Luther King là một mục sư da đen, người đă đấu tranh để người da đen không c̣n bị người da trắng ngược đăi. Ông có một cách hiểu rất dễ chấp nhận về lời Chúa Giêsu dạy “Hăy yêu thương kẻ thù”, như sau:

“Trong Tân Ước, chúng ta thấy từ Agapè được dùng để chỉ t́nh yêu. Đó chính là t́nh yêu dồi dào không đ̣i một đáp trả nào hết. Các nhà thần học nói đó là t́nh yêu Thiên Chúa được thực hiện nới tâm hồn con người. Khi vươn lên một đỉnh t́nh yêu như vậy, chúng ta sẽ yêu hết mọi người, không phải v́ chúng ta có thiện cảm với họ, cũng không phải v́ chúng ta đánh giá cao lối sống của họ. Chúng ta yêu thương họ v́ Thiên Chúa yêu thương họ. Đó chính là ư nghĩa lời Đức Giêsu dạy “Anh em hăy yêu thương kẻ thù”. Phần tôi, tôi sung sướng v́ Ngài đă không nói “Anh em hăy có thiện cảm với kẻ thù của anh em” bởi v́ có những người mà tôi khó có thiện cảm nổi. Thiện cảm là một xúc cảm. Tôi không thể có xúc cảm với người đă ném bom vào gia đ́nh tôi. Tôi không thể có thiện cảm với người bóc lột tôi. Tôi không thể có thiện cảm với người đè bẹp tôi dưới sự bất công. Không, không thể có một thiện cảm nào đối với người đêm ngày đe dọa giết tôi. Nhưng Đức Giêsu nhắc tôi rằng t́nh yêu c̣n lớn hơn thiện cảm, rằng t́nh yêu là thiện chí biết cảm thông, có tính sáng tạo, cứu độ đối với hết mọi người” (Trích bởi Fiches Dominicales, Năm A, trang 201)

4) Mảnh suy tư

- Khi đọc lịch sử người ta rất buồn, không phải buồn v́ những tội ác mà những kẻ ác đă phạm, cho bằng v́ những sự trừng phạt mà người lành phải gánh chịu; và một cộng đoàn trở nên hung ác không phải do những tội ác thỉnh thoảng xảy ra cho bằng do thói quen xử dụng h́nh phạt. (Oscar Wilde)

- Tha thứ giống như cái ǵ? Giống như mùi hương mà bông hoa tỏa ra khi nó bị giẫm nát.

5) Lời cầu nguyện cuối ngày

Lạy Chúa, mỗi ngày khi chúng con đi ngủ là đi vào một cái chết nho nhỏ để chịu một cuộc phán xét nho nhỏ về một ngày vừa qua.

Ước ǵ khi đó từng điều lầm lỗi của chúng con đều đă được tha thứ, và từng điều không thánh thiện của chúng con đều đă được thánh hóa.

Xin đừng để c̣n một điều ǵ đi theo chúng con vào giấc ngủ mà chưa được tha thứ và thánh hóa.

Có như thế chúng con mới luôn sẵn sàng cho cuộc tái sinh vào cơi đời đời, chúng con dám nh́n về phía trước với ánh mắt chan chứa t́nh yêu và hy vọng và có thể đứng vững trước mặt Chúa là Đấng vừa là quan ṭa vừa là Đấng cứu độ chúng con, một quan ṭa thánh thiện và một đấng cứu độ yêu thương. (Đức Giám Mục Appleton)

6) Chuyện minh hoạ

a/ Trả thù

Một thanh niên trong làng bị lăng mạ cách thậm tệ. Anh vội vàng đến mục sư kể cho ông nghe và muốn đi trả thù ngay.

- Tốt hơn, con nên về nhà.

- Nhưng con bị nhục mạ.

- Vậy th́ con càng nên về nhà ngay lúc này. Sự nhục mạ cũng giống như bùn.

- Đúng thế. Con sẽ làm sạch nó.

- Này con, có một điều con có thể học hỏi tốt ngay bây giờ và sau này: Bùn được gạt sạch dễ dàng khi nó khô.

b/ Tiêu diệt kẻ thù

Một hoàng đế Trung hoa tuyên bố sẽ tiêu diệt hết các kẻ thù. Nhưng ít lâu sau, thần dân thấy nhà vua đi lại, ăn uống với kẻ thù trước kia.

- Chẳng phải ngài đă từng nói là sẽ tiêu diệt hết kẻ thù?

- Đúng, ta đă tiêu diệt hết kẻ thù, v́ ta đă biến họ thành bạn bè của ta.

 
 

9. Chú giải của Noel Quesson

“Anh em đă nghe luật dạy người xưa rằng….c̣n Thầy, Thầy bảo cho anh em biết…”

Tiếp nối bài giảng trên núi, chúng ta đang ở phần đề thứ năm và thứ sáu trong luật mới. Đức Giêsu đă chống lại những ǵ đă được nói trước kia hay đúng hơn người kiện toàn chúng. Nhưng cách nói này có một uy quyền chưa từng thấy, nhất là khi người ta biết công thức ở thể thụ động (“luật dạy người xưa” = luật được dạy cho…) là một ngữ điêu trong ngôn ngữ Do thái, được dùng vô vị, để tránh việc sử dụng danh của Thiên Chúa mà người ta không bao giờ nói ra v́ ḷng tôn kính Người. Nói rơ ra công thức này có nghĩa; “Thiên Chúa đă nói..c̣n Thầy, Thầy cho anh em biết…”. Cũng thế, công thức “anh em đă được nghe, được dạy…” gợi lại việc đọc trang trọng luật trong phụng vụ ở Hội Đường. Đó là luật thánh, bất khả xâm phạm toả ánh vinh quang của núi Xi-nai. Vậy, Đức Giêsu đă dám chống lại lời của Thiên Chúa, sách kinh Tô-ra bằng những khẳng định riêng Người. Không bao giờ có một ngôn sứ nào đă nói như thế. Vai tṛ của họ chỉ là truyền đạt lại hay chú giải sứ điệp của Thiên Chúa: "Đức Chúa nói như thế..." Để nói như Đức Giêsu, phải là người điên hoặc là Thiên Chúa.

“Thiên Chúa đă dạy anh em... C̣n Thầy, Thầy bảo cho anh em..." Người ta biết rằng Người đă bị buộc tội phạm thánh.

Nhưng phần tiếp theo sẽ chứng tỏ cho chúng ta thấy rằng đó là một sứ điệp thật sự siêu phàm, một sứ điệp của Thiên Chúa!

Anh em đă nghe Luật dạy rằng: "Mắt đền mắt, răng đền răng". C̣n Thầy, Thầy bảo anh em đừng chống cự người ác..."

