|| Trang Chủ || Chia sẻ || Tập san || Thông hiệp ||

 

SUY NIỆM CHÚA NHẬT 6 THƯỜNG NIÊN A

Lời Chúa: Hc 15,16-21; 1Cr 2,6-10; Mt 5,17-37

 

MỤC LỤC

1. Lề luật

2. Thầy bảo cho anh em biết

3. Từ lề luật tới lương tâm.

4. Đừng sợ trèo lên thang.

5. “Thầy nói cho các con biết!”.

6. Kiện toàn lề luật.

7. Luật mới của Đức Giêsu.

8. Gợi ư giảng của Lm Carôlô.

9. Giáo huấn chung của Tân Ước.

10. Chú giải của Noel Quesson.

11. Chú giải của Fiches Dominicales.

12. Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt

  

 

1. Lề luật

Thiên Chúa đă trao ban cho con người một thứ quà tặng quư giá đó là sự tự do. Chính sự tự do, này nếu chúng ta biết sử dụng, sẽ đem lại cho chúng ta vẻ cao quư, bằng không nó sẽ vùi chúng ta xuống tận bùn đen.

Thiên Chúa muốn chúng ta phụng sự Ngài một cách tự do, không ép buộc, bởi v́ hành động của một kẻ nô lệ, của một người máy th́ làm sao tạo được công nghiệp. Sự tự do là như một chiếc ch́a khoá, nhờ đó mà mở ra khung trời hạnh phúc, nhưng đồng thời cũng có thể dẫn đến biết bao nhiêu tội ác.

Thiên Chúa không bao giờ cưỡng bức chúng ta phải phụng thờ Ngài. Nhưng đồng thời, Ngài cũng không bao giờ làm cho bàn tay của kẻ độc ác bị bại liệt.

Bài đọc thứ I nói với chúng ta như sau: Nếu ngươi muốn, ngươi hăy tuân giữ những giới luật của Ta. Việc trung thành là tuỳ ở nơi ngươi. Trước mặt ngươi là sự sống và sự chết, ngươi có thể tuỳ nghi lựa chọn.

Tuy nhiên có kẻ sẽ nói: Sự ǵ phải đến, ắt sẽ đến. Tôi nghĩ rằng không phải là như thế, mỗi người chúng ta phải làm chủ lấy vận mạng của đời ḿnh. Bởi v́ chính chúng ta có thể đem lại hạnh phúc hay khổ đau muôn đời cho bản thân. Thiên Chúa có thể giúp đỡ và phù trợ chúng ta bằng ân sủng của Ngài, tuy nhiên không bao giờ Ngài bắt buộc chúng ta phải bước theo Ngài. Trong chiều hướng ấy, Péguy đă viết như sau: Nếu Thiên Chúa quá nâng đỡ, th́ con người sẽ mất hết tự do, trái lại nếu Thiên Chúa không nâng đỡ đủ, th́ con người sẽ sa ngă. Sự trợ gúip của Ngài không bao giờ huỷ diệt sự tự do mà chính Ngài đă trao ban cho chúng ta.

Cũng chính trong sự tôn trọng tự do mà chúng ta bước vào lănh vực lề luật. Đúng thế, Chúa Giêsu đă so sánh luật của Cựu Ước với luật của Tân Ước là luật của t́nh yêu. Ngài đến không phải để xoá bỏ nhưng để kiện toàn. Ngài đă đưa ra nhiều trường hợp cụ thể. Chúng ta chỉ nhắc lại nơi đây hai trường hợp mà thôi.

Trường hợp thứ nhất, Cựu Ước dạy: Chớ giết người. Trong khi đó Chúa Giêsu bảo chúng ta không được ghét bỏ người anh em. Và Ngài c̣n đi xa hơn nữa khi đ̣i buộc chúng ta phải yêu mến kẻ thù và làm ơn cho những kẻ ghét bỏ chúng ta.

Trường hợp thứ hai, Cựu Ước dạy: Chớ ngoại t́nh. Trong khi đó Chúa Giêsu bảo chúng ta không những phải giữ ǵn vẻ trong sạch cho thân xác, mà c̣n bảo chúng ta phải giữ ǵn vẻ trong sạch cho tâm hồn. Ngài phán: Ai nh́n xem người nữ, mà có ḷng ước ao th́ đă phạm tội rồi.

Từ đó Ngài muốn chúng ta luôn luôn tấn công tội ác đến tận cội nguồn, đến tận căn nguyên. Bởi v́ trái tim hay ḷng muốn là nơi xuất phát ra những điều tốt cũng như những điều xấu.

Cha thánh Vianney có một trực giác bén nhạy về những hậu quả không hay do những cuộc khiêu vũ gây nên, bởi đó, ngài đă thẳng thắn phê b́nh và chỉ trích. Ngày kia ngài gặp một bác nhà quê cùng với đúa con gái của bác đang bước đi trên đường. Hôm đó lại là ngày Chúa nhật và hai bố con đang dắt nhau đi tham dự một cuộc khiêu vũ ở làng bên cạnh. Thấy ngài, bác nhà quê liền chống chữa:

- Thưa cha, nó không đi nhảy mà chỉ xem người ta nhảy mà thôi.

Thế nhưng ngài trả lời:

- Tay chân nó không nhảy nhưng trái tim nó đă nhảy, tay chân nó không múa may quay cuồng nhưng ḷng nó đă múa may quay cuồng.

Bởi đó phải cương quyết xa tránh những dịp tội nếu muốn bảo vệ vẻ trong trắng cho tâm hồn, bởi v́ như lời Chúa đă phán: Thà rằng mất một chi thể c̣n hơn toàn thân bị đày đoạ trong hoả ngục.

 
 

2. Thầy bảo cho anh em biết

(Trích trong ‘Manna’)

Suy Niệm

Thiên Chúa là một nhà giáo đầy kinh nghiệm. Ngài đ̣i hỏi con người phải vươn lên, vươn cao lên măi, nhưng Ngài không đ̣i hỏi điều vượt quá khả năng của họ.

Khi ban Mười Điều Răn cho dân Israel, qua ông Môsê, Ngài đưa họ ra khỏi t́nh trạng sống theo luật rừng. Luật Môsê là một tiến bộ lớn trong nền luân lư, nhưng vẫn chỉ là bước chuẩn bị cho luật của Đức Giêsu.

Luật mới này không phá bỏ, nhưng kiện toàn luật cũ.

Kitô hữu không chỉ xét ḿnh theo Mười Điều Răn, mà hơn nữa c̣n xét ḿnh theo tinh thần Bài giảng Trên núi. Lời của Chúa Giêsu phải là thước đo để ta xét ḿnh. Có khi nào bạn tự kiểm dựa trên một đoạn Tin Mừng không?

Đoạn Tin Mừng hôm nay mời ta nh́n lại miệng và mắt, hai giác quan dễ được dùng để phạm tội.

Miệng là nơi phát xuất những lời lăng mạ, dối trá. Lời nói biểu lộ tâm hồn con người: ḷng có đầy mới tràn ra miệng (x.Mt 12,34). Khi đêm về, nh́n lại những ǵ ḿnh đă nói, ta thường thấy có rất ít yêu thương và sự thật, nhưng lại đầy ắp cái tôi ích kỷ, lọc lừa.

“Ai không vấp ngă về lời nói, ấy là người hoàn hảo, có khả năng làm chủ được toàn thân (Gc 3,26).

Mắt là cơ quan tiếp thu thế giới bên ngoài. Mắt không chỉ là cửa sổ, mà là cửa chính của tâm hồn. Các cơn cám dỗ thường qua cửa đó mà đến với ta.

Mắt thích nh́n cái đẹp. Eva nh́n trái cấm, Đavít thấy người phụ nữ khỏa thân.

Cái nh́n đem lại khoái lạc và thổi bùng lên ngọn lửa thèm muốn, khiến người ta dám làm chuyện trái luân thường đạo lư.

Chúng ta đang bị bao vây trong một thế giới đầy h́nh ảnh. Tivi, phim ảnh, sách báo, video, thời tranh, quảng cáo... tất cả t́m cách lôi cuốn cái nh́n của ta, kích thích khoái lạc nơi con mắt và cả thân xác.

Những điều cao quư và thiêng liêng như thân xác, như đời sống thầm kín vợ chồng lại bị trở thành tầm thường, dung tục. T́nh yêu chỉ c̣n là vội vă chiếm đoạt thân xác nhau trong cơn mê say nhất thời, chứ không phải là sự trân trọng hiến dâng chính ḿnh trong một quyết định chín chắn và đầy trách nhiệm.

Đức Giêsu nói đến thứ ngoại t́nh do cái nh́n thèm muốn.

Làm sao tôi giữ được đôi mắt trong suốt của trẻ thơ?

Làm sao để trí tưởng tượng và trí nhớ không bị vẩn đục?

Làm sao để tôi nh́n người phụ nữ như chị, em của tôi?

Làm sao để chính người phụ nữ không tự biến ḿnh thành đồ chơi để người khác ngắm nghía?

Gợi Ư Chia Sẻ

“Thành thật thường thua thiệt”, bạn có thấy điều đó đúng không? Bạn có nghĩ rằng thành thật là đức tính nền tảng cho mọi tương quan giữa người với người không?

Nơi giới trẻ đă có nhiều biểu hiện của sự trụy lạc, sa đọa. Bởi đâu có những tệ nạn như thế? Giới trẻ công giáo đóng góp ǵ để bầu khí xă hội được thanh khiết?

Cầu Nguyện

Lạy Chúa Giêsu, xin biến đổi con,

xin biến đổi con từ từ qua cầu nguyện.

Mỗi lần con thấy Chúa, xin biến đổi ánh mắt con.

Mỗi lần con rước Chúa, xin biến đổi môi miệng con.

Mỗi lần con nghe lời Chúa, xin biến đổi tai con.

Xin làm cho khuôn mặt con ngời sáng hơn sau mỗi lần gặp Chúa.

Ước chi mọi người thấy nét tươi tắn của Chúa trong nụ cười của con, thấy sự dịu dàng của Chúa trong lời nói của con.

Thế giới hôm nay không cần những Kitô hữu có bộ mặt chán nản và that vọng.

Xin cho con biết nhẫn nại và can đảm cùng đi với Chúa và với tha nhân trên những nẻo đường gập ghềnh. Amen.

 
 

3. Từ lề luật tới lương tâm.

(Trích trong ‘Lương Thực Ngày Chúa Nhật’)

Chúa không đến huỷ bỏ Lề Luật nhưng kiện toàn Lề Luật. Mấy người tới nói chuyện với Chúa, xem Lề Luật là 1 mớ những mẹnh lệnh để điều chính trật tự bên ngoài trong lối sống của họ. Chúa Giêsu đi thẳng vào nguồn ngọn, vào đáy ḷng và lương tâm, nơi xảy ra đích thực mối liên hệ của con người với Thiên Chúa. Lề Luật vẫn có giá trị trong những mệnh lệnh của nó nhằm quy định trật tự, luân lư, song Chúa Giêsu nói: như thế chưa đủ c̣n phải đánh giá hành động ngay từ ngọn nguồn của nó, bởi lẽ hành động bên ngoài chỉ là phát hiện cụ thể của một thực tại bên trong, và chính là ở trong cơi ḷng sâu kín mà được quyết định cuộc tranh luận giữa thiện và cá. Giá trị luân lư của hành vi ta không nằm ở vẻ bên ngoài của chúng, nhưng ở những quyết định riêng tư dẫn đưa tới chúng. Hơn nữa, Đức Kitô nói rằng một ước muốn được chấp nhận cách ư thức đă đủ để thẩm định ta là tốt hay xấu, dù không được diễn tả ra bằng hành động cũng thế. Chúa Giêsu đến hoàn thành Lề Luật theo nghĩa này là Người nới rộng nó tới thế giới lương tâm. Từ một luật hành động, nó trở thành một câu hỏi đặt ra cho con người nội tâm có trách nhiệm trước mặt ḿnh và Thiên Chúa. Phúc Âm hôm nay nêu cho ta thấy ba tỷ dụ:

1) Chớ giết người. Người ta giết người v́ thù oán, căm hờn. Chúa Giêsu phán: đều xấu, đó không những là oán ghét, và c̣n là những ǵ Thiên Chúa không thể chấp nhận. Chúa loại trừ ḷng thù oán và cả một loạt tâm t́nh gần như thế: nóng giận, cố t́nh giữ ác cảm, mắng nhiếc, hiềm khích v.v…

Đó là những tâm t́nh làm đầu giây mối nhợ cho tội giết người. Tội sát nhân bị luật lệ luận phạt, tâm t́nh bên trong bị Thiên Chúa thẩm xét.