Tầm thước thời đại của chúng ta... khó mà hiểu được "luật phạt ngang bằng" (loi du talion). Làm thế nào mà Luật của Môsê (Luật của Thiên Chúa) đă có thể phát biểu một luật như thế. Vả lại, luật này đă là một tiến bộ to lớn đối với bản năng: trả thù rất tự nhiên nơi con người. Bởi luật phạt ngang bằng ấy, những luật theo tập quán của Phương Đông Cổ đại (ví dụ: bộ luật Ham mourabi) cố gắng giới hạn những sự trả thù thái quá. Hành động tự nhiên của người bị tấn công là "trả đũa nhiều hơn". Như một bài ca man rợ mà La-méc đă hát: "Ca-in sẽ được báo thù gấp bảy, nhưng La-méc th́ gấp bảy mười bảy..." (St 4,24). V́ thế luật ấy đă cố gắng giới hạn bạo lực và khuyến cáo chỉ nên bắt kẻ tấn công chịu sự đối xử giống như người này bắt nạn nhân của hắn phải chịu (Xh 21, 24; Lv 24,20; Đnl 19,21). H́nh như chúng ta đă hoàn toàn vượt qua luật này của Kinh Thánh v́ nó được viết ra cho một thời- đại khác với thời đại của chúng ta. Than ôi! Nếu như người ta cứ sống măi theo luật h́nh phạt ngang bằng! Biết bao thành phố bị ném bom bởi sự “trả thù” thật biết bao cuộc đấu tranh chủng tộc, quốc gia, xă hội trong đó người ta áp dụng điều ngược lại với "luật h́nh phạt ngang bằng, nghĩa là sự leo thang của bạo lực". Nó áp dụng cho người nào sẽ là người mạnh nhất cho người nào sẽ trả đũa lại những cú đ̣n đă nhận được! người ta nói một cách ngây thơ về ‘những tương quan lực lượng’ nhưng đó luôn luôn là một bản năng man rợ lâu đời.

Đức Giêsu đă táo bạo mời gọi con người đi đến hoàn thiện của t́nh yêu Người bảo chúng ta rằng không nên trả thù về mọi việc... không nên đánh trả kẻ hung ác! và vốn là một nhà thuyết giảng cụ thể, đại chúng, Người sẽ cho chúng ta bốn ví dụ:

“Nếu ai vả má bên phải, th́ hăy giơ cả má bên trái ra nữa...

Nếu ai muốn kiện anh để lấy áo trong của anh, th́ hăy để cho nó lấy cả áo ngoài...

Nếu có người bắt anh đi một dặm, th́ hăy đi với người ấy hai dăm...

Ai xin th́ anh hăy cho; ai muốn vay mượn th́ anh đừng ngoảnh mặt đi..”

Ở đây cũng thế, Tin Mừng không bao giờ cho chúng ta những công thức đạo đức hoàn toàn có sẵn. Điều quan trọng là một "tinh thần" chứ không phải là một "quy tắc". Chính Đức Giêsu, khi đă nhận cái vả của người đầy tớ Thượng Tế, đă không giơ má kia ra! Người đă đáp lại dũng cảm và xứng đáng: "Sao anh lại đánh tôi" (Ga 18,23).

Vả lại người ta không có quyền dựa trên những lời đó của Đức Giêsu để bảo lănh cho sự bất công, ở đây, chúng ta không có những quy tắc luật pháp có thể áp dụng nguyên xi cho xă hội dân sự: điều này sẽ khuyến khích t́nh trạng ăn xin, khích lệ bạo lực và tội ác, không bảo đảm sự trừng phạt những kẻ bất lương. Chắc chắn, Đức Giêsu đă không muốn công nhận một t́nh trạng áp bức bất b́nh thường khi đ̣i hỏi những kẻ yếu phải cam chịu. Cũng có những trường hợp mà một môn đệ chân chính của Đức Giêsu phải chiến đấu: cam chịu sự bất công, nhất là sự bất công mà những người khác là nạn nhân, hoàn toàn trái ngược với tinh thần của Đức Giêsu. Sau khi đă nêu ra những khía cạnh đó, hăy để Đức Giêsu tra hỏi chúng ta. Phải, tất cả chúng ta đều phải chiến thắng bản năng trả thù tṛng con người của ḿnh. Điều ác sẽ không bị vượt qua khi chúng ta đáp lại nó bằng một sự tàn nhẫn tương đương. Khi người ta trả đũa điều ác bằng điều ác, người ta trở về với ṿng tṛn hỏa ngục. Thật vậy, điều ác mà chúng ta chịu đựng thật ra vẫn c̣n ở bên ngoài chúng ta. Nhưng khi người ta đáp trả lại điều ác, điều ác ấy sẽ có thêm một chiến thắng phụ nữa, bởi v́ nó đă đi vào ḷng chúng ta. Đức Giêsu muốn mở ra một con đường khác cho nhân loại: chiến thắng điều ác bằng điều thiện, dùng t́nh yêu để đáp lại hận thù.

"Anh em đă nghe Luật dạy rằng: "hăy yêu đồng loại và hăy ghét kẻ thù".

Trong Kinh Thánh, người ta có t́m kiếm một quy tắc như nhưng thế cũng vô ích. Thật vậy, Đức Giêsu muốn ám chỉ thái độ thông thường của toàn thể nhân loại; được diễn tả rất mạnh trong nhiều bài Thánh vịnh về “sự trừng phạt của Chúa”, trong đó ḷng thù ghét tội lỗi đi đến chỗ biện minh cho sự thánh chiến: "Lạy Chúa, ước chi Ngài tiêu diệt kẻ gian tà… Lạy Chúa, kẻ ghét Ngài, làm sao con không ghét? Con ghét chúng, ghét cay, ghét đắng, chúng trở thành thù địch của chính con" (Tv 139,19-22). Những thủ bản kinh Thánh ở Qumram có lệnh truyền này: "Ngươi sẽ ghét những đứa con của bóng tối". Vả lại, phải hiểu ở đây trước hết không phải là những kẻ thù của ḿnh mà là những “kẻ thù của Thiên Chúa" tức là những kẻ thù của của nhóm giáo sĩ gồm “con cái của ánh sáng. Vậy sự thù ghét trước hết có ư nghĩa là từ chối ư thức hệ của họ.

"C̣n Thầy, Thầy bảo anh em: hăy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đăi anh em. Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, v́ Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính".

Đây là điều mới mẻ cao cả nhất của Tin Mừng. Cho đến bây giờ người ta đă cầu nguyện "chống lại" các kẻ thù của ḿnh (Thánh vịnh 17,13; 28,4; 69,23-29; v.v…) Giờ đây phải cầu nguyện cho họ, nghĩa là để cho họ được hoán cải. Nhưng hăy coi chừng, người ta không thể sống Tin Mừng, bằng cách chỉ ở lại trên b́nh diện con người. Làm điều mà. Thiên Chúa vừa đ̣i hỏi chúng ta là đă vượt quá những khả năng của con người. Nếu Đức Giêsu bảo chúng ta yêu mến kẻ thù, chúng ta bởi v́ Thiên Chúa là người đầu tiên yêu chúng ta như thế Phải đọc lại đoạn văn nổi tiếng của thánh Phaolô gởi tín hữu Rôm (5,7.8): "Hầu như không ai chết v́ người công chính, họa may có ai dám chết v́ một người lương thiện chăng. Thế mà Đức Kitô đă chết v́ chúng ta, ngay khi chúng ta c̣n là những người tội lỗi”. Khi chúng ta đứng trước một t́nh yêu thương mà về mặt con người, chúng ta khó sống hoặc không thể sống nổi th́ chúng ta không c̣n ở lại trên b́nh diện tâm lư, đạo đức và xă hội… mà phải đặt ḿnh trước măt ảnh chuộc tội: Lạy Chúa Giêsu con của Chúa Cha, Chúa đă muốn điều tốt lành cho những người muốn Chúa chịu điều ác... Chúa đă đau khổ và đă chết… T́nh yêu chúng kẻ thù chỉ có thể đến từ Thiên Chúa không ngừng thực hiện, ‘Người cho mặt trời của Người mọc lên trên cánh đồng của người vô thần bách hại đạo, cũng như trên khu vườn của các nữ tu Cát Minh’. Bạn có tự hỏi ḿnh phải làm ǵ để yêu thương người không yêu thương bạn không?