2) Chớ ngoại t́nh. Điều răn này nhằm bảo vệ phẩm giá của hôn nhân và gia đ́nh. Song ư nghĩa nó đi xa hơn, sâu hơn nhiều. Chúa Giêsu đặt nó vào b́nh diện của ước muốn (ḷng ước muốn được chấp nhận cách ư thức, hay là ước muốn được nuôi dưỡng), nghĩa là b́nh diện mà mọi vật thuộc về Thiên Chúa. Được phép ước muốn điều ǵ, nếu đó không phải là đồ ăn trộm của kẻ khác và nhất là của Chúa. Mà phải tôn trọng quyền tự hữu của Chúa tự đáy ḷng ta. Ḷng ước ao ngoại t́nh bao hàm sự thiếu tôn trọng đối với kẻ khác và với ḿnh, do đó cũng ăn trộm điều thuộc về Thiên Chúa.

3) Chớ thề gian. Đức Kitô nói không được thề thốt ǵ cả. Có lẽ trong xă hội ta không c̣n tục lấy Danh Chúa mà thề. Song lời Chúa nói đây vẫn c̣n ư nghĩa. Nếu ta không phải cầu xin Chúa đứng ra bảo đảm cho sự thật của ta, th́ ta vẫn có thể xin Người soi sáng ḷng chân thành của ḿnh. Ta có thể và phải tự vấn về chính ḿnh ta và xem xét những điều ta quả quyết và những cái ta phủ quyết có được Chúa nh́n thấy là đúng hay không.

 
 

4. Đừng sợ trèo lên thang.

(Trích trong ‘Mở Ra Những Kho Tàng’ của Charles E. Miller)

Một bé trai đang thả môt con diều, cho tới khi con diều bị vướng vào một cành cây. Nó liền chạy vào nhà và yêu cầu ba nó lấy giúp nó con diều. Người cha liền cầm tay nó dắt đi và nói: “Hăy đi với ba”. Họ đi vào trong nhà xe, ông chống thang dựa vào thân cây rồi bảo đứa bé: “Con hăy trèo lên thang và lấy con diều của con”. Nhưng đứa trẻ sợ hăi và kêu lên: “Không, con sẽ ngă mất!”. Ông bố nhấn mạnh “Hăy trèo lên thang, bố sẽ ở đây đỡ con, nếu con rớt xuống”. Run rẩy nhưng bây giờ đă quyết, đứa bé bắt đầu từ từ ḅ lên thang và cố gắng gỡ con diều ra. Nó đă đi xuống an toàn và nở nụ cười thật tươi, ôm lấy ba nó và nói: “Con đă làm được rồi!”.

Hôm nay Chúa Giêsu cũng mời gọi chúng ta trèo lên một cái thang, bài Phúc Âm hôm nay là một phần bài giảng trên núi của Người. Trong bài giảng trên núi, Người khẩn nài chúng ta làm việc để đạt tới những lư tưởng cao vời, không phải thỏa măn những bậc nhỏ xíu của chiếc thang, trong quan hệ của chúng ta với Thiên Chúa và tha nhân. Trên hết, Người không muốn chúng ta rời xa điều ấy để tới những điều khác, các thánh, những người đă đi theo những lư tưởng mà Người đă giảng dạy và họ đă trở nên gương mẫu.

Trong lúc giận dữ chúng ta có thể nói: “Tôi có thể giết anh đấy”. Dĩ nhiên chúng ta không muốn nói như thế. Trước lúc giận dữ chúng ta vẫn muốn chịu đựng cơn giận theo lư tưởng mà Chúa Giêsu muốn chúng ta theo. Chúng ta có thể sợ hăi khi nghe những chuyện căi cọ nhau trong nhà nhưng Chúa Giêsu nói với chúng ta rằng chúng ta phải tránh những lời thóa mạ. Chúng ta có thể than khóc về những lố bịch mà trên TV hoặc phim ảnh, chúng tŕnh bày những cảnh ân ái dành cho những người trưởng thành, nhưng Chúa Giêsu cảnh báo chúng ta không được nghe các ước muốn xấu trái với những ǵ Người trông đợi nơi chúng ta.

Có điều ǵ đó hơi “sốc” khi Chúa Giêsu nhấn mạnh rằng nếu có một người nào đó có điều ǵ chống đối chúng ta, chúng ta phải để của lễ tại bàn thờ mà đi giảng ḥa cùng người đó trước đă. Chúng ta có dám thực hành điều đó theo nghĩa từng chữ không? Hầu hết mọi người chúng ta có dám bỏ Thánh Lễ để đi t́m người mà chúng ta đă xúc phạm để giảng ḥa không? Việc bắt đầu cầu nguyện bằng sự giảng ḥa là quyết định t́m kiếm sự tha thứ.

Khi chúng ta lắng nghe cách cẩn thận những lời của Chúa Giêsu trong bài giảng của Người hôm nay, chúng ta có thể kết luận rằng, Chúa Giêsu dạy chúng ta t́nh yêu dành cho Thiên Chúa không tách biệt t́nh yêu dành cho người lân cận của chúng ta. Thật là một lỗi nghiêm trọng để hành động nếu chúng ta đặt quan hệ của ḿnh với Thiên Chúa với tư cách cá nhân và riêng tư, không có ǵ để làm với tha nhân. Khi chúng ta hiểu biết Thiên Chúa như một người Cha, chúng ta phải dành t́nh yêu của ḿnh cho tất cả con cái của Người.

Những lư tưởng này có thể làm cho chúng ta nhát sợ. Nh́n thẳng vào chúng có thể làm cho chúng ta sợ hăi. Như đứa trẻ muốn cứu con diều của ḿnh, phải thay đổi cách suy nghĩ thế nào. Điều đó không xảy ra cho nó khi nó cố gắng lấy con diều theo cách của nó cho đến khi ba nó dạy cho nó cách thế. Ngay lúc đó, nó vẫn sợ ngă. Trong bài giảng hôm nay, Chúa Giêsu đă chỉ cho chúng ta một con đường mà chúng ta sẽ đi theo như những môn đệ của Người. Chúng ta phải tin rằng, khi chúng ta cố gắng trèo lên cao hơn Người sẽ ở với chúng ta, để đỡ lấy nếu chúng ta sa ngă và đặt chúng ta trở lại an toàn, để chúng ta có thể cố gắng lần nữa. Trong Thánh Lễ, Người ban cho chúng ta sức mạnh chúng ta cần, nhờ của ăn thiêng liêng là Ḿnh và Máu Chúa.

Chúng ta không bao giờ hỏi rằng: “Chúng ta phải làm ǵ để tránh tội?”. Chúng ta hăy lắng nghe lời của Chúa Giêsu nói với chúng ta: “Các con hăy trèo lên thang”.

 
 

5. “Thầy nói cho các con biết!”.

Chúa Giêsu không đưa ra một luật mới nhưng là một cách mới để hiểu luật cũ và mọi luật lệ khác. Chúng ta không phải là những người không có luật lệ. Nói “chỉ cần yêu là đủ” là đúng nếu chúng ta thêm rằng đây là một điều luật và phải áp dụng luật đó với những chi tiết luật rơ ràng: đừng giận hờn, đừng có ư xấu, đừng ly dị, có th́ nói có không th́ nói không, đừng trả thù, yêu thương chính kẻ thù của chúng ta.

Có những điều rất khó thực hành đến nỗi chúng ta cảm thấy ở trong một bầu không khí rất đặc biệt: sự bó buộc vô cùng của Tin Mừng. Bao lâu chúng ta không lượng định sự bó buộc này th́ chúng ta vẫn ở trong môi trường lề luật mà Chúa Giêsu mạnh mẽ chống lại. Đó là dấu hiệu cho thấy sự cám dỗ rất mạnh và ŕnh rập tất cả chúng ta.

Kiểu nói trịnh trọng (“Thầy nói cho các con biết!”) là một sự khiêu khích. Ngài nói với ai câu này: “Nếu các ngươi không ăn ở chính trực hơn các luật sĩ và Pharisêu, các ngươi chẳng được vào Nước Trời?” Ngài nói với những người khâm phục sự thông tuệ thực sự của các luật sĩ và nỗ lực nên thánh của các Pharisêu.

Vậy đâu là điều xấu? Hay đúng hơn đâu là sự thiếu sót bởi v́ phải vượt qua sự thiếu sót đó? tôi không thể nói chi tiết sáu điều đối kháng nhau “Người ta nói với các con, phần Ta, Ta bảo các con”. Tôi chỉ mời gọi các bạn suy niệm về động thái sâu xa phát xuất từ công lư của Pharisêu để dẫn dắt chúng ta đi xa hơn bằng một cách khác!

Dầu sao th́ tôi cũng lầm khi nói về “những điều đối kháng”, mà là có sự liên tục. Chúa Giêsu nói rơ điều đó với chúng ta. Đây không phải là vấn đề bỏ rơi luật cũ để xây dựng luật hoàn toàn mới: “Các con đừng nghĩ rằng TA đến để phá luật lệ hoặc lời các tiên tri. Ta đến không phải để phá mà để làm cho hoàn hảo”. Đây không phải là vấn đề tôn trọng quá khứ, lại càng không phải là ḷng luyến tiếc quá khứ. Chúa Giêsu tự do đối với tất cả đến nỗi sự tự do tuyệt đối duy nhất này là một trong những dấu hiệu của thần tính của Ngài. Ngài nói một cách ung dung: “Ta đến để...” Môisê nào, sứ ngôn nào có thể nói lên một điều như thế? Trước Ngài người làm luật và vị sứ ngôn nói nhân danh Chúa, phát xuất từ cuộc sống của ḿnh và từ các biến cố. Chúa Giêsu nói với tư cách là Chúa, phát xuất từ một nguồn gốc huyền bí và một sự hiểu biết rơ ràng về các khả năng của con người cũng như về những bó buộc của Chúa. Ngài là người làm luật tối cao và quyết định. Sau Ngài, không ai quả quyết rằng: “Chúa Giêsu đă nói thế này, nhưng tôi bảo cho các bạn biết...”

Và dầu vậy, Ngài nhắc lại điều “đă được phán dạy” (cách nói kín đáo và tôn trọng có nghĩa là”Thiên Chúa đă nói”). Rơ ràng đó là lời của Thiên Chúa. Lời đó có bất toàn hay không? Ở đây chúng ta đứng trước điều mà Chúa Giêsu muốn mạc khải cho chúng ta: sự vượt lên trên. Qua nhiều tiếng nói Thiên Chúa đă đề ra những điều luật chính yếu: chớ giết người, đừng ly dị, sống chân thật, giới hạn sự trả thù. Điều đó đă được thích nghi với những thời kỳ khó khăn và nay vẫn c̣n giá trị. Nhưng chỉ có điều là hành động mà thôi! Điều này đ̣i hỏi đừng làm bất động cái ǵ cả, đừng giam hăm công bằng và sự thánh thiện trong một danh sách những điều phải làm hay không được làm: phải có khả năng phản ứng tốt trước điều mới lạ.

Chúa Giêsu không phải đến để thêm vào một vài qui định tinh tế hơn mà là để mạc khải bí mật làm cho luật lệ tinh tế hơn. Chữ nghĩa trong luật là rất cần thiết (“Dầu một nét trong luật cũng không bỏ qua được”) nhưng chi tiết luật đó chỉ có giá trị nhờ tinh thần mà chúng ta chu toàn. Chúa Giêsu cho chúng ta biết chỉ có một tinh thần mà thôi, đó là t́nh yêu thương. Chúng ta có thể gọi đó là luật mới, nhưng tốt hơn nên xem đó như là nguyên nhân và thước đo của mọi luật lệ.

Hoặc là sự quá mức! Đó là điều làm cho cuộc sống của người Kitô hữu rơ ràng vàkhó khăn biết bao! Không phải là tự hỏi chúng ta có thể tiến bước mà không phạm tội cho tới đâu, nhưng chúng ta có thể yêu thương đến cùng như thế nào:

“Chúa Giêsu đă yêu thương con người và yêu thương họ cho đến cùng”. Thánh Gioan nói như thế khi bắt đầu thuật lại cuộc khổ nạn. Đó là sự vượt lên trên được dạy ở đầu bài giảng trên núi. Từ việc “chớ giết người!” trong luật cũ đến “Hăy yêu thương kẻ thù của ngươi!”, sự vượt lên trên không phải là một sự đối kháng hoặcmột điều được thêm vào. Đó chính là sự điên rồ của Tin Mừng: “Các con hăy trở nên trọn lành như Cha các con trên Trời là Đấng trọn lành”.

Bạn hăy đi xa hơn tất cả những ǵ bị cấm đoán hoặc được qui định, bạn hăy đi xa hơn t́nh yêu thương. Chắc chắn, không được giết người, nhưng có biết bao nhiêu cách để làm hại kẻ khác. Bạn hăy hồi tâm thật sự, xua đuổi những ước muốn làm hại nhỏ nhặt nhất. Bạn hăy xem xét ư muốn yêu thương, chữa trị nó nếu nó bệnh hoạn, củng cố nó nếu nó yếu đuối. Khi bạn thật sự muốn yêu thương, th́ bạn sẽ hoàn toàn gắn bó với Chúa Kitô. Thế là bạn có thể nghĩ ra cách sống giữa các luật lệ.

 
 

6. Kiện toàn lề luật.

(Trích trong ‘Xây Nhà Trên Đá’ của Lm. ViKiNi)

Chúa Giêsu khẳng định: “Thầy đến để kiện toàn lề luật”. Lời tuyên bố quả quyết dứt khoát đến nỗi: trời đất qua đi th́ lời Ngài nói vẫn tồn tại, và tất cả những ai tuân giữ lời Ngài cũng được tồn tại muôn đời trong nước trời.

Lời tuyên bố như đinh đóng cột làm “thiên hạ sửng sốt v́ Ngài giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền” (Mt. 7, 28; Mc. 1, 22; Lc. 4, 31).

Kiện toàn luật Môsê và các tiên tri là kiện toàn và thực hiện toàn bộ Kinh Thánh.

1- Thẩm quyền đó là thẩm quyền nào? “Ông lấy quyền nào mà làm các điều ấy”. Các thượng tế, kinh sư và kỳ mục đă hỏi Người như thế (Mc. 11, 28).

Để thấy rơ thẩm quyền của Đức Giêsu, ta cần xét đến lời tuyên bố và nội dung kiện toàn lề luật của Ngài.

Trước hết, lời tuyên bố. Xưa, chính Môisê không dám tự ḿnh tuyên bố ban lề luật, dầu ông là vị lănh đạo vĩ đại nhất lịch sử dân Do Thái. Ông luôn luôn nói: “Này điều Thiên Chúa truyền dạy...”, chỉ khi chính Giavê Thiên Chúa ban bố lề luật, Thánh Kinh mới viết: “Thiên Chúa phán với Môisê rằng:...”, như trường hợp tuyên bố Thập giới ở núi Sinai (Xh. 19, 9-10; 21, 2-22)

Kiểu nói đó bộc lộ chỉ có Thiên Chúa mới có thẩm quyền ban bố lề luật mà thôi. Cùng một kiểu nói như thế, Đức Giêsu đă tuyên bố với các môn đệ và dân chúng rằng: “Thầy bảo anh em biết...”. Mỗi lần kiện toàn một điều luật, Ngài lại nói: “Thầy bảo anh em biết...”, chứng tỏ thẩm quyền của Ngài là thẩm quyền Thiên Chúa.

Thứ đến, xét về nội dung đoạn Tin Mừng hôm nay:

Người Do Thái cũng như chư dân chỉ nhằm cấm những hành vi phạm pháp cụ thể bên ngoài như giết người, ngoại t́nh, bội thề, mắt đền mắt, răng đền răng. Người ta không thể biết được những tội phạm thầm kín trong ḷng người, cho nên không có quyền xét xử tội về tư tưởng con người, chỉ có Thiên Chúa thấu suốt những ǵ kín đáo bí ẩn mới đủ thẩm quyền xét xử.

Đức Giêsu cũng cho ta thấy Ngài có quyền xét xử các hành vi tội phạm bên ngoài cũng như bên trong, nên Ngài truyền dạy phải trừ khử những thèm muốn, giận hờn, ghen ghét ngay từ trong ḷng người, là nguồn gốc phát sinh những hành vi tội ác bên trong. Ngài đă gọi đám đông đến mà bảo: “Xin mọi người nghe Tôi nói đây, và hiểu cho rơ: Không có cái ǵ bên ngoài vào làm cho con người ra ô uế được; nhưng chính cái từ con người xuất ra, là cái làm ô uế con người. V́ từ bên trong, từ ḷng người phát xuất những ư định xấu...” (Mt. 7, 14-15. 21). Cho nên, muốn kiện toàn lề luật, muốn con người sống hoàn hảo, phải thanh tẩy nội tâm con người. Cái tâm chân chính sẽ hướng dẫn con người sống chân chính. Nguyễn Du, một thi sĩ bậc nhất Việt Nam, đă thấy rơ điều đó: “Thiện căn ở tại ḷng ta, chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Khổng Tử đă huấn luyện các môn đệ trở thành người quân tử đă lấy chính tâm, thành ư làm nền tảng, v́ “tâm quảng, thể bàn”, tâm quảng đại làm cho thể xác vững mạnh như bàn thạch (Đại học, chương IV).

Phương ngôn Tây Âu cũng nói: Tâm trí lành mạnh làm cho thân thể cường tráng - “mens sana in corpore sano”.

Tuy nhiên, điều quan trọng hơn hết mà Thiên Chúa muốn là lề luật, không phải để ngăn cấm, răn đe những điều tiêu cực, những diều xấu như luật loài người; luật Thiên Chúa chính là thực thi những điều tích cực, những điều tốt, tạo niềm tin vào Thiên Chúa tốt lành vô cùng để dẫn đưa con người trở về với Thiên Chúa. Đó là mục đích kiện toàn giới luật: Đấng ban bố lề luật thiện hảo.

2- Ngài kiện toàn giới luật thứ V bằng cổ vơ lối sống ḥa thuận, ḥa b́nh, ḥa hợp, yêu thương, hy sinh giúp đỡ nhau. Có hợp nhất với nhau mới xứng đáng được tham dự vào lễ hy sinh của Ngài, v́ Thánh lễ là sự hiến ḿnh, chết cho người Ngài yêu. Cho nên ai xây dựng ḥa b́nh như Ngài mới được phúc làm con Thiên Chúa.

Ngài kiện toàn giới luật VI và IX để mọi người sống trong sạch với cái nh́n đơn sơ như chim bồ câu, sống vui tươi với nhau thật hồn nhiên như trẻ thơ, làm cho cuộc đời hạnh phúc biết bao!

Xưa Thầy Khổng Tử cũng dạy các môn đệ rằng: “Trước hết hăy có sẵn một nền trắng, rồi sau mới vẽ thành bức họa” (Luận ngữ II, 8).

Để vẽ một bức họa thật sắc nét, làm nổi bật những h́nh ảnh thật sống động và tươi thắm, họa sĩ phải bắt đầu từ nền trắng.

Để h́nh ảnh Thiên Chúa nổi rơ trên mỗi người, chúng ta phải có ḷng trong trắng, v́ ai có tâm hồn trong sạch mới được phúc chiêm ngắm dung nhan Thiên Chúa.

Ngài kiện toàn giới luật II và VIII: “Đừng thề chi cả”, “có nói có, không nói không”. Thề mà không có ḷng chân thành th́ cũng vô ích, c̣n giảm giá trị làm người, là kẻ không đáng tin. Nếu phải nhờ đến một thế lực thứ ba, một thế lực của những hạng thấp hèn hơn con người: trời, đất, quỷ thần, cô hồn, máu huyết làm chứng cho ḿnh th́ thật tồi tệ! Thành tín tin tưởng nhau chứng tỏ tôn trọng, mến phục nhau, tỏ ra có t́nh có nghĩa, có ḷng bao dung, độ lượng. T́nh yêu khoan dung sẽ sẵn sàng chấp nhận sự thiệt tḥi và phản bội. Đó chính là t́nh yêu của Đức Giêsu: yêu cả kẻ thù, kẻ phản bội. Sống chân chính như thế, mới mong “nên trọn hảo như Cha chúng ta ở trên trời”. Lư tưởng của Nho giáo không ǵ hơn là sống chí thành mới giống thần thánh: “Chí thành như thần” (Trung Dung 24 và 26).

Lạy Chúa toàn năng, toàn thiện, Chúa đă dựng nên muôn loài tốt đẹp, Chúa c̣n dựng nên con người tốt đẹp muôn vàn hơn nữa và luôn luôn chăm lo săn sóc cho nó trở nên kiện toàn để biểu lộ sự khôn ngoan vô cùng của Thiên Chúa. Xin cho chúng con biết khôn ngoan chọn con đường sống theo Đức Giêsu để thực hiện mầu nhiệm t́nh yêu vô cùng khôn ngoan của Ngài. Amen.

 
 

7. Luật mới của Đức Giêsu

(Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’)

Tạp chí Reader’s Digest, số xuất bản tháng 11 năm 1985 có đăng một truyện ngắn:

Đôi vợ chồng kia đă nhiều lần căi nhau, và lần này, đang lúc hai người căi nhau hăng say, th́ người chồng đề nghị với vợ: “Thôi, chúng ta đừng căi nhau nữa. Bây giờ mỗi người hăy lấy giấy, viết ra tất cả những lỗi lầm, những tật xấu của người kia, rồi trao cho nhau”. Người vợ đồng ư. Người chồng cầm lấy tờ giấy, nh́n người vợ và cúi mặt xuống viết một câu. Người vợ thấy chồng ḿnh bắt đầu viết, liền hối hả viết liên hồi, dường như cố ư tranh với chồng, để kể ra nhiều tật xấu hơn. Người chồng chỉ viết một câu rồi dừng lại nh́n vợ. Sau vài phút, trang giấy của người vợ đầy những ḍng chữ kể ra tật xấu của người chồng, và người vợ xem ra hả dạ, v́ đă viết nhiều hơn.

Đến lúc không c̣n ǵ để viết nữa, hai người trao cho nhau bản kể tội của nhau. Sau khi nh́n vào tờ giấy của chồng, nét mặt của người vợ bỗng biến đổi v́ xúc động. Bà vội vàng đ̣i lại tờ giấy đă đưa cho chồng và tỏ thái độ làm hoà ngay với chồng. Trong tờ giấy của người chồng, bà chỉ đọc được có một câu duy nhất: “Anh yêu em!”.

Anh chị em thân mến,

T́nh yêu chính là Luật Mới đă được Đức Giêsu công bố trong bài giảng trên núi: “Tôi không đến để băi bỏ Lề Luật, nhưng là để kiện toàn”, nghĩa là Đức Giêsu công bố lại ư hướng nguyên thuỷ của Thiên Chúa diễn tả qua Lề Luật, đó là T́nh Yêu. Ngài muốn đặt t́nh yêu làm nền tảng cho mối tương quan giữa con người với Thiên Chúa và giữa con người với nhau. “Yêu mến Thiên Chúa hết ḷng và yêu thương tha nhân như bản thân ḿnh”.

Nếu t́nh yêu chân thật là nền tảng cho mối tương quan giữa con người với Thiên Chúa, th́ con người sẽ không bao giờ dám lên tiếng phàn nàn than trách Thiên Chúa. Nếu t́nh yêu là nền tảng cho mối tương quan giữa người với người, th́ sẽ không c̣n cảnh tranh giành, xung đột, hận thù lẫn nhau nữa.

Luật mới của Đức Giêsu sẽ tạo nên những con người mới, một xă hội mới, tạo nên “Nước Trời”: “Anh em hăy trở nên hoàn thiện như chính Thiên Chúa là Đấng Hoàn Thiện”. Trong một số ví dụ được Đức Giêsu đưa ra như giết người, gian dâm, bội thề… Luật mới không chỉ dừng lại ở những hành động tội ác, mà đ̣i hỏi phải đổi mới tận chiều sâu của tâm hồn, tận trái tim yêu thương:

- Trước kia, có huỷ hoại sự sống thể xác mới phải ra toà. Nhưng từ đây, chỉ mới có tâm t́nh giận dữ, hay buông lời nhục mạ anh em là đă đủ để lănh án nặng nề.

- Thậm chí chưa tích cực giải hoà với một người anh em đă gây căng thẳng, bất b́nh, cũng phải kể là không được liên hệ tốt với chính Thiên Chúa, không c̣n quyên dâng của lễ cho Thiên Chúa.

- Luật cũ xử phạt người có hành động ngoại t́nh. Từ đây, Luật mới đ̣i buộc phải trong sáng từ ánh mắt đến tận tâm hồn. Phải tôn trọng và lănh trách nhiệm bảo vệ người bạn đời của ḿnh.

- Luật cũ cấm phản bội lời thề. Luật mới đ̣i phải sử dụng lời nói thế nào trong cả đời anh, để người nghe, hiểu và nhận được ḷng chân thành của anh, mà không cần anh thề thốt ǵ hết.

Do đó, chúng ta không lạ ǵ lối giữ đạo duy h́nh thức, vụ Lề Luật của các luật sĩ và các nhóm Biệt phái Pharisêu thời Chúa Giêsu, đă bị chính cuộc sống của Chúa Giêsu vạch trần là giả h́nh là “mồ mả tô vôi”: Giữ luật chi li, nhưng là để cho bản thân ḿnh nổi danh đạo đức trước người khác và tự măn nơi ḷng ḿnh. Tệ hơn nữa là hạng người mượn danh “luật Chúa” để kết án người có tội, người nghèo khổ, hoặc người mang bệnh tật. Và c̣n đáng Ngài phản đối nặng nề hơn nữa khi họ chủ trương bắt người khác cũng phải hoạ theo lối sống hà khắc của họ. Chính Chúa Giêsu đă bảo: “Nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và nhóm Pharisêu, th́ anh em sẽ chẳng được vào Nước Trời”.