Thiên Chúa đă yêu bạn như thế nào? Bằng cách không ngừng tha thứ cho bạn. Đức Giêsu chỉ dám yêu cầu chúng ta sống t́nh yêu thương xem ra không thể có đối với kẻ thù bởi v́ Người đă sống nó trước tiên: "Lạy Cha, xin tha cho họ, v́ họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34).

“V́ nếu anh em yêu thương kẻ yêu ḿnh, th́ anh em nào có công chi? Ngay cả những người thu thuế cũng chẳng làm như thế sao? Nếu anh em chỉ chào hỏi anh em ḿnh thôi, th́ anh em có ǵ lạ thường đâu? Ngay cả người ngoại cũng chẳng làm như thế sao?

Người đă nói: chúng ta hăy trở thành muối và ánh của thế gian. V́ thế Người mời gọi chúng ta chấp nhận một cung cách hoàn toàn mới về mặt nhân loại là không thể có cắt đứt với mọi cung cách của những người khác. Để bắt chước Thiên Chúa; noi gương Người, chúng ta phải đi đến tận cùng t́nh yêu ấy vốn không đơn giản là một t́nh yêu có qua có lại: Tôi yêu thương bạn bởi v́ bạn yêu thương tôi, tôi chào bạn bởi v́ bạn chào tôi... Đức Giêsu nói, người ngoại cũng chẳng làm như thế. Phần Thiên Chúa; trước sự khước từ tuyệt đối không đáp lại t́nh yêu, Người vẫn duy tŕ quyết định tuyệt đối là yêu thương. Theo Đức Giêsu yêu không thể chỉ được giản lược vào b́nh diện t́nh cảm, sự lôi cuốn, cảm tính, quyến luyến. Đức Giêsu không chê trách t́nh yêu đó, mà chúng ta rất cần. Ai có thể sống mà không có sự dịu dàng âu yếm đó? Có điều, Đức Giêsu bảo chúng ta rằng không nên ở lại măi trong t́nh yêu đó.

Phải Đức Giêsu bảo chúng ta phải yêu thương kẻ thù của ḿnh. Và chúng ta có sẵn nghệ thuật xoa dịu yêu sách của Tin Mừng, chúng ta nói: ‘Tôi không có kẻ thù...’ Lúc đó, chúng ta phải chấp nhận ánh sáng sống sượng và mạnh mẽ mà Đức Giêsu soi chiếu trên cuộc đời con người đă mang dấu ấn của những xung đột không thể tránh khỏi: Thật ra mọi người không giống tôi đều xúc phạm và làm tôi tổn thương. "Cái làm cho người khác khác tôi", cáo giác tôi và nhắm đến việc loại bỏ tôi... ‘Tính t́nh ấy rất khác tính t́nh của tôi’ làm tôi bực dọc giết chết tôi. ‘Cái cách nói năng đó... cái cách cư xử đó...’ làm tôi phát cáu. Bạn đừng chờ đến ngày mai. Ngay trong giây phút này bạn. hăy ngừng ngay suy nghĩ của bạn.... và hăy làm điều Đức Giêsu bảo bạn: Hăy cầu nguyện, dù chỉ trên danh nghĩa cho những người làm bạn bực bội, những người làm bạn đau khổ, những người mà bạn không yêu hoặc những người không yêu bạn.

“Vậy anh em hăy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện”.

Yêu thương những người không yêu chúng ta... đó là noi gương Thiên Chúa. Hăy làm điều thiện hảo cho những ai làm hại chúng ta, đó là điều linh thánh. "Kitô hữu là ǵ? Đó không phải là đă đạt đến mục đích cao cả nhất tức t́nh yêu phổ quát, mà là cố gắng vươn lên t́nh yêu ấy. Đây không phải là một thứ đạo đức hiền từ nhu nhược dành cho những người có t́nh cảm bất lực. Chúng ta là những con cái của một Chúa Cha được "ôm ấp tṛng ḷng của Người" dù là kẻ xấu cũng như người tốt. Trên thập giá Đức Giêsu có quyền nói với chúng ta những yêu sách ấy. Người là Đấng bị người ta vả vào má... bị người ta lột áo trong, áo ngoài... bị người ta đem ra xét xử trong một vụ kiện bất công... bị người ta đem ra xét xử trong một vụ kiện bất công... bị người ta lôi đi hai dặm trên con đường lên núi Can-va-ri-ô. Người là "Đấng bị đóng đinh mà không có ḷng thù hận".

 
 

10. Chú giải của Fiches Dominicales

“ANH EM HĂY NÊN HOÀN THIỆN NHƯ CHA ANH EM TRÊN TRỜI LÀ ĐẤNG HOÀN THIỆN”

VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Những áp dụng cụ thể của luật mới…

Khi tuyên bố rằng Ngài "đến không phải để hủy bỏ Lề luật và các Tiên Tri, nhưng là để kiện toàn”. Trong Bài giảng trên núi, Đức Giêsu mạc khải "sự công chính" mới của Nước Trời hệ tại điều ǵ: đó không phải là giữ Luật cách h́nh thức, nhưng là "tự điều chỉnh" theo ư Chúa Cha như Ngài, là sống thông hiệp trong t́nh yêu và tự do của Người Con như Ngài. Rồi nhờ vào 5 minh họa, Ngài cụ thể hóa "sự công chính” mới này, và cho biết rằng để thực hiện toàn bộ Lề luật người tín hữu phải đầu tư toàn bộ cuộc sống của ḿnh. Cả năm minh họa đều bắt đầu bằng một dạng thức duy nhắt biểu lộ một quyền lực phi thường: ‘Anh em đă nghe người xưa được dạy rằng... C̣n Thầy, Thầy bảo cho anh em biết’. Ba minh họa đầu tiên trong Phúc âm chúa nhật vừa qua, hai minh họa cuối cùng trong Phúc âm hôm nay.

Minh họa thứ tư nhân nhượng mối tương quan và Để tránh những sự trá thù thái quá ngoài tầm kiểm soát luật báo thù (loi du talion) dự kiến kẻ gây hấn sẽ bị đối xử tương xứng với điều thiệt hại đă gây ra cho nạn nhân "Mắt đền mắt" - nhưng không phải là đền hai mắt, "răng đền răng" nhưng không phải là cả hàm (xem Lêvi) Luật này đă là một tiến bộ thực sự trong việc trấn áp tội phạm.

Phần Đức Giêsu, ngài chủ trương một thái độ rất cá biệt, tương phản hoàn toàn với thái độ b́nh thường: “Đừng chống cự với người ác". Ngài đ̣i hỏi các môn đệ phải bẽ găy ṿng xích bạo lực, dù hợp pháp, và được báo thù.