Anh chị em thân mến,

Luật mới là một “Giao Ước Mới”, một “hợp đồng t́nh thương” với những điều khoản được Chúa “ghi tạc tận đáy ḷng, tận trái tim con người” (Gr 31,33). Ngôn sứ Êzêkiel c̣n diễn tả qua h́nh ảnh cụ thể hơn nữa: “Ta sẽ ban tặng các con một trái tim mới, Ta sẽ đặt vào ḷng các con một tinh thần mới, Ta sẽ lấy trái tim chai đá ra khỏi ḷng các con và ban tặng các con một trái tim thịt mềm biết yêu thương. Ta sẽ đặt Thần Khí của Ta vào ḷng các con để làm cho các con theo đúng luật của Ta” (36,23-27).

Đức Giêsu đă kiện toàn Luật của Thiên Chúa. Ngài đă sống trọn vẹn đến từng chi tiết. Ngài đă bày tỏ cho chúng ta một Thiên Chúa lấy con người làm đối tượng của t́nh yêu thương, khi đích thân Ngài, như một tên tử tội khốn nạn nhất, chết treo trên Thập giá, chỉ v́ muốn nâng con người lên tận hàng con cái Thiên Chúa. Mầu Nhiệm Nhập Thể không chỉ là mầu nhiệm của Ngôi Lời Thiên Chúa làm con người mà c̣n là dấu chứng của t́nh yêu, cũng là bản thể Thiên Chúa đă dính chặt vào với mỗi con người của trần thế, đến độ bất cứ ai làm ǵ cho mỗi con người, đều làm cho đích thân Ngài, và bỏ qua không làm tốt cho con người, cho dù với mọi thứ lư do, sẽ chỉ đưa đến kết quả là: “Không được sống đời đời” (Mt 25,41).

Thưa anh chị em, Đạo của Chúa, Luật của Chúa là như thế đó. Nó nhằm mục tiêu cho mỗi người chúng ta hoà nhập vào ḍng suối vô tận của t́nh thương vô biên, khơi nguồn từ Chúa Cha và thông qua Chúa Giêsu và nhờ Thánh Thần chuyển đến mỗi người chúng ta, đến với mọi người muôn thế hệ. Bởi v́ chỉ có t́nh thương mới cho chúng ta góp phần xây dựng, phát triển hạnh phúc của con người anh em. Và chỉ có hạnh phúc của anh em, có chúng ta góp phần, mới cho chúng ta cảm nghiệm và dự phần hạnh phúc của Thiên-Chúa-T́nh-Thương.

 
 

8. Gợi ư giảng của Lm Carôlô

SỐNG THEO LUẬT CHÚA

1) Con đường sống

Trong bài đọc I, Ben Sira nói đến 2 con đường: con đường được vạch ra bởi các giới răn là con đường sống, con đường nước, con đường sự lành; con đường thứ hai thực ra không phải là đường mà là muốn đi đâu th́ đi, không có chỉ dẫn, không có định hướng, không có ngăn cản… đó là con đường lửa, con đường sự dữ, con đường sự chết.

Chỉ cần một thí dụ nhỏ cũng đủ để nhất trí với Ben Sira: lái xe trên xa lộ. Muốn an toàn, hay nói cách khác là muốn sống, người lái xe phải tuân thủ rất nhiều luật: đoạn nào phải chạy với tốc độ nào, chỗ nào được quẹo, chỗ nào phải dừng lại, muốn vượt th́ phải làm sao v.v. và v.v.

Người lái xe nào nghĩ rằng tất cả những luật ấy là bó buộc, là bóp chết sự tự do của ḿnh, rồi bất chấp tất cả. Kết quả sẽ thế nào? Người đó chết. Chẳng những thế, có thể làm cho nhiều người khác chết theo.

Đi trên một đoạn đường xa lộ mà đă thế. Huống chi trọn cuộc hành tŕnh của đường đời.

2. Luật là luật!

Nhiều người nói “luật là luật”. Những người này bám sát mặt chữ của các khoản luật và buộc người ta tuân thủ một cách nô lệ từng chữ ấy. Lúc đó, luật trở thành chủ, và con người trở thành nô lệ. Cuộc sống quá nặng nề, không chịu nổi. Luật của pharisêu là như thế đó. Ngày sabát, nếu có người bệnh cũng không được chữa, bởi v́ “luật” cấm không được làm việc ǵ trong ngày đó.

Nếu chú ư đọc hết bài giảng trên núi rất dài của Đức Giêsu (từ đầu chương 5 đến hết chương 7 Tin Mừng Mátthêu), chúng ta sẽ ngạc nhiên là tuy Ngài nói đến luật cũ và luật mới, nhưng Ngài chỉ giải thích những khoản luật cũ chứ không đưa thêm khoản luật nào “mới” của Ngài cả. Đức Giêsu không thêm luật, nhưng Ngài chỉ cho thấy tinh thần của luật. V́ thế ta có thể nói: luật của Chúa Giêsu không phải là luật, mà là tinh thần. Tinh thần là sự sống của luật. Đă có quá nhiều khoản luật, chỉ thiếu tinh thần và sự sống thôi.

Sau này, trong một cuộc đối thoại với một luật sĩ, Đức Giêsu có nói tới hai khoản “luật” quan trọng nhất là mến Chúa và yêu người. Nhưng thực ra hai khoản đó cũng đă có sẵn trong bộ luật cũ Cựu Ước. Khoản luật th́ vẫn cũ, cái mới là tinh thần: tinh thần “yêu” và tinh thần “mến”.

Tín hữu chúng ta đang cố gắng tuân giữ rất nhiều luật: Luật Chúa và luật Giáo Hội. Nhưng hăy lưu ư kỹ điều này: nếu chỉ giữ “luật” mà không giữ đúng “tinh thần” của luật th́ ta sẽ thành nô lệ, sẽ thành pharisêu.

3. Luật gia đ́nh: Cha con, anh em

Tinh thần bao trùm tất cả mọi khoản luật là tinh thần gia đ́nh: đối xử với Thiên Chúa bằng t́nh hiếu thảo cha con và đối xử với người khác bằng t́nh huynh đệ anh em.

Đọc lại Bài giảng trên núi rất dài từ chương 5 đến hết chương 7 Tin Mừng Mt, ta thấy mỗi lần nói đến Thiên Chúa th́ Đức Giêsu đều nhắc ta nhớ Ngài là Cha, và mỗi lần nói đến người khác th́ Đức Giêsu cũng nhắc ta nhớ họ là anh em của ta.

- Thí dụ như về luật đối xử với người khác (Mt 5,21-26): “Ai giận anh em ḿnh… Ai mắng anh em ḿnh… Ai chửi anh em ḿnh… Khi con sắp dâng lễ vật trước bàn thờ mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất b́nh với con…”

- Thí dụ về những việc đạo đức (Mt 6,1-18): “Khi bố thí th́ đừng có khua chiêng đánh trống… Cha của anh, Đấng thấu suốt những ǵ kín đáo, sẽ trả công cho anh… Khi cầu nguyện… Hăy cầu nguyện với Cha của anh, Đấng thấu suốt những điều kín đáo… C̣n khi ăn chay… Cha của anh Đấng thấu suốt những ǵ kín đáo…”

Thánh Kinh thường gọi Luật là “ách” và “gánh”. Nhưng luật của Chúa Giêsu là luật gia đ́nh. Luật gia đ́nh tuy cũng là “ách” và “gánh” nhưng rất nhẹ nhàng, êm ái: “Ach Ta êm ái, gánh ta nhẹ nhàng”.

4. “Đừng nổi giận với anh em ḿnh”

Đức Giêsu không bảo “Đừng nổi giận”, mà bảo “Đừng nổi giận với anh em ḿnh”. Nhận xét này có nhiều ư nghĩa.

Xét về mặt tâm lư, giận là một trong “thất t́nh”, nghĩa là một trong 7 thứ t́nh cảm tự nhiên mà người lành mạnh nào cũng có. Nếu ta biết yêu ta và tự trọng ta th́ khi ai đó đối xử bất công với ta th́ tự nhiên ta nổi giận. Khoa tâm bệnh học c̣n cho biết rằng cứ đè nén cơn giận măi c̣n có thể gây hại cho tâm thần và cả sức khoẻ nữa. Tự nó, t́nh cảm giận không có ǵ xấu. Chính Đức Giêsu cũng từng nổi giận khi thấy người ta buôn bán trong sân Đền thờ Giêrusalem.

Chỉ xấu khi “nổi giận với anh em ḿnh”, nghĩa là v́ giận quá mà không c̣n coi người anh em ḿnh như anh em nữa, trái lại coi họ là người dưng, thậm chí là kẻ thù. Nói tóm lại là giận đến nỗi mất t́nh huynh đệ. Trong trường hợp này “giận” đồng nghĩa với “giết”: không phải giết chết một mạng sống mà giết chết một mối t́nh, v́ người trước đây là anh em nay không c̣n là anh em nữa.

5. Chuyện minh họa

a/ Giận dữ

Khi R. Weaver c̣n làm công nhân hầm mỏ, có lần anh vô t́nh chọc giận một công nhân khác. Anh này gầm lên:

- Chắc tao phải cho mày mấy bạt tai quá!

- Nếu anh thấy cần th́ cứ làm đi.

Người ấy tát Weaver một cái. Anh đưa má kia, tát nữa. Tất cả là 5 lần. Đến lần thứ 6, người kia hậm hực bỏ đi. Weaver c̣n nói theo: “Chúa tha thứ cho anh. Tôi cũng thế. Xin Chúa cứu anh.”

Sáng hôm sau khi xuống mỏ, người đầu tiên mà Weaver gặp là người tát ḿnh. Anh mỉm cười lại gần. Người ấy chợt bật khóc: “Ôi anh Richard. anh thực sự tha thứ cho tôi chứ?”

Cả hai ôm chầm lấy nhau. Rồi người ấy nhập đạo.

b/ Tha thứ

Dick và Dorothy là hai chú bé luôn bị một chú nọ to con bắt nạt. Hai chú tức mà không làm ǵ được. Ngày nọ, hai chú đọc đoạn Tin Mừng kể chuyện Phêrô hỏi Chúa: “Khi anh em xúc phạm đến con, th́ con phải tha bao nhiêu lần? Có phải 7 lần không?”- “... Không phải 7 lần, mà là 70 lần 7.” Dick làm tính nhẩm: “Vậy là Chúa bảo tha 490 lần.” Hai đứa thinh lặng một lúc, rồi Dorothy nói: “Ta hăy mua một cuốn vở, mỗi khi tha cho hắn, ḿnh ghi vào” Và Dick reo lên: “Sau lần thứ 490, tụi ḿnh sẽ cho hắn biết tay!"

 
 

9. Giáo huấn chung của Tân Ước

(Trích trong ‘Giải Nghĩa Lời Chúa’ của Đức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)

Phụng vụ Mùa Thường niên không đề cao một mầu nhiệm nào đặc biệt, nhưng chỉ tŕnh bày giáo huấn thông thường của Hội Thánh liên quan đến đời sống hàng ngày của tín hữu. Hôm nay chúng ta vừa được nghe một đoạn sách Huấn ca, một khúc thơ Phaolô và một số lời Tin Mừng theo thánh Mátthêô. Nếu được phép tổng hợp, chúng ta có thể nói Lời Chúa hôm nay khuyên chúng ta hăy lựa chọn đường lối khôn ngoan của Thiên Chúa và đến với Đức Giêsu Kitô là Đấng đang rao giảng sự khôn ngoan của Thiên Chúa cho loài người.

A. Chúng ta hăy lựa chọn đường lối khôn ngoan

Huấn ca là một tác phẩm trong loại sách khôn ngoan của Thánh Kinh Cựu Ước. Ngay trong đoạn trích đọc vắn tắt hôm nay, người ta đă có thể nhận ra mấy sắc thái chính yếu của tác phẩm cũng như của loại sách Khôn ngoan này. Tác giả kêu gọi sự tự do lựa chọn của con người. Không có sự tự do, không thể nói đến triết học và khôn ngoan. Do đó các sách khôn ngoan không có tính cách giáo điều. Luôn luôn độc giả được kêu mời tự do lựa chọn. Hơn nữa, hạnh phúc mà người ta t́m kiếm nằm ngay ở tầm tay của họ. Giơ tay nắm lấy cái ǵ, hạnh phúc hay bất hạnh, th́ người ta sẽ được ngay cái đó.