Ba ví dụ sau đều ở ngôi hai số ít:

+ Ví dụ thứ nhất về "cái tát": "Nếu ai vả má bên phải con, hăy giơ cả má bên trái ra nữa.” Dĩ nhiên không thể hiểu lệnh mâu thuẫn này theo nghĩa đen. Chính Đức Giêsu cũng đă không giơ má khác cho tên đầy tớ tát tai. Ngài hỏi hắn: "Nếu tôi nói sai, hăy cho thấy sai ở chỗ nào. C̣n nếu tôi nói đúng, sao anh lại tát tôi?" (Gioan 18,23). Như vậy, đứng trước kẻ gây hấn, người theo Chúa để có một hành vi vừa thách thức vừa làm cho kẻ địch hết chống trả.

+ Ví dụ thứ hai về người môn đệ bị người khác có ư định đưa ra ṭa và người đó muốn lấy áo trong (tưnique) người môn đệ làm vật thế chấp, nghĩa là áo lót. Đức Giêsu chủ trương: "Hăy để cho nó lấy cả áo ngoài nữa". Trong khi đó, theo Luật, áo ngoài và áo trong là của không thể sang nhượng được của người nghèo; chiếm hữu chúng là xâm phạm đến chính Thiên Chúa (coi Xh 22, 25-26). Khi để bị trần trụi đến cho đi cả áo theo gương Thầy ḿnh, các Kitô hữu biết rằng sự khó nghèo như vậy, họ là những kẻ chiến thắng, bởi v́ họ sẽ được ḷng thương xót của Thiên Chúa bao bọc.

+ Ví dụ sau cùng là ví dụ về sự "trưng tập", thường được quân đội và các viên chức chánh quyền Rôma dùng để làm việc công ích (một h́nh thức lao dịch thời đó). Đức Giêsu c̣n nói thêm. "nếu có người bắt anh đi một dặm, th́ hăy đi với người ấy hai dặm". Ngoài bài giảng trên núi, thánh sử Mátthêu chỉ dùng động từ "trưng tập" một lần khác khi quân lính trưng tập Sinon thành Xyrênê, một dân ngoại, lúc đó tượng trưng cho tất cả các thế hệ môn đệ chấp nhận thập giá Đức Kitô.

+ Minh họa thứ năm và cuối cùng nói đến yêu thương kẻ thù. Sách Lêvi viết: "Ngươi sẽ yêu tha nhân như chính ḿnh" (19,18). Như vậy điều này mời gọi con cái Israel sống với nhau bằng t́nh yêu huynh đệ loại bỏ mọi hận thù oán ghét. Nhưng các Thầy rabbi thuộc những nhóm khác nhau tranh luận măi về quan niệm tha nhân và nhiều người đă cho nó một nghĩa hạn hẹp: tha nhân là người mà ta có quan hệ tốt đẹp; phân biệt với kẻ thù. Từ đó mà có câu Phúc âm: ‘Anh sẽ ghét kẻ thù’ tuy câu này không có trong Luật, nhưng biểu lộ khá đúng ư nghĩ của rất nhiều người. Ngược lại với t́nh yêu có tính cách chọn lựa đối tượng này, Đức Giêsu nói đến một t́nh yêu phổ quát vượt mọi biên giới, đến cả kẻ thù và người bách hại, theo Ngài, đ̣i hỏi này đặt nền tảng trên cách đối xử của chính Thiên Chúa với mọi người, "Kẻ xấu cũng như kẻ tốt", người công chính cũng như kẻ bất chính".

2. Hệ tại theo gương Chúa Cha:

Câu 48 kết luận toàn thể phần này: “Vậy anh em hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng thiện”.

Như vậy, theo gương Cha và Con của ngài Đức Giêsu, đó là nền tảng và mục đích của Luật mới này. Là người môn đệ của Đức Giêsu, đến lượt chúng ta được mời gọi sống như Con, với Ngài và trong Ngài. Cái mới triệt để của Bài giảng trên núi chính là vậy, chứ không phải trong một giới răn đặc biệt nào.

Cl. Tassin chú giải: "Tính từ “hoàn thiện” tóm tắt ư tưởng về sự công chính hơn (các kư lục và biệt phái) ở câu 20, và sự hoàn thiện này chính là noi theo hành động của Thiên Chúa. Đạo Do Thái đă hiểu "những công việc bác ái xót thương" như những hành vi mà chính Thiên Chúa đă làm gương. Và Hội đường đă chú giải sách Lêvi 22, 28 bằng ngạn ngữ sau: “Như Ta thương xót trên trời thế nào, dưới đất các con cũng hăy thương xót như vậy" Điều này được Luca tŕnh bày bằng những từ như sau: "Hăy xót thương như Cha các con là Đấng xót thương" (6,36). nếu Mátthêu thích tĩnh từ "hoàn thiện" hơn, là v́ theo Ngài, ḷng thương xót đạt tới mức yêu thương kẻ thù chính là hoàn thiện được Thiên Chúa trông đợi nơi những người của Ngài. Những ai muốn rập theo khuôn mẫu Chúa th́ cậy vào Đức Giêsu. Con chí thiết của Thiên Chúa, ngài trao cho các ch́a khóa bí mật này". ("Phúc âm Matthêu”, Centurion, 1991, tr. 69-70).

BÀI ĐỌC THÊM.

1. “Bẻ găy ṿng vây bạo lực”: (Đức cha L. Daloz, trong "Nước Trời đến gần", Desche de Brouwer, tr. 58-60).