Như vậy, tư tưởng của Thánh Kinh không có ǵ là “định mệnh” cả. Chính con người làm chủ vận mạng của ḿnh. Và điều này, ngay trang đầu của bộ Kinh Thánh cũng đă khẳng định. Thiên Chúa bấy giờ dựng nên Ađam-Evà. Người đặt họ trong “vườn địa đàng” có đủ mọi thứ cây ngon lành có thể thỏa măn sự thèm khát của con người. Nhưng giữa vườn cũng có một cây “lành dữ”, mà nếu giơ tay bất quả nó mà ăn, con người sẽ có kinh nghiệm mất mát tất cả những ǵ đang có và bắt được những ǵ ngược hẳn với nếp sống hiện nay. Lúc này họ đang sống trong t́nh giao hữu hạnh phúc với Thiên Chúa là nguồn mọi sự sống. Bứt quả cây trái cấm mà ăn, họ sẽ rơi vào t́nh trạng thù địch với Người và nếm biết sự chết đời đời. Ađam-Evà đă được đặt trong t́nh trạng tự do để lựa chọn tương lai cho ḿnh và con cháu. Trái cây hạnh phúc và bất hạnh ở ngay tầm tay của họ. Họ có thể lựa chọn giữa sự sống và sự chết, giữa “lửa và nước” như lời sách Huấn ca hôm nay viết, bởi v́ “lửa” là h́nh ảnh về sức mạnh tiêu diệt, tàn phá và chết chóc, c̣n “nước” lại nói lên nguồn mạch sinh ra sự sống và sự sống dồi dào. Con người muốn lựa chọn đàng nào cũng được.

Ađam-Evà đă lựa chọn thế nào th́ chúng ta ai cũng đă biết. Chúng ta có thể tức v́ tại hai ông bà đă chọn điều dữ, nên loài người chúng ta ngày nay đang sống trong t́nh trạng sa đọa. Nhưng ngay trong t́nh trạng này, con người chúng ta vẫn có sự tự do lựa chọn. Mặc nhiên, mọi người đều tin như vậy. Chỉ mấy triết gia suy đi tính lại tỉ mỉ quá mức mới dám hoài nghi: không biết cuối cùng con người có c̣n tự do hay không? Hay là họ đă nằm trong bàn tay của một “con tạo đa đoan” và định mệnh của họ đă được ghi khắc một lần thay v́ tất cả ngay cả từ trước khi họ sinh ra ở đời. Hai câu cuối của bài sách Huấn ca hôm nay phi bác mọi luận điệu như thế. Tác giả viết: Thiên Chúa không truyền cho ai phạm tội; Người không ủy lạo kẻ dối trá. Ngược lại truyền thống Thánh Kinh luôn khẳng định: v́ là Đấng tốt lành, Thiên Chúa không muốn ai phải chết: Người luôn ra tay cứu độ; tất cả những ǵ Người làm chỉ là hướng dẫn con người về đường ngay nẻo chính để họ được sống và được sống dồi dào. Lựa chọn sự dữ và bất hạnh là quyền lợi - nói đúng hơn, là quyền hạn - của con người. Đúng hơn nữa, đó là lạm dụng quyền tự do mà Thiên Chúa đă ban cho ḿnh.

Chúng ta có nhiều kinh nghiệm về thái độ của nhiều người khác. Rơ ràng họ được tự do hoàn toàn để lựa chọn điều hay, hay là điều dở, đặc biệt trong các quan hệ với chính chúng ta. Chúng ta tạo mọi điều kiện để giữa họ và ta có những tương quan thuận lợi. Thế mà dường như có một cái ǵ như cố chấp ở nơi họ. Mối t́nh giữa họ và ta chẳng sao xây dựng được và khả quan hơn. Tất cả, theo quan điểm của ta, chỉ v́ họ không muốn.

Có lẽ bài sách Huấn ca đă đi từ kinh nghiệm ấy. Tác giả mở đầu bằng mấy chữ “nếu muốn”. Nếu muốn th́ con người sẽ giữ lệnh truyền của Chúa; và như vậy họ sẽ được sống. Bằng không họ sẽ tra tay vào lửa và lựa chọn sự chết. Tư tưởng của Thánh Kinh v́ thế đề cao sự tự do của con người. “Từ đầu Thiên Chúa đă dựng nên họ và trao họ cho tâm thuật của họ” (Hc 15,14), tức là để cho họ được tự do làm theo ư ḿnh. Tuy nhiên “Người biết hết mọi sự và toàn năng. Mắt Người nh́n xuống những kẻ kính sợ Người”

Thế nên sự khôn ngoan của sách Huấn ca cũng như của tư tưởng Kinh Thánh là con người hăy đi theo đường lối của Thiên Chúa. Chính đó là sự khôn ngoan. Con người giữ lệnh truyền của Thiên Chúa sẽ chắc chắn đi trong đường lối khôn ngoan dẫn đến sự sống, v́ sự “khôn ngoan của Thiên Chúa thật vạn năng”.

Chân lư này, người tín hữu nào cũng công nhận. Khó khăn nằm ở chỗ thực hành. Trong đời sống thực tế, không phải lúc nào cũng dễ tuân giữ lệnh truyền của Thiên Chúa. Chính dân Israel ngày xưa cũng vậy. Mặc cho các tiên tri kêu gọi họ trở về đường lối mà Chúa đă vạch ra trong Luật pháp, họ vẫn đi theo đường lối của họ. Nói đúng hơn, họ muốn sống như mọi dân tộc khác và khước từ cố gắng chu toàn ơn gọi làm Dân Riêng của Chúa. Chúng ta, những kẻ ở trong Dân Mới của Người, cũng không hơn ǵ họ. Chính v́ vậy mà chúng ta cần lắng nghe lời khuyên bảo của thánh Phaolô.

B. Sự khôn ngoan của Thiên Chúa

Thư 1 Côrinthô quen được coi như thư riêng của người Công giáo, theo nghĩa những người này thích đọc nó như người Tin lành thường thích đọc thư Rôma. Và quả thật, thư 1 Côrinthô có nhiều yếu tố để nói với các cộng đồng Công giáo. Nó có cả những đề tài, như lời mở đầu đoạn trích đọc hôm nay cho biết, dành cho những “người thành toàn”, tức là những người đă tiến bộ trong đức tin và đời sống tín hữu. Trong số đó có đề tài về sự khôn ngoan mà bài đọc I hôm nay đă đề cập.

Sự khôn ngoan của đạo chúng ta, kể từ lời mạc khải đầu tiên cho đến lời Kinh Thánh cuối cùng, không phải là sự khôn ngoan của đời tạm này. Càng không phải là sự khôn ngoan của những đầu mục của đời tạm này. Nó là sự khôn ngoan của Thiên Chúa, sự khôn ngoan mà các sách khôn ngoan trong Thánh Kinh Cựu Ước thường đem ra bàn. Tác giả sách Huấn ca đă thấy nó nằm trong các lệnh truyền của Thiên Chúa. Và những tác giả khác cũng đồng ư bảo nó nằm nơi Luật pháp mà Chúa đă ban cho Dân Riêng của Người.

Tuy nhiên Luật pháp th́ dài và lệnh truyền th́ nhiều. Hơn nữa dù vẫn nghe Luật pháp và Tiên tri trong các ngày Hưu lễ nơi Hội đường, người dân Israel ngày xưa vẫn không nhận ra sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Dường như vẫn c̣n có một tấm màn che mắt họ, khiến họ nghe đọc mà chẳng hiểu, xem thấy mà chẳng nhận ra. Măi đến khi tấm màn trong Đền thờ rách toang ra vào Giờ Chúa Giêsu chịu chết trên Thập giá, sự khôn ngoan của Thiên Chúa mới tỏ hiện. Người ta mới biết Đức Giêsu là ai. Người là Đấng Cứu thế! Và Thiên Chúa đă muốn tỏ hiện sự khôn ngoan của Người ở nơi Ngài: “Ngài là Con Chí Ái của Ta, các ngươi hăy nghe Ngài”.

Chính v́ vậy mà thánh Phaolô viết rằng, sự khôn ngoan của Thiên Chúa vẫn giữ kín từ đời đời cho đến lúc bấy giờ. Trước đó người ta đă được nghe nói về đường lối khôn ngoan cứu độ của Thiên Chúa. Người ta cũng đă thấy rất nhiều kỳ công mà Người đă làm. Tuy nhiên tất cả như c̣n là tiền ảnh và biểu tượng và như c̣n được nói bằng “dụ ngôn”. Nhưng mọi sự đă trở nên sáng tỏ và mới hẳn trong mầu nhiệm của Đức Giêsu Kitô, cách riêng trong biến cố Tử nạn - Phục sinh của Người. Đứng trước mạc khải này, những người được ơn khôn ngoan nhất, cũng bàng hoàng như thể trong mơ. Không vậy th́ người Do thái đă không đóng đanh Đức Giêsu; và ngay các Tông đồ đă không lấy việc sống lại làm khó hiểu. Chỉ khi đă chắc chắn về biến cố Phục sinh, các môn đệ mới thấy Đức Giêsu là “Chúa”; họ mới tuyên xưng Người là sự Khôn ngoan của Thiên Chúa; họ mới thấy Luật pháp và Tiên tri trước kia đă chỉ nói về Người.

Như vậy, sự khôn ngoan của Thiên Chúa, sự khôn ngoan mang lại sự sống và hạnh phúc đời đời cho con người, không phải là Luật pháp và các Tiên tri, nhưng là Đức Giêsu Kitô; mà cũng không phải là Đức Giêsu Kitô như xác thịt cho biết, nhưng là “Chúa” Giêsu Kitô trong ánh sáng đức tin mà mầu nhiệm Tử nạn - Phục sinh của Người đă ban cho. Nhờ ánh sáng tỏa ra từ mầu nhiệm này, Luật pháp và Tiên tri mới minh bạch. Sự khôn ngoan của Thiên Chúa giữ kín ở đó mới bộc lộ ra. Từ nay đọc lên người ta mới hiểu rơ v́ họ đă nhận được Thánh Thần, Đấng ḍ thấu mọi sự, cả những chiều sâu thẳm nơi Thiên Chúa. Và Thánh Thần chỉ được ban cho người ta sau khi Đức Giêsu đă tử nạn-phục sinh lên ngự bên hữu Thiên Chúa để tuôn đổ xuống cho những kẻ có ḷng tin.

Thế mà có những tín hữu cứ muốn luận lư với những người chưa có đức tin về đường lối khôn ngoan của Thiên Chúa! Họ c̣n lầm hơn khi dám so sánh đường lối của Thiên Chúa với đường lối của thế gian. Lẽ ra họ đă phải cầu xin trước cho người ta được ơn đức tin. Họ phải lựa chọn Chúa trước rồi mới thấy được sự khôn ngoan của Người. Chính điều này cũng cần phải có để nhận ra ư nghiă của những lời Tin Mừng hôm nay mà Chúa Giêsu, sự Khôn ngoan của Thiên Chúa, đang nói với chúng ta. Người đang rao giảng sự khôn ngoan của Thiên Chúa ở trong Hội Thánh. Chúng ta hăy nghe Người.

C. Thiên Chúa nói sự khôn ngoan của Người với chúng ta

Chắc chắn không nên t́m trong đoạn này một bố cục chặt chẽ. V́ đây không phải là một bài luân lư; nhưng chỉ là mớ những lời dạy dỗ, có thể đă được nói trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, mà tác giả sách Tin Mừng đă lấy đặt đứng bên nhau để làm thành một “bài giảng”.

Chúng ta có thể nhận ra một số câu mở đầu. Đức Giêsu tuyên bố: “Đừng tưởng Ta đến để băi bỏ Lề Luật hay các Tiên tri; Ta đến không phải để băi bỏ mà để làm trọn”. Lời nói hết sức quan trọng. Lập tức, Chúa Giêsu đă khẳng định Người là Đấng phải đến trong thế gian, tức là Vị Cứu thế mà Cựu Ước loan báo phải trông đợi. Uy quyền của Người át cả Lề luật và các Tiên tri. Tuy nhiên Người không phủ nhận và băi bỏ họ. Người kiện toàn họ. Thế nên không được coi nhẹ một nét nhỏ nào trong Luật pháp. Câu này không có ư nói lên bất cứ một chút xíu nào trong khuynh hướng bảo thủ và vụ luật. Nó muốn tăng cường sức mạnh cho câu khẳng định ở trên: Ta đến không phải để băi bỏ mà để làm nên trọn. Và cũng chính v́ vậy mà người trong Dân Mới phải công chính hơn các Kư lục và Biệt phái trong Đạo cũ. Những người này nổi tiếng là những người giữ Luật, th́ những ai theo Đấng đến làm cho Luật pháp nên trọn phải công chính hơn.

Chẳng hạn Luật xưa bảo: Chớ giết người! Th́ nay, Đấng đến làm trọn Lề luật truyền lệnh không được tức giận anh em ḿnh. Người đ̣i hỏi một sự công chính lớn và sâu xa hơn. Người làm “trọn” luật chớ giết người, khi cấm ngay cả sự tức tối trong tâm hồn. Hễ bất ḥa với ai, người ta phải mau mau ḥa giải để có khả năng thờ phượng, tức là để xứng đáng ở lại trong Dân Mới của Thiên Chúa là Dân có bản chất tư tế. Đàng khác người ta luôn phải sợ có tâm hồn bất ḥa như thế mà phải gặp mặt Đấng Chí Công phán xét khi Người bất thần kêu gọi họ ra khỏi đời này. Người muốn môn đệ của Người luôn sống trong trạng thái yêu mến, như Thiên Chúa là Đấng Mến Yêu.

Một thí dụ khác, Luật xưa dạy: Chớ ngoại t́nh! Nay Đấng kiện toàn Lề luật đến, Người tuyên bố: phàm ai nh́n người nữ để thỏa ḷng dục th́ đă ngoại t́nh với nó trong ḷng. Và Người truyền: con mắt nào có những cái nh́n như thế, th́ tốt hơn nên móc mà quăng nó đi. V́ thà mất một chi thể c̣n lợi hơn là có cả toàn thân mà bị xô vào hỏa ngục. Ư của Người muốn người ta phải tiêu diệt tội lỗi ngay từ trong ḷng và nơi các nguyên nhân, điều kiện dẫn đến tội lỗi.

Nhưng đă nói đến ngoại t́nh, Người không thể mau lẹ bỏ qua một thắc mắc đang sôi nổi ở thời bấy giờ và có lẽ ở mọi thời, đặc biệt ở thời đại chúng ta. Luật xưa nói: ai rẫy vợ th́ hăy cho vợ ly thư. Và ở nhiều nơi luật đời hiện nay cũng cho ly dị. C̣n Chúa Giêsu, Đấng đến kiện toàn Lề luật nghĩ thế nào?

Có lần Người đă khẳng định: Xưa Môsê nói như vậy là v́ sự yếu đuối của con cái Israel, chứ tự nguyên thủy không như vậy và những ǵ Thiên Chúa đă kết hiệp, loài người không được phân rẽ. Ở đây, trong đoạn văn này, lập trường trên vẫn không thay đổi, v́ ai cưới người vợ ly dị là phạm tội ngoại t́nh. Nhưng cũng v́ con người yếu đuối, và cũng để tôn trọng chứ không phải băi bỏ Luật xưa đă cho phép, sách Tin Mừng Matthêô hôm nay viết: mọi kẻ rẫy vợ - trừ phi là nố dâm bôn - là làm cho vợ ngoại t́nh. Tác giả cho phép có một nố trừ. Các nhà chú giải mặc sức t́m hiểu sự thật nố trừ này là ǵ. Điều chắc chắn là ngoài tác giả Matthêô ra, không một tác giả Tân Ước nào khác cho phép có luật trừ trong việc cấm ly dị. Sự kiện này cho phép chúng ta nghĩ rằng: trong toàn thể Hội Thánh thời các Tông đồ, đâu đâu cũng rao giảng giáo lư của Chúa tuyệt đối cấm ly dị. Nhưng ở những môi trường người Dothái theo đạo, người ta c̣n bám vào Luật Môsê; người ta nại đến việc Chúa không đến để băi bỏ Lề luật; người ta muốn được áp dụng Luật mới một cách nhẹ nhàng... Có lẽ v́ vậy tác giả Matthêô viết sách cho những môi trường này, đă đề cập tới một nố trừ nhưng vẫn khẳng định tính cách vĩnh viễn của hôn nhân. Nói theo danh từ của Giáo hội hiện nay, có những trường hợp được ly thân nhưng không được ly hôn v́ ai cưới người vợ ly dị là phạm tội ngoại t́nh. Tuy nhiên muốn nói cho hết lẽ, chẳng bao giờ được phép tựa vào một câu để đi ngược lại với toàn bộ giáo huấn chung của Tân Ước và giáo lư sống động của Hội Thánh. Và điều này chúng ta cũng phải áp dụng ở đây.

Chúa Giêsu đang dạy dỗ dân chúng một cách sống động. Người là sự khôn ngoan của Thiên Chúa đến với loài người. Dân chúng không thấy Người nói như các Luật sĩ và Biệt phái. Người có giáo lư mới “mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe”. Người kêu gọi ḷng tin. Người ta được tự do lựa chọn. Và bắt đầu người ta phải tin Người. Đó chính là điều mới lạ. Và cũng là điều tồn tại măi măi trong đạo của Người, đạo của chúng ta.

Ngay trong giờ phút này và ở đây, chúng ta cử hành Thánh lễ. Đây là mầu nhiệm đức tin. Chúng ta tự do lựa chọn thái độ. Mầu nhiệm nằm ở tầm tay chúng ta, theo nghĩa chúng ta có thể đón nhận với niềm tin hay không. Và tùy đó, chúng ta sẽ lănh nhận sự sống của Thiên Chúa hay không. Chẳng sự khôn ngoan nào của loài người giúp chúng ta làm được công việc này. Chỉ có Lời của Chúa Giêsu Kitô, chỉ có uy tín của Người là sự khôn ngoan của Thiên Chúa khiến được chúng ta tin vào sự biến đổi của bánh rượu. Và khi chúng ta đă lănh nhận Bí tích với niềm tin như thế, chúng ta sẽ được gia tăng đức tin, đức cậy và đức mến để thay đổi cuộc đời hàng ngày của chúng ta, không theo sự khôn ngoan của thế gian nữa, nhưng theo sự khôn ngoan của Thiên Chúa đă được biểu lộ cho chúng ta trong Lời Chúa và Ḿnh Thánh Chúa mà chúng ta đón nhận trong Thánh lễ này.

 
 

10. Chú giải của Noel Quesson

Sau các mối Phúc thật, là phần dẫn nhập. Bài giảng trên núi được tiếp tục trong ba chương dài trong đó Matthêu trước hết tập họp sáu phần đề giữa Luật của Mô-sê (“Anh em đă nghe Luật dạy rằng”) và Luật mới của Đức Giêsu (Thầy bảo thật cho anh em biết...). Chúa nhật này, chúng ta, đọc bốn phân đề đầu tiên, đi trước bằng một soạn mở đầu đem lại định hướng tổng quát cho cả bài đọc.

Anh em đừng tưởng Thầy đến để băi bỏ lề luật Môsê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để băi bỏ nhưng là để kiện toàn.

Đức Giêsu không phải là một nhà cách mạng muốn thay đổi mọi sự như thế quá khứ đă không tồn tại, để bắt đầu lại từ con số không? Cũng không phải là một nhà bảo thủ không muốn thay đổi ǵ cả như thể mọi việc trong quá khứ luôn luôn hoàn hảo. Chúng ta chớ quên rằng Tin Mừng của Thánh Matthêu được gởi đến các cộng đoàn Kitô hữu, ở Pa-lét-tin và Ki-ri theo Kitô giáo từ đạo Do Thái. Những câu hỏi về các sự “tiến hóa" được tŕnh bày với nhiều sự kịch liệt: có nên bảo vệ các tập tục cắt b́ cho các em nhỏ không bởi v́ giờ đây đă có phép rửa tội? Có nên tiếp tục tôn trọng ngày Sabát không? Có nên tiếp tục chỉ ăn thức ăn "theo đúng nghi lễ" không? Vấn đề tiến hóa, tiến bộ lịch sử ấy vẫn c̣n là một trong những vấn đề quan trọng nhất của mọi thời đại. Trong những thời kỳ lịch sử biến động, những cuộc xung đột giữa "cũ và mới", giữa "truyền thống" và "tiến bộ" trở nên quá khích. Và điều đó được đặt ra ở khắp nơi: trong Giáo Hội, trong thành phố, trong chính trị trong nghề nghiệp, trong gia đ́nh. Đối với Đức Giêsu, không có vấn đề băi bỏ quá khứ, cũng không có việc bảo tồn nguyên xi mà phải cho nó một sự sống mới, trong một thành tựu. Không phải v́ truyền thống cổ xưa mà nó tốt. Không phải v́ một ư tưởng mới mà nó tốt hơn: Đức Giêsu sẽ cho chúng ta sáu ví dụ trong phần nối tiếp của Bải giảng trên núi.

“V́ Thầy bảo thật anh em, trước khi trời đất qua đi, th́ một chấm, một phết trong Lề Luật cũng không thể đi được, cho đến khi mọi sự được hoàn thành. Vậy ai băi bỏ dù chỉ là một trong những điều răn nhỏ nhất ấy, và dạy người ta làm như thế th́ sẽ bị gọi là bé nhỏ nhất trong Nước Trời. C̣n ai tuân hành và dạy làm như thế, th́ sẽ được gọi là lớn trong Nước Trời”.

Theo Đức Giêsu, Kitô giáo đến để hoàn thành Do Thái giáo. Tân ước là một chồi ghép hoàn toàn mới được nuôi bằng nhựa của cây ô-liu cũ tức "Cựu ước", để làm cho cây sinh ra nhiều quả (Rm 11, 17-24). Vâng, Đức Giêsu là Đấng được loan báo và chuẩn bị, Đấng đến để kiện toàn Luật và lời các ngôn sứ nghĩa là toàn bộ Kinh Thánh, Abraham, Môsê, Đavít, Isaia, các Thánh vịnh, các Hiền nhân, toàn bộ lịch sử và tư tưởng của Israel sẽ trổ hoa và phát triển trong Đức Giêsu.

Thầy bảo cho anh em biết, nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pha-ri-sêu, th́ sê chẳng được vào Nước Trời.

Công thức này phát triển nguyên tắc tổng quát mà sáu phản đề mà Đức Giêsu sắp triển khai sẽ đem lại sự minh họa.

Sự công chính là một từ ngữ Kinh Thánh rất phong phú mà Matthêu ưa thích một cách rất đặc biệt (Mt 1,19; 3,15; 5,6.10-20; 6,1.33; 9,13; 10,41; 11,19; 12,37; 13,17.43.49; 20,4; 21,32; 23,28.29.35; 25,37.46; 27,19.24). Từ “công chính" này không chỉ có ư nghĩa hạn hẹp mà ngôn ngữ hiện đại cho nó: sự công bằng xă hội điều hành những tương quan giữa con người với nhau "sự công chính" theo nghĩa Kinh Thánh chủ yếu là "theo đúng điều mà Thiên Chúa muốn chúng ta trở thành". Một người công chính là người hoàn toàn đồng ư, cộng sinh,liên minh, ḥa hợp với Thiên Chúa, Đấng suy nghĩ và thiết lập vũ trụ và điều hành nó với sự thông minh kỳ diệu. Người công chính, bởi “sự tương ứng" của đời sống người ấy với ư muốn của Thiên Chúa, sẽ tham dự vào Thiên Chúa và đi đến hạnh phúc, nghĩa là đến "mục đích v́ đó mà người ấy được sinh ra". Vả lại Đức Giêsu đề nghị một sự "công chính mới", một sự hoàn thiện con người mới. Đức Kitô nói phải vượt qua sự công chính... vậy của ai nào?

- Các kinh sư những nhà thần học của thời đại ấy, những nhà chú giải Kinh Thánh, những vị thầy có chục vị, những giáo trưởng dạy đạo một cách chính thức… Các người ‘pha-ri-sêu’ (Biệt phái) những giáo dân dấn thân của thời đại ấy, liên kết với nhau trong một "phong trào" của những người nhiệt thành, cố gắng sống mọi yêu sách của đức tin thuần túy nhất không để thanh danh bị tổn hại.

Làm thế nào các môn đệ của Đức Giêsu, những con người nghèo khổ và đơn sơ, không học vấn lại có thể so sánh với những học giả và các chuyên viên nhiệt t́nh của Lề Luật?

Ba ví dụ đầu tiên về sự "trội hơn" mà Đức Giêsu đề nghị là hoàn toàn có ư nghĩa và chủ yếu cho cả đời người:

1) Bạo lực, những mối tương quan sức mạnh giữa con người.

2) Tính dục, những tương quan t́nh cảm và thể xác giữa đàn ông và đàn bà.

3) Chân lư, những tương quan lắng nghe và đối thoại trong sự truyền thông.

BẠO LỰC:

"Anh em đă nghe Luật dạy người xưa rằng: “Chớ giết người". Ai giết người th́ đáng bị ra ṭa. C̣n Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: “ ai giận anh em ḿnh, th́ phải bị đưa ra ṭa. Ai mắng anh em ḿnh là đồ ngốc th́ phải bị đưa ra trước Thượng Hội Đồng. C̣n ai chửi anh em ḿnh là quân phản đạo th́ phải bị lửa hỏa ngục thiêu đốt. Vậy nếu khi anh em đang có chuyện bất b́nh với anh, th́ hăy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm ḥa với người anh em ấy đă; rồi trở lại dâng lễ vật của ḿnh. Anh hăy mau mau dàn xếp với đối phương, khi c̣n đang trên đường đi với người ấy tới cửa công, kẻo người ấy nộp anh cho, quan ṭa, quan ṭa lại giao cho thuộc hạ, và anh sẽ bị tống ngục. Thầy bảo thật cho anh biết: anh sẽ không ra khỏi đó, trước khi trả hết đồng xu cuối cùng..."