Đức Giêsu lấy lại qui định của Luật: anh em đă nghe dạy rằng: Mắt đền mắt, răng đền răng... đối với chúng ta điều đó dường như biểu lộ một sự trả thù nghiệt ngă, nhưng trong thực tế, nó lại điều ḥa bạo lực và giới hạn ham muốn. Trong một xă hội mà mỗi người thường là quan ṭa cho chính ḿnh, đó là một loại luật "tương xứng" trong sự đền trả lại sự xúc phạm, người ta có thể trả thù tới mức độ, không được vượt quá. Trong các quốc gia của chúng ta ngày nay, mỗi người không thể làm quan toà cho chính ḿnh. Chúng ta đă có nhũng cơ quan cảnh sát và tư pháp là những cơ quan duy nhất có quyền bất và trừng phạt những kẻ phạm tội ác. Các h́nh phạt được xác định rơ bởi một bộ luật. Trong bộ luật này, người ta t́m thấy lại nguyên tắc tương xứng. Như vậy phạm nhân thoát khỏi ham muốn trả thù cá nhâ, người ta lưu ư đến hoàn cảnh, không chỉ t́m cách trấn áp và trừng phạt, mà c̣n nhằm t́m cách chữa trị và nâng đỡ. Dĩ nhiên, chúng ta ai cũng biết rằng hệ thống tư pháp có những điểm yếu, những tŕ tre, những sai lầm hay những "vết chàm". Nhưng dẫu sao nó vẫn là một đảm bảo về sự tiến bộ của nhân loại, chứ trong khung cảnh xă hội và pháp lư này mà hôm nay chúng ta đón nhận Lời Đức Giêsu. Và ngay cả ở trong khung cảnh này, Ngài vẫn kiện toàn Luật bằng cách làm cho nó đi sâu vào tâm hồn con người. Có khi ư muốn trả thù không c̣n biểu lộ qua hành động nữa nhưng vẫn c̣n bị khích động và khơi gợi lên trong công luận qua các hành vi bạo lực và các vụ kiện. Không dễ ǵ chống lại được t́nh cảm tập thể, nhất là khi nó được chia sẻ bởi một đám đông những khán giả trong một thế giới mà tất cả mọi sự đều bị các phương tiện thông tin đại chúng truyền đi. Đàng khác chúng ta dễ ham muốn kêu gọi trả thù và trừng phạt khi chính chúng ta không phải chịu trách nhiệm. Trong xứ sở chúng ta, ngành tư pháp có sứ mạng xă hội vừa bảo vệ, giáo dục vừa làm gương; nhưng cũng vừa sửa đổi, chữa trị vừa giúp tái hội nhập. Lời Đức Giêsu dạy đừng chống cự người ác không cản trở cũng không g̣ bó sứ mạng này Nhưng c̣n có một cái ǵ khác hơn là những biện pháp cần thiết để bảo đảm an an ninh xă hội, một cái ǵ khác hơn là sự hận thù, ghen ghét, báo án. Đức Giêsu kêu gọi đến cái tốt nhất nơi con người, đôi khi đến cả sự anh dũng để có được một con út thứ tha; chúng tôi có thể làm chứng các Kitô hữu sự tha thứ này cách công khai! Đức Giêsu không cấm chúng ta đ̣i hỏi những quyền lợi chính đáng. Khi bị viên vệ binh tát tai, chính Ngài đă đ̣i anh ta giải thích lư do tại sao anh ta hành động như vậy: nếu tôi nói sai, hăy cho thấy sai ở chỗ nào; nếu tôi nói đúng, th́ sao lại tát tôi”. (Ga 18, 23). Nhưng nơi vườn Cây dầu Ngài cho phép Phêrô rút kiếm bảo vệ ḿnh và cũng v́ Chúa Cha sai các đạo binh thiên thần đến che chở Ngài để ḿnh bị trấn lột, tát tai, đánh đập và đội triều thiên bằng mũ gai. Ngài không hài ḷng với lời kêu gọi đừng lấy oán báo oán, lấy lành thắng dữ, lấy t́nh yêu thắng hận thù. Ngài c̣n tỏ ra chính ḿnh là con đường thực hiện lời tiên tri về người đầy tớ đau khổ đă không quay lưng, quay mặt tránh những kẻ ra sức làm khổ ḿnh. Ở bất cứ nơi đâu chúng ta sinh sống và theo cách thế của ḿnh, Ngài kêu mời chúng ta đừng đi vào chu kỳ bạo lực, nhưng hăy có đủ sức mạnh tinh thần để đặt một Lôgíc mới trong mối tương quan giữa con người với nhau.

2. “Thứ tha như Thiên Chúa tha thứ cho ta”

“Nếu thực sự thứ tha của Thiên Chúa làm tôi hiện hữu, nếu Ngài ban cho tôi t́nh yêu Thiên Chúa và khả năng yêu mến, làm sao tôi lại không thể hoán chuyển t́nh yêu thành thứ tha theo chừng mực, mà tôi có thể làm được đối với những ai đă phản bội, chối bỏ và làm tổn thương tôi? Hoặc tôi không là Kitô hữu và rơi vào lối sống theo câu ngạn ngữ cổ: “mắt đền mắt, răng đền răng”, hoặc tôi muốn sống như là một Kitô hữu, th́ lập tức tôi phải nhớ điều loan báo cốt yếu nhất của đức tin: tất cả anh em, đều là những tội nhân đă được thứ tha, tất cả anh em đều là nhũng đứa con của ḷng thương xót. Nếu anh em muốn là những Kitô thực sự sống đạo, điều thực hiện đầu tiên, cơ bản nhất, chính là thực hành điều Thiên Chúa đă sống đối với anh em, điều mà Đúc Giêsu đă làm vào lúc Ngài sắp qua đời. Đó là thứ tha. Đó là cách thế duy nhất em làm chứng cho mọi người sự tha thứ ta đă lănh nhận và nó được trao ban cho tất cả mọi người. Dĩ nhiên sự tha thứ như vậy không thể là sự quá ngây thơ, càng không thể là sự cổ vơ cho sự dữ. Để thực sự là tha thứ, nó chỉ có thể phát xuất từ một lương tâm không có ảo tưởng nào về những ác tâm, ô nhục, tội ác của thế gian nào và của lịch sử con người. Tuy nhiên, vượt lên trên không bất hạnh mà người Kitô hữu dấn thân đấu tranh nhân danh công lư, họ c̣n làm chứng về niềm hy vọng Thiên Chúa đặt sẵn nơi mỗi người, dù là những kẻ phạm tội, nhơ nhớp nhất Như vậy, Thiên Chúa mong muốn tất cả hoán đổi ác tâm và hận thù thành t́nh yêu. Điều này thật đúng, v́ chúng ta chỉ là Kitô hữu do niềm tin và hy vọng như vậy, và chúng ta đang cố gắng hết sức ḿnh sống niềm tin là hy vọng đó nhờ ơn Chúa”

3. “Yêu thương mọi người v́ Thiên Chúa yêu thương họ” (Martin-Luther King, trong “Chỉ có một cuộc cách mạng”. Casterman, 1968, tr. 108-109)

Trong Tân ước, chúng ta thấy từ Agapè được dùng để chỉ t́nh yêu. Đó chính là t́nh yêu dồi dào không đ̣i một đáp trả nào hết. Các nhà thần học nói đó là t́nh yêu hơn Chúa được thực hiện nơi tâm hồn con người. Khi vươn đến một t́nh yêu như vậy, chúng ta sẽ yêu hết mọi người, không phải v́ chúng ta có thiện cảm với họ, không phải v́ chúng ta đánh giá cao lối sống của chúng ta yêu thương họ v́ Thiên Chúa yêu thương họ, chính là ư nghĩa Lời Đức Giêsu Anh em hăy yêu thương kẻ thù. Phần tôi, tôi sung sướng v́ Ngài đă không nói: “Anh em hăy có thiện cảm với kẻ thù của anh em” bởi v́ có những người mà tôi khó có thiện cảm nổi, thiện cảm là một xúc cảm. Tôi không thể có xúc cảm với người ném bom vào gia đ́nh tôi. Tôi không thể có thiện cảm với người bóc lột tôi. Tôi không thể có thiện cảm với người đè bẹp tôi dưới sự bất công. Không, không thể có thiện cảm nào đối với người đêm ngày đe dọa giết tôi. Nhưng Đúc Giêsu nhắc tôi rằng t́nh yêu c̣n lớn hơn thiện cảm, rằng t́nh yêu là thiện chí biết cảm thông, có sáng tạo, cứu độ đối với hết mọi người”.

 
 

11. Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt

YÊU THA NHÂN VÔ BỜ BẾN

CÂU HỎI GỢI Ư

1. Các yêu sách của Chúa Giê-su có thể thực hiện được không?

a. Chúng là những chỉ thị, chỉ dẫn hay điều luật?

b. Chúa Giêsu ngỏ lời với ai? Với một nhóm ưu tú? Với tất cả môn đồ? Thánh Bonaventura phân biệt hai hạng người: hạng của điều luật, hạng của lời khuyên, và cho rằng ở đây Chúa Giêsu nhắm đến hạng thứ hai. Phải nghĩ sao về ư kiến này? Các "lời khuyên" thuộc phần nào trong Tin Mừng?

c. Vài tác giả khác cho rằng nghiêm chỉnh mà nói th́ các lời Chúa Giêsu không thể nào thực hiện được. Từ đó họ bảo có hai nền luân lư, một có tính cách hăo huyền, do Chúa Giêsu tưởng tượng ra, nhằm thúc đẩy ta ăn năn hoán cải và nhận biết ḿnh là tội nhận; một có tính cách thực tế, tầm thường, công dụng.