Đây là “môi trường" thứ nhất mà con người phải trội hơn; môi trường của những mối tương quan nhân loại có xung đột và gây gỗ. Đức Giêsu biết rơ ḷng dạ con người, trước khi trở thành những hành động xấu th́ thù hận, sự khinh khi, bản năng thống trị đă làm hư hỏng tâm hồn con người. Bạo lực không chỉ là quả bom của kẻ khủng bố làm cho bạn kinh hoàng... bạo lực đă ở trong ḷng bạn, khi bạn tức giận trong ḷng chống lại những người không suy nghĩ như bạn. Và Thiên Chúa bảo đảm:cho phẩm chất các mối quan hệ của bạn: bạn phải "ḥa giải" với kẻ thù của ḿnh trước khi cầu nguyện! đó là cái mới mẻ, cái triệt để của Tin mừng... trong tương quan với luật cũ.

TÍNH DỤC:

Anh em đă nghe Luật dạy rằng: "Chớ ngoại t́nh C̣n Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ai nh́n người phụ nữ mà thèm muốn, th́ trong ḷng đă ngọai t́nh với người ấy rồi. Nếu mắt phải của anh làm cớ cho anh sa ngă, th́ hăy móc mà ném đi, v́ thà mất mộ phần thân thể, c̣n hơn là toàn thân bị ném vào hỏa ngục. Nếu tay phải của anh làm cớ cho anh sa ngă, th́ hăy chặt mà ném đi; v́ thà mất một phần thân thể, c̣n hơn là toàn thân phải sa hỏa ngục... Luật c̣n dạy rằng: "Ai rẫy vợ th́ phải cho họ chứng thư ly dị". C̣n Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ngoại trừ trường.hợp hôn nhân bất hợp pháp, ai rẫy vợ là đẩy vợ đến chỗ ngoại ḿnh, và ai cưới người đàn bà bị rẫy, th́ cũng phạm tội ngoại t́nh..”

Những quan hệ giữa "đàn ông" và “đàn bà" là "môi trường" thứ hai trong đó Đức Giêsu mời gọi chúng ta "trội hơn" Lề Luật. Trước tiên chúng ta hăy ghi nhận rằng lời của Đức Giêsu nói ra là theo "quan điểm" của đàn ông, bởi v́ xă hội thời Người, là một xă hội của đàn ông. Rơ ràng ngày hôm nay phải đọc những lời ấy trong sự hỗ tương trọn vẹn. "Mọi người đàn bà bỏ rơi chồng ḿnh …

Những lời này của Đức Giêsu, liên quan đến tính dục của bạn, vợ chồng bạn, đời sống độc thân của bạn... bạn hăy đọc lại những lời ấy, như thể Đức Giêsu nói với chính bạn, mặt đối mặt. Những lời này đụng đến nhiều vết thương c̣n đau nhức, nhiều lư tưởng bị nhạo báng, nhiều ước mơ không được thực hiện đến nỗi có lẽ cần được giải thích đôi chút. Những cuộc tranh luận về "ngoại lệ của Mat-thêu” trừ trường hợp hôn nhân bất hợp pháp) rất khó chỉ rơ, và tốt hôn hết là tham khảo đến những lời ghi chú của Kinh Thánh có ghi nhận về các cách hiểu về ngoại lệ ấy.

Tuy nhiên mỗi người chúng ta phải đón nhận lời yêu cầu của Đức Giêsu như một lưỡi gươm: Trong thế giới sự phi nhân mà chúng ta đang sống; những lời ấy của Đức Giêsu quả là thúc bách và dường như đi ngược lại với sự phát triển của đàn ông và đàn bà. Thật vậy, trong đáy ḷng, chúng ta nhận biết những lời ấy xác định đường lối duy nhất và thật dũng cảm của việc phát triển thật sự. Cũng không nên hiểu những lời ấy như những điều quy định về luật pháp: Sự "'trội hơn" Luật mà Đức Giêsu đề nghị chỉ có thể sống... với Người, với ân sủng và t́nh yêu của Người.

CHÂN LƯ:

“Anh em c̣n nghe Luật dạy người xưa rằng: “Chớ bội thề, nhưng hăy trọn lời thề với Đức Chúa". C̣n Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: đừng thề chi cả. Đừng chỉ trời mà thề, v́ đất là bệ dưới chân Người. Đừng chỉ Giêrusalem mà thề, v́ đó là thành của Đức Vua cao cả. Đừng chỉ lên đầu mà thề, v́ anh không thể làm cho một sợi tóc hoá trắng hay đen được. Nhưng hễ “có” th́ phải nói “có”, “không” th́ phải nói “không”. Thêm thắt điều ǵ là do ác quỷ…”

Đây là những lệnh truyền của Đức Giêsu mang tính hiện đại rất cao. Đây hoàn toàn là vấn đề hiệp thông giữa con người với nhau. Những tương quan của con người bị làm hư hỏng từ bên trong bởi sự lừa bịp, bởi thủ đoạn, sự giả vờ, sự giả mạo, quỷ quyệt, dối trá… sự quảng cáo và thông tin thương mại… Đức Giêsu mời bạn đến với chân lư của cuộc “đối thoại”, các cuộc đàm luận của chúng ta. T́m một sự bảo đảm bên ngoài trong một lời thề là một điều vô ích (tôi thề với anh tôi nói sự thật!) lời nói của một con người, lời nói của bạn tự nó phải có một giá trị: hễ có th́ phải nói có, không th́ phải nói không… Đức Giêsu tạo ra một “nền đạo đức” mới. Người không băi bỏ ǵ cả, người “kiện toàn” từ trong nội tâm điều mà tự nền tảng là lư tưởng của mọi chủ nghĩa nhân bản chân chính.

 
 

11. Chú giải của Fiches Dominicales

“TA KHÔNG ĐẾN ĐỂ BĂI BỎ NHƯNG ĐỂ KIỆN TOÀN”

VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Nguyên tắc chung: “không băi bỏ, nhưng kiện toàn”.

Leo lên ngọn núi Sinai mới, Đức Giêsu, trong các mối phúc của ńnh, trước tiên, tán tụng cảnh sống hạnh phúc của các môn đệ qua lời mở đầu của bài giảng trên núi: "Phúc cho những tâm hồn nghèo khó: v́ nước trời là của họ”. Đoạn ngài, minh định sứ mệnh trao phó cho họ: "Các con là muối đất... các con là ánh sáng trần gian" tiếp đến trung tâm bài Hiến chương, Ngài mạc khải cho các người của ḿnh sự mới mẻ hoàn toàn của Tin Mừng. Bản văn mang đậm dấu ấn của thánh Mátthêu này gợi lên áp lực lưỡng diện đang đè nặng trên những cộng đoàn Kitô giáo.

Trước tiên, là áp lực ngoại tại của hội đường, nhân danh lề luật bắt bớ các môn đệ của Đức Giêsu. Sau đó, là áp lực nội tại của các cộng đoàn tín hữu bất nguồn từ Do thái giáo, "truyền thống hơn " đôi khi co vào sự tuân giữ lề luật theo nghĩa ngữ, đối lại với các tín hữu xuất thân từ đa thần giáo, luôn t́m cách gièm pha lề luật Giáo huấn của Đức Giêsu sẽ sửa lưng cả hai. Quả thật, Ngài tuyên bố rằng ḿnh "không đến để băi bơ lề luật hay các tiên tri, mà để kiện toàn" nghĩa là thể hiện một cách viên măn, hoàn hảo trong t́nh yêu và tự do của Con cha trên trời. V́ thế, từ nay "sự công chính" mới hệ tại không phải ở chỗ khép ḿnh một cách bề ngoài vào các tập tục, nhưng là "khuôn ḿnh" theo thánh ư Chúa Cha như Đức Giêsu. Sống trong cộng đoàn với t́nh yêu và tự do của con cái có thể, mới “công chính" hơn các luật sĩ và biệt phái được Thánh Irênê thành Ly-on, vào thế kỷ thứ hai đă hỏi: như vậy, khi đến trần gian này, Chúa đă mang theo những ǵ? Ngài đă mang theo sự mới mẻ hoàn toàn bằng chính con người của Ngài.

2. Những áp dụng cụ thể

Tiếp sau là năm phản đề cụ thể hóa "sự công chính mới" sẽ là bài học áp dụng nguyên lí tổng quát này vào cuộc sống tín hữu, v́ chính toàn thể lề luật Phúc âm phải bao bọc toàn thể cuộc sống các môn đệ. Năm h́nh ảnh, mà chúng ta sẽ theo dơi trong bài đọc chúa nhật tới, đều bắt đầu với công thức "Anh em đă nghe biết người xưa dậy rằng... c̣n Thầy, Thầy bảo cho anh em biết... " Một kiểu nói trống để tránh dùng tên Thiên-Chúa, có nghĩa là "Thiên-Chúa đă phán ", "anh em đă nghe biết khi lời Chúa được công bố long trọng trong hội đường", đối lại, Chúa đưa ra những xác quyết của riêng ḿnh "C̣n Thầy, Thầy bảo cho anh em biết". Theo Jean Potin, "Đức Giêsu tự giới thiệu như là một Môse mới, không chỉ đủ thẩm quyền giải thích luật lệ của Thiên Chúa, mà c̣n cách tân: luật Chúa đă bảo anh em...nhưng Thầy, Thầy bảo anh em...ngài c̣n hơn cả luật Môsê mới nữa v́ Ngài không chỉ bằng ḷng nói về lề luật mới như một nhà làm luật, mà c̣n cắt nghĩa cho người cụ thể để họ gắn bó ngày càng mật thiết hơn với Thiên-Chúa Cha, là Đấng mà họ phải nên hoàn thiện như Người. " (Đức Giêsu, lịch sử đích thực, Centurion, tr. 198) Minh họa đầu tiên là “mối tương giao huynh đệ” Thập giới truyền bảo "ngươi không được giết người'? C̣n Chúa Giêsu, đi đến cùng chung đ̣i hỏi cua lề luật, đă tuyên bố rằng, nguyên việc không phạm tội sát nhân thôi: chưa đủ, mà c̣n phải loại bỏ nỗi oán hận và giận hờn khỏi ḷng ḿnh nữa. J.Potin viết “Trong thập giới của Môsê, lên án tội giết người thuộc giới răn thứ năm. Ở đây, nó được nói đến đầu tiên, chắc chắn v́ nó bao hàm một cách tiềm ẩn giới răn tràn đầy bài diễn từ trên núi t́nh yêu tha nhân, thực tế trong t́nh yêu tha nhân...trở thành giới răn đầu tiên: Đức Giêsu đă thấy mầm mống của giới luật yêu thương này trong điều răn lên án việc giế người. Kính trọng sự sống người khác mở đường cho việc bày tỏ t́nh yêu ân cần hơn đối với tha nhân. Cả hai đều phải được xem xét trước mặt Thiên-Chúa là Đấng mà Đức Giêsu sẽ là quan án và hiền phụ”. (Sách đă dẫn, tr. 198-l99)

Hai ví dụ ở ngôi thứ hai số ít "anh" tiếp nối ḿnh hoạ thứ nhất "v́ thế, khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ…”xung đột là mầm mống sát nhân, và ḥa giải là một bổn phận cấp thiết hơn cả việc dâng của lễ cho Thiên-Chúa: "hăy đi làm ḥa với người anh em trước đă rồi hăy trở về dâng lễ vật của ḿnh" hăy mau mau dàn xếp với đối phương": thù oán dây dưa, ngày sau sẽ vô phương cứu chữa trước ṭa án Thiên-Chúa.

Minh họa thứ hai nói về mối tương giao nam nữ trong đời sống hôn nhân. Trong Do Thái giáo, thủy chung là nền tảng của đời sống hôn nhân: nó được chứng thực bằng sự thủy chung của Thiên-Chúa đối với giao ước và với dân riêng người. J.Potin cắt nghĩa: "Hôn nhân không chỉ là một khế ước có tính luật pháp. Nó ràng buộc con người tự đáy ḷng họ. V́ thế khi người đàn ông đă có vợ thèm muốn vợ người khác là đă phạm vào dây hôn phối. Trái tim đă chệch khỏi Giao ước của nó. " (Sách đă dẫn, tr. 199).

Minh họa thứ ba nói đến những lời thề hứa mà người ta cho rằng sẽ mạnh hơn khi nại đến những thực tại ít nhiều thánh thiêng: "Chỉ trời, chỉ đất, chỉ Jerusalem... " Đức Giêsu xác quyết, đừng thề gian không thôi chưa đủ c̣n phải diệt trừ khỏi ḷng ta sự lập lờ, bất chính, đa nghi nữa, không được đi xa hơn lời nói chân thực gian dối: "khi các ngươi nói có" là phải "có '! Mức qui định mà Đức Giêsu kêu gọi các môn đệ là: biến đổi tấm ḷng để có thể hiệp thông với những t́nh cảm của Thiên-Chúa được biểu hiện trong Đức Kitô con Ngài. Như đức cha L.Daloz viết "Đối với các môn đệ, kiện toàn lề luật khác hẳn việc thực thi các mệnh lệnh. Đúng hơn, đây chính là việc để cho các luật kiện toàn chính ḿnh, đưa ḿnh đi tới cùng ("Nước Trời đến gần", Desclée đe Brouwer, tr. 51)

BÀI ĐỌC THÊM:

1. “Hăy để cho lề luật kiện toàn chính chúng ta” (Đức cha L. Daloz. trong nước Trời đến gần! Desdée de Brouwer, 1994, tr 51).

"Đức Giêsu kiện toàn lề luật bằng cách trả lại cho nó tất cả sự trong sáng của lời Thiên Chúa, khi nhấn mạnh đến điều cốt lơi: "Ta muốn ḷng nhân từ chứ không phải hi tế." Khi được hỏi về giới răn trọng nhất. Ngài không do dự trả lời rằng toàn bộ lề luật và tiên tri đều qui về giới răn trọng nhất là yêu mến Thiên-Chúa hết ḷng, hết linh hỗn, hết trí khôn và yêu thương anh em chính ḿnh.(Xem 22,34-40). Chính Ngài đă kiện toàn giới răn cao cả ấy bằng cách tự hiến đời ḿnh. Phần các môn đệ, kiện toàn lề luật khác hẳn việc tuân thủ các mệnh lệnh. Đúng hơn, chính lề luật kiện toàn ta, đưa ta đi cùng. Có thế mới đáng để ta tuân giữ giới răn nhỏ bé nhất thậm chí cho tới một nét phẩy - không phải v́ tỉ mỉ hay cầu toàn, nhưng v́ tự hiến hoàn toàn, mở ḷng trọn vẹn, để lời của Thiên-Chúa thấm nhập và biến đổi tận đáy ḷng ta, và biến ta nên hoàn hảo như Cha trên trời là Đấng hoàn hảo. Đây không phái là sự nô lệ ma là t́nh nguyện. Nó không bao giờ kết thúc v́ ta luôn bất toàn. Đây là sự rèn luyện trường ḱ về tính sáng suốt và ḷng can đảm. Trước tiên, đây là một hồng ân, một ân huệ của Thiên Chúa, Đấng muốn và thực hiện nơi ta điều đó đây chính là tác phẩm của Chúa Thánh Thần, Đấng đến để sản sinh trong ta những hoa trái của người, như vậy kiện toàn lề luật là ghi khắc nó vào tận đáy ḷng ta..."

2. “Sự cấp tiến của bài giảng trên núi”. (J. Guillet, Đức Giêsu trong niềm tin của các môn đệ tiên khởi. Desclée de Brouwer, 1995).

Tính cấp tiến này không hề nệ luật. Điều hay nhất của bài giảng là không có thêm một điều khoản bổ túc, một đ̣i buộc mới nào. Nhưng là không cho phép bất cứ ai tự tin ḿnh đă đạt đến sự công chính cao siêu cả. Nó bắt mọi môn đệ tự do tưởng tượng, tiến xa hết mức trong việc phục vụ và trong t́nh yêu tha nhân. Giới luật đặc thù của Tin Mừng luôn có tính tích cực. Tại chỗ mà luật cũ mang tính tương đối và hạn định một giới hạn không thể vượt qua "Ngươi không được giết người, không được phạm tội ngoại t́nh " th́ Đức Giêsu lại công thức hóa chúng theo đường hướng tích cực: trước hết, hăy đi làm ḥa đă, hăy móc mắt phải mà nén đi. Ta phải biết nhận ra nguyên lí nền tảng đàng sau những phóng đại quen thuộc theo kiểu nói Phương đông, anh không được đặt giới hạn cho t́nh huynh đệ, cho việc tôn trọng phụ nữ."

3. “Cuộc cách mạng tôn giáo vĩ đại nhất từ trước tới nay” (H. Denis 100 từ nói lên niềm tin: Desclée de Brouwer, 1993).

"Bạn có biết thập giới không? Có lẽ bạn có thể đọc thuộc mười điều răn bằng văn xuôi hay văn vần, điều đó không quan trọng. Điều quan trọng hơn, đó là biết được điều Đức Giêsu đă làm đối với thập giới. Ta có thể nói với Ngài rằng Lề Luật, không bị hủy bỏ, nhưng được thăng tiến để được kiện toàn. Nói cách khác, ta cũng phai để ư kẻo khi vượt lên lề luật, ta lại khinh thường nó bằng cách bám víu vào đó như Đức Giêsu chưa từng kiện toàn nó vậy. Với cái nh́n này, bài giảng trên núi có lẽ là cuộc cách mạng tôn giáo vĩ đại nhất của mọi thời. Một con người, một vị tiên tri, một sứ giả của Thiên-Chúa dám nói lên những lời chưa từng nghe, anh em đă nghe Luật dạy "người xưa rằng, c̣n thầy, Thầy bảo cho anh em biết”: Vị Giêsu này vượt trên cả lề luật. Bạn hăy tưởng tượng xem Luật dậy người xưa. Luật ở đây là ai? Thật đơn giản. đó chính là Thiên-Chúa của Cựu ước, Đấng đă ban Lề Luật. V́ thế mà đối với người Do thái, không ai có thể vượt hơn Lề Luật, hơn được Lời Thiên-Chúa đă trao ban một lần cho đến muôn đời được: Vậy mà, có một người đă dám vượt trên Lề luật, bạn hăy lần lượt xét kỹ từng giới răn rồi sẽ thấy, quả thật, khi đă biết Đức Giêsu là ai rồi, người ta sẽ thấy các giới răn thiêng liêng này thật tương đối so với một điều cao cả hơn nhiều là nhận ra T́nh yêu được biểu lộ nơi Đức Giêsu, con Chúa Cha. Luật dạy người xưa rằng, c̣n Thầy, Thầy bảo cho anh em biết. Có lẽ các bạn đă biết đây là một trong ba luận cứ mà thần học đă rút ra từ Tin Mừng, coi như để mạc khải thiên tính của Đức Giêsu (một Đức Giêsu, may thay không bao giờ tự xưng: ta là Thiên Chúa, nhưng anh em bảo Thầy là ai? Các bạn cũng biết hai luận cứ kia là ǵ rồi. Thứ nhất đó là việc gọi Thiên Chúa là Cha, người Cha (Abba) thân thương thực sự. Sau đó là lời yêu sách quá quắt. Mọi tội con đă được tha ‘chỉ ḿnh Thiên Chúa mới có quyền tha tội mà thôi’.

Bạn thấy lề luật được kiện toàn này đưa ta đến đâu vào những lúc nghi nan, hay những giây phút mỏi ṃn v́ phải trung thành với Lề luật, bạn hăy nhớ đến sự can đảm của Đức Giêsu: “Luật dạy người xưa rằng, c̣n Thầy, bảo cho anh em biết." 

 
 

12. Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt

KIỆN TOÀN LỀ LUẬT VÀ ĐỨC CÔNG CHÍNH MỚI

CÂU HỎI GỢI Ư

1. “Làm trọn Lề luật" (5, 17) có nghĩa là ǵ? Phải hiểu thế nào các "tương phản" (5, 21. 27. 31. 33. 38. 43) sau khi đọc đoạn khai triển về việc làm trọn Lề luật (5, 17- 20)? Chúa Giêsu kiện toàn “điều đă được nói cho người xư'a "ở điểm nào? Đâu là sự “dư dật" của đức công chính được đề ra (c. 20)?

2. Hăy nêu lên trong Tin Mừng những cử chỉ Chúa Giêsu tỏ cho thấy Người không đến băi bỏ Lề luật: ví dụ đối với Đền Thờ, việc nộp thuế, lễ Vượt Qua, việc chúc lành các bữa ăn, kinh nguyện hằng ngày, chính quyền, việc hành hương Giêrusalem v.v...

3. Theo nghĩa nào Chúa Giêsu đă giải phóng Lề luật khỏi các khoản thêm thắt của Biệt phái đă khiến mục đích chân chính của Lề luật bị đổi hướng?

4. Có thể ly dị vợ trong trường hợp gian dâm không? Khoản luật này có nghĩa ǵ? Phải chăng đây là một luật trừ?

*******

1. Sau khi kêu gọi môn đồ và dân chúng, trong các câu dẫn nhập vào Diễn từ, bằng cách phác họa cho họ thấy dung mạo con cái Nước Trời, Chúa Giêsu lập tức đề pḥng một ngộ nhận: điều Người loan báo có thể xem như băi bỏ Cựu ước (được gọi dưới cái tên Lề luật - tức bộ Ngũ Thư - và các Ngôn sứ tức là toàn thể các sách linh ứng khác), nhưng kỳ thực là không: Người không đến băi bỏ, song để làm trọn, kiện toàn. Việc hoàn tất ấy nhắm lới Thánh Kinh xét như là tuyển tập các sấm ngôn mà Chúa Kitô đến thực hiện, và xét như là tuyển tập các luật lệ diễn tả thánh ư Thiên Chúa, mà Chúa Kitô đến kiện toàn.

2. Một trong các bản tuyên tín cổ xưa nhất, có lẽ từ khoảng năm 35- 40, quả quyết như sau: "Chúa Kitô đă chết v́ tội lỗi ta, theo lời Thánh Kinh. Người đă bị chôn cất, đă sống lại ngày thứ ba, theo lời Thánh kinh" (1Cr 15, 3- 5). Niềm xác tín Chúa Kitô hoàn tất Thánh Kinh như vậy đă ăn sâu vào tâm thức Kitô hữu. Nó cấu thành niềm tin của cộng đoàn nguyên thủy, và là trọng tâm của việc họ hiểu Lời Chúa. Nhờ việc hoàn tất này, Giáo Hội xuất hiện như là đích điểm của chuyển động lịch sử mà Thiên Chúa đă lèo lái, và Chúa Kitô tỏ ra như là trung tâm bảo đảm sự duy nhất của Thánh Kinh. Người là Đấng "đă được nói đến trong Lề luật Môisen và các ngôn sứ ” (Ga 1, 45): Tin lời Thánh Kinh tức là tin và Người: V́ chính về Ta mà Môisen đă viết" (Ga 5, 45). Và suốt cuốn Tin Mừng, Mt đă chú tâm làm nổi bật việc Chúa Kitô hoàn tất Thánh Kinh như vậy.

3. Nhưng nếu Chúa Giêsu đến hoàn tất các sấm ngôn, th́ Người cũng đến tŕnh bày một cái nh́n đúng đắn hơn về tinh thần được tiềm ẩn dưới các giới lệnh chính thức của Lề luật. Ngoài ra, công cuộc kiện toàn này c̣n có đặc điểm là tinh thần Tin Mừng nay thấm nhập vào pháp chế cổ xưa, là cái có mục đích chuẩn bị sự nẩy nở của Tin Mừng. Như nụ hoa kết liễu và biến mất trong đóa hoa, Cựu ước cũng nở ra trong Tân ước. Thay cho văn tự ngột ngạt đè nén, này đây tinh thần đến giải phóng con người.

Các kiểu so sánh Chúa Giêsu dùng - không một chấm một phết của Lề luật sẽ bị biến mất - thoạt nh́n tưởng là có nghĩa duy tŕ hoàn toàn bộ luật Cựu ước bao lâu c̣n vũ trụ (“trời và đất", thành ngữ cổ điển). Nhưng các ví dụ đưa ra đi ngược lại và cho thấy Người không nhằn bảo tồn chất thể tính của các giới lệnh. Người chỉ duy tŕ chúng bằng cách vượt trên chúng. Không phải bằng cách chồng chất thêm điều khoản, như nhóm Biệt phái và tiến sĩ luật đă làm, song là đưa vào một năo trạng có tính cách tôn giáo hơn, khả dĩ làm nổ tung các khuôn khổ cũ (9, 16- 17) mà vẫn không hủy diệt các giới răn. Đây chẳng phải là việc phá hủy, song là đổi mới canh tân. Toàn bộ đóng góp tích cực về tôn giáo của Cựu ước đều được duy tŕ, gạn lọc khỏi các thể chế lỗi thời và thối nát.

CHÚ GIẢI CHI TIẾT

"Không một chấm một phết": Phải giải thích câu này trong cái nh́n toàn bộ Tin Mừng Mt. Nếu Chúa Giêsu muốn đề nghị ở đây một sự tuân hành mặt chữ Lề luật, Người sẽ trực