Hăy rút ra phần sự thật trong lối giải thích thứ nhất (cánh chung học): Các yêu sách của Chúa Kitô tự chúng có thể thực hiện được không? Ai làm cho chúng có thể thực hiện được? Nếu không th́ Diễn từ chẳng trở nên một khảo luận luân lư sao?

2. Tầm mức và giới hạn của Diễn từ trên núi:

a. Phải chăng đó là một chương tŕnh sống xă hội (Tolstoi)? Một chương tŕnh đào tạo Kitô hữu?

b. Phải chăng đó là toàn bộ hiến chương Kitô giáo? Thiếu điều ǵ chủ yếu trong Diễn từ này không, hoặc trong các yêu sách, hoặc trong lời mặc khải mầu nhiệm Nước Trời?

c. Hăy t́m tương quan giữa luật Chúa Kitô với luật tự nhiên: mối tương quan giữa luật Môisen và luật Chúa Giêsu phải chăng không tương tự với tương quan bản tính-ân sủng và với tương quan thế trần Kitô giáo?

3. T́m ư nghĩa của câu: "Hăy nên trọn lành như..." (5,48; x. Lv 19, 2; Lc 6, 36). Câu đó phải chăng không nói lên một mệnh lệnh bất khả thực hiện? Giữa sự "trọn lành" và "đức công chính dư dật" (5, 20) có tương quan ǵ?

***

1. Người ta đă dày công t́m hiểu giáo huấn luân lư Do thái để xem các lời khiển trách của Chúa Giêsu, ví dụ về luật báo thù, có đúng hay không, và để xem tính cách mới mẻ của các yêu sách "mới" của Người hệ tại ở chỗ nào. Kết quả của những cuộc nghiên cứu này không bất lợi mấy cho Do thái giáo. Đối chiếu với mọi giới luật luân lư được Chúa Giêsu phát biểu một cách như khiêu khích, ta có thể trích dẫn nhiều câu tuyên bố của các giáo sĩ cũng nói ít nhiều một chuyện như thế, cũng đạt tới một tầm mức luân lư cao như thế, trên một vài điểm hoặc ít ra cũng rất tương hợp trên nhiều điểm khác. Phải thành thật mà công nhận điều đó. Tuy nhiên việc so sánh ấy làm lệch lạc quan điểm. V́ một trong những đặc điểm của truyền thống trường phái Do thái là thu gộp lại các câu nói khác nhau của các giáo sĩ, đến nỗi có nhiều ư kiến có giá trị luân lư cao đă được đặt bên cạnh các ư kiến khác từng bị Chúa Giêsu tấn công. Thành thử ta phải công nhận Tân ước như là nguồn mạch của mọi quan niệm thông thường ảnh hưởng trên tâm thức nhân gian thời bấy giờ. Sau cùng và đặc biệt, điều quan trọng đối với Chúa Giêsu, đó là một sứ điệp tôn giáo và luân lư tổng hợp, mà t́m cách mới mẻ đă được tỏ bày cùng với giờ của lịch sử cứu rỗi.

2. Trong tất cả các phản đề Chúa Giêsu nêu lên, hiện ra một yêu sách duy nhất, dứt khoát. Điều thiện cần làtn th́ phải làm cho trọn vẹn. Ai chỉ làm một phần, với sự hạn chế, cốt cho xong mệnh lệnh bên ngoài, là không làm ǵ cả. Và để người ta hoàn toàn chú ư tới yêu sách đó, cái yêu sách ăn sâu đến tận tâm hồn, Chúa Giêsu dùng một thể văn đặc biệt: thể văn phóng đại. Câu tuyên bố về việc làm gương xấu và về yêu sách chặt bớt các phần thân thể là một trường hợp rơ ràng. Và ta cũng phải hiểu theo một nghĩa tương tự phán quyết của Chúa Giêsu về sự giận hờn và nhục mạ. Tuy nhiên, đừng lạm dụng h́nh thức giảng dạy b́nh dân thông dụng ở phương Đông này, để làm yếu đi các đ̣i hỏi khách quan mà nó chứa đựng. V́ quả thực Chúa Giêsu buộc phải triệt để xa lánh ngay cả dịp tội, chấp hành tốt t́nh huynh đệ không chỉ bên ngoài mà c̣n từ ư tưởng con tim, và từ chối mọi quyền trả thù chính đáng (5, 38- 42).

3. Nố sau cùng này đặc biệt gây ra nhiều vấn đề khó giải quyết. Phải chăng như thế là Chúa Giêsu đă không phá bỏ trật tự pháp lư bên ngoài cần thiết cho đời sống xă hội? Trật tự đó há chẳng bắt nguồn từ Thiên Chúa sao? Và đặc biệt riêng về đoạn văn này, phải chăng nó không tạo nén một nền tảng Kinh Thánh vững chắc cho các luồng tư tưởng chủ ḥa hiện thời, những luồng tư tưởng nghiêm cấm mọi h́nh thức tham chiến. Rồi người bị thiệt tḥi cách bất công có thể nại đến toà án không.. Đó là những câu hỏi hóc búa khó trả lời trong vài ḍng chữ. Chúng ta hăy tạm đưa ra một vài nhận xét tổng quát ít nhất như những cái mốc đầu tiên của một câu trả lời.

Tất cả các quy định của luật Cựu ước mà Chúa Giêsu trích dẫn, dù chưa thực sự hoàn hảo, cũng đă nói lên một tiến bộ luân lư không thể chối căi so với luật rừng hay t́nh trạng man rợ vẫn có khuynh hướng ưu thắng trong đời sống xă hội thời bấy giờ. Tất cả các quy định đó đều nhằm mục đích làm cho đời sống xă hội trở nên công b́nh và huynh đệ hơn. Thế mà, sở dĩ Chúa Giêsu đến kiện toàn Lề luật Môisen, chính là để kiến lập thêm công b́nh và huynh đệ giữa con người. Dĩ nhiên, việc kiện toàn luật Môisen chỉ có thể được thực hiện trong chiều hướng triệt để hóa các yêu sách tuyệt hảo nhất của nó. Thành ra mọi lời giải thích học thuyết luân lư của Chúa Giêsu trong Diễn từ trên núi đều phải lưu ư đến bối cảnh tổng quát đó: lối giải thích nào khuyến khích các lạm dụng và có khuynh hướng biến xă hội thành một đàn cừu phó mặc cho lũ sói cắn xé, th́ không phù hợp với bồi cảnh này. V́ thế, thái độ bất kháng cự tuyệt đối trước mọi h́nh thức bạo lực đang hoành hành trong thế giới ngày nay, chỉ tổ khuyến khích việc bóc lột kẻ cô thân yếu đuối, tước đoạt các nhân quyền và làm phương hại phẩm giá con người cách trầm trọng.

Thứ đến, có thể tự hỏi phải chăng Chúa Giêsu chỉ muốn đứng trên b́nh diện pháp định hoàn toàn. Có nhiều bằng chứng cho thấy phải hiểu ngược lại. Thực vậy, các bản văn pháp luật thường mang tính cách điều độ, dùng từ ngữ chính xác, không có những h́nh ảnh thái quá hay kiểu nói khoa trương, đầy dấy nhiều điều khoản tiên liệu các luật trừ v.v... Thế mà văn thể Chúa Giêsu dùng trong Diễn từ lại hoàn toàn khác biệt. Người ưa sử dụng kiểu nói đại ngôn. Hăy lấy một trường hợp điển h́nh: lời khuyên bảo ch́a cả hai má cho kẻ vả mặt (5, 39). Hiển nhiên đây không phải là một nguyên tắc về phản lệ chính thức, song chỉ là một ví dụ cố ư phóng đại ra; cũng vậy khi nói phải móc mắt hay chặt bàn tay. V́ trong thực tế, hành động như thế chẳng có hiệu quả ǵ. Cũng như con mắt bị móc hay bàn tay chặt ĺa không thể bảo vệ người tín hữu khỏi bị một gương xấu khác, th́ cũng vậy, cái vả má thứ hai chẳng cản ngăn được cái tát thứ ba, hay làm cho người hung ác trở nên thiện cảm. Hơn nữa, chính Chúa Giêsu sẽ đưa ra một lối giải thích hay nhất về câu nói của Người: đó là khi bị tên đầy tớ vả mặt, Người đă chẳng đưa má kia, song nghiêm nghị hỏi nó: "Nếu Ta đă nói không phải, th́ hăy làm chứng không phải chỗ nào: c̣n nếu là phải, sao lại đánh Ta?" (Ga 18, 23). Hăy phân biệt rơ: một đàng là mệnh lệnh, có giá trị đối với mọi người và cho mọi hoàn cảnh, đàng kia là một ví dụ cố ư phóng đại mà chẳng xét đến các điều kiện cụ thể hằng biến đổi luôn. Chúa Giêsu công bố một lư tưởng, chứ không ban hành một đạo luật.

Lại nữa, giả thiết rằng Giáo Hội và xă hội phải tuân theo một quá tŕnh tiến hóa có tính cách năng động, và quá tŕnh này, ít ra trong các nguyên tắc, nhằm tinh luyện ư thức luân lư dưới tác động của Chúa Thánh Thần (như đă xảy ra trong suốt lịch sử Israel), th́ có thể Chúa Giêsu đă biết đến một quá tŕnh như vậy và muốn tŕnh bày, trong Diễn từ trên núi, các nguyên tắc năng động sẽ hướng quá tŕnh đó tiến về việc thực hiện ngày càng hoàn hảo một xă hội công bằng và huynh đệ. Trong viễn ảnh ấy, các lời khuyên bảo có tính cách tuyệt đối của Người có lẽ không nhằm đưa ra các mệnh lệnh cụ thể phải thực hiện tức khắc, nhưng đưa ra một đường hướng phải theo để dần dà, với thời gian, sự thiện lướt thắng sự ác.

Hiển nhiên, mọi suy luận trên đây chẳng làm mất đi tính cách khẩn trương của một nỗ lực vô điều kiện nhằm thực hiện các yêu sách luân lư của Chúa Giêsu. V́ Người cũng muốn đưa ra, không phải một bộ luật mới, song là những đường hướng mới và đ̣i buộc một thái độ cụ thể. Điều đó hiện ra rơ ràng qua cung giọng sai khiến của các phản đề, và được xác định bởi dụ ngôn cuối cùng về việc xây nhà, trong ấy Chúa Giêsu đối chiếu người khôn biết nghe lời Người và đem ra thực hành, với kẻ dại chỉ nghe qua mà thôi. Tuy nhiên, trong cụ thể, việc đem ra thực hành đó cũng bị chi phối bởi nhiều hoàn cảnh. Điều cốt yếu là biết cảm hứng theo lư tường ḿnh nhận ra trong Diễn từ này và chân thành phấn đấu đưa lư tưởng đó vào trong một thế giới mà, mặc dầu bị nhiều thất bại thê thảm, cũng biết cách mù mờ rằng nó phải chọn hoặc luân lư Tin Mừng, hoặc là bị hủy diệt tiêu tan.

CHÚ GIẢI CHI TIẾT

"Mắt thế mắt, răng đền răng": Nguyên tắc báo thù theo đó phạm nhân phải bị bồi thường tương xứng với thiệt hại đă gây nên, vẫn được áp dụng chung chung và từ lâu, trong thế giới văn minh. Nguyên tắc đă xuất hiện trong bộ luật Hammourai 2000 năm trước Chúa Giêsu. Ở đây nó quy chiếu về Xh 21, 24 (x. Đnl 19, 21; Lv 24, 20). Trong bối cảnh Cựu ước, nó nhấn mạnh đến tính cách nghiêm khắc cần thiết của h́nh phạt, song cũng đánh dấu một bước tiến quan trọng so với chế độ báo thù cá nhân hỗn loạn (xem bài ca man rợ của Lamek trong St 4, 24 chẳng hạn).

"Đừng cự lại người ác": Huấn thị này không nói với các quan ṭa là những kẻ phải t́m cho ra phương cách mới để áp dụng luật lệ trường hợp các truyền thống giáo sĩ Do thái), nhưng trái lại ngỏ lời với người bị tổn thương để bảo họ biết phải xử trí ra sao cho hợp với tư cách môn đồ Chúa Kitô. Chúa Giêsu và các Kitô hữu đầu tiên không muốn hủy bỏ pháp chế hiện hành thời đó (như thánh Phaolô, với tư cách công dân Rôma, đă kháng cáo lên Hoàng đế để xin minh oan: Cv 25,11); song các ngài đă đưa vào xă hội một thái độ nhân bản mới làm phát hiện tính cách sơ thiển, hạn chế trong thời gian của các bộ h́nh luật chính thức hiện hành; các bộ luật này không bị hủy bỏ nhưng đă trở nên lỗi thời v́ thái độ cụ thể của các Kitô hữu, là thái độ dù cảm hứng theo một lư tưởng, vẫn để ư tới các hoàn cảnh con người, không gian và thời gian.

“Đi một dặm": Chắc hẳn ví dụ này ám chỉ đến một khổ dịch; binh sĩ và viên chức này xưa có thể buộc một bộ hành nào đó vác một gánh nặng (x. trường hợp ông Simon thành Xyrênê vác thập giá) hoặc đi theo họ để làm con tin hay người dẫn đường.

"Ai xin... ai muốn vay": Lời khuyên gồm hai xác ngôn song song- hầu như đồng nghĩa: việc cho vay mượn thường tương đương với việc bố thí. "Cho đồng loại vay là làm việc từ thiện", Hc 29, 1 khẳng định thế. Giữa người Do thái với nhau, cho vay không được ăn lời (Xh 22, 24; Lv 25, 35- 37; Đnl 15, 7- 11; 23, 20-21 tất cả các bản văn này đều quy chiếu về các "anh em” Do thái) và đến hưu niên (année sabbatique) th́ mọi nợ nần và vay mượn đều được tha ít nhất trên lư thuyết (Đnl 15). Làm thế là v́ Israel muốn măi măi là một dân tộc sống t́nh anh em. Ở đây h́nh như Chúa Giêsu muốn nới rộng luật ấy theo nghĩa là người yêu cầu hăy cho vay bất cứ ai xin vay, mà đừng để ư đến chủng tộc hay tôn giáo của họ. Gia đ́nh Israel phải mở rộng cửa nhà ḿnh cho tất cả mọi người.

“Hăy ghét địch thù": Trong lúc mấy phản đề trên kia quy chiếu về các khoản luật đích xác của Cựu ước th́ ớ đây lại khác hẳn. Quả vậy, ta chẳng t́m đâu ra trong Cựu ước mệnh lệnh minh nhiên phải ghét địch thù. Có lẽ lời huấn thị chỉ muốn chống lại tư tưởng khá phổ biến trong Do thái giáo suy đồi là: tất cả những ai không thuộc thành phần cộng đoàn quốc gia và tôn giáo đều là thù địch. Đặc biệt trong các bản văn Qumrân, ta thấy tỏa ra ḷng khinh miệt ghê gớm đối với "con cái tối tăm"; các Thánh vịnh của Salomon cũng cho nhiều ví dụ tương tự. Thành thử có lẽ trong bối cảnh này, thù địch không phải là đối phương cá nhân bên trong cộng đoàn tôn giáo, cũng chẳng phải là thù địch của quốc gia theo nghĩa chính trị hay quân sự, nhưng là kẻ bách hại đức tin, kẻ thù của cộng đoàn thiên sai do các Kitô hữu đầu tiên thành lập. Trước đó, trong bản 70, chữ echthros đă thường chỉ các thù địch của dân Thiên Chúa (Tv 31, 7; 139, 21 v.v...); lời ám chỉ đến các người bắt bớ trong câu tiếp theo củng cố giả thiết vừa nói; sau cùng các thánh thư cũng cho thấy chữ này thường được dùng theo nghĩa ở thế kỷ thứ nhất (2 Tx 3, 15; Rm 5, 10; Cl 1, 21; Gc 4, 4). T́nh yêu nói đây không phải chỉ là chẳng giận hờn, chẳng báo oán nhưng, như trong Cựu ước và Tân ước, luôn luôn là hành động cụ thể, là hiệp thông sống động biểu lộ qua các cừ chỉ rơ ràng (Vd. Lời chào hỏi nơi c.47). Cầu nguyện cho các người bắt bớ không phải là biểu thức duy nhất của t́nh yêu đó, song chỉ là một trong các cách biểu lộ t́nh yêu; chữ khi (và) chẳng có nghĩa giải thích nhưng có nghĩa: và đặc biệt. trong khi làm các cử chỉ yêu thương này, có thể ta vẫn mang tâm trạng oán hận hay ác cảm tự nhiên đối với kẻ thù hiện gây cho ta đau khổ. Trong một trường hợp như vậy, dù cố gắng thế nào, cũng khó mà chế ngự các phản ứng nhạy cảm được. Nhưng Chúa Giêsu không đứng trên b́nh diện tâm lư, và chẳng muốn phân biệt giữa điều cảm thấy và điều ưng thuận như các nhà luân lư học thường làm một cách chính đáng. Người đứng trên b́nh diện hành lang cụ thể (vd: cầu nguyện, c.44; chào hỏi, c.47), nơi phê phán sau cùng sự chọn lựa sâu xa của con người vượt trên mọi xao động của cảm giác.

"Hăy nên trọn lành, như Cha các ngươi trên trời là Đấng trọn lành": H́nh như lời tuyên bố này không chỉ kết thúc đoạn văn về ḷng yêu thương thù địch, mà c̣n kết thúc cả đoạn gồm cc. 17-48 về việc chu tất Lề luật theo quan niệm của Chúa Giêsu. "Câu nói" (logion) rơ ràng cảm hứng từ Lv 19, 2: “Hăy nên thánh, v́ Ta là Đấng thánh" và từ Đnl 18, 3: "Ngươi hăy nên trọn. lành trước mặt Chúa là Thiên Chúa của ngươi". Có nhiều cách giải thích nó. Nhưng h́nh như phải loại bỏ ư tưởng về một sự tương đồng kiểu hữu thể học (xa lạ với tư tưởng Hy bá) hay kiểu luân lư học theo nghĩa tuyệt đối không thể phạm tội là một điều bát khả đối với tạo vật, trừ phi được đặc ân ngoại thường). Thật ra, chủ đề "trọn lành", trong các bản văn Kinh Thánh, diễn tả ư tưởng dấn thân hoàn toàn, thuộc trọn về một ḿnh Thiên Chúa. Đó cũng là ư nghĩa của teleios (trọn lành) được một dùng thêm một lần nữa, trong câu chuyện Chúa Giêsu đề nghị người thanh niên giàu có bán của cải anh ta có và đi theo Người nếu anh muốn nên trọn lành (19, 21). Hạn từ này xem ra liên hệ với hạn từ công chính": người trọn lành là người thực thi tṛn đầy Lề luật đă được Chúa Kitô tái giải thích.

KẾT LUẬN

Dù ta có thể nghĩ rằng các thành ngữ Chúa Giêsu dùng trong đoạn văn này có tính cách nghịch lư, th́ sứ điệp căn bản vẫn rành rành: môn đồ của Chúa Giêsu được mời gọi hăy yêu thương tất cả mọi người không trừ ai và yêu thương một cách cụ thể, chứ đừng để cho tà ư hay hận thù lấn át t́nh yêu. Như thế, họ mới tỏ ra ḿnh là con cái đích thật của Cha trên trời.

Ư HƯƠNG BÀI GIẢNG

1. Trong một thế giới bị chi phối bởi luật "do út des" (ḥn đất ném đi, ḥn ch́ ném lại), giáo huấn của Chúa Giêsu thật mở ra nhiều viễn tượng mênh mông. Nó giúp ta tránh khỏi cái ṿng quỷ quái của toan tính ích kỷ, của hành động vụ lợi, của thù hận đáp trả hận thù. Chỉ t́nh yêu mới có thể phát sinh t́nh yêu. Chỉ các Kitô hữu bị thu húat bởi sức mạnh chinh phục của sự dịu dàng nơi Chúa Kitô, mới có thể tạo nên trong thế giới một cuộc cách mạng ôn ḥa có sức đánh đổ việc bóc lột người hèn yếu và bạo động quá đáng.

2. Các bản văn này buộc ta tự vấn về mức độ cởi mở của ta đối với kẻ khác. Phải chăng ta chỉ phục vụ, yêu thương cha mẹ và bằng hữu? Khi gặp dịp, ta có biết chấp nhận phiền toái để giúp đỡ những người xa lạ không?

3. Lư tưởng trọn lành của Kitô hữu chẳng phải là lư tưởng tránh phạm tội của Biệt phái, tiết độ của Khắc kỷ, hay vô cảm của Phât giáo. Kitô hữu không nh́n đến bản thân ḿnh nhưng nh́n đến Chúa Cha, không t́m cách trau dồi các nhân đức như người ta vun trồng cây cối hay t́m cách tạc nên bức tượng thiêng liêng của ḿnh, nhưng chỉ cố gắng bắt chước Chúa Cha, bằng cách gieo rắc t́nh yêu quanh ḿnh. Và so với ḷng nhân lành vô biên của Chúa Cha, người Kitô hữu luôn cảm thấy ḿnh thiếu sót.

4. Khi thấy ḿnh hoàn toàn không thể sống t́nh yêu mà Chúa Giêsu truyền dạy, Kitô hữu liền ư thức rằng chỉ ân sủng của Chúa Thánh Thần mới có thể biến đổi tâm hồn hẹp ḥi của ḿnh và làm cho ḿnh nên giống như Chúa Giêsu cầu nguyện trên thập giá: "Lạy Cha, xin tha cho chúng, v́ chúng không biết việc chúng làm" (Lc 25, 34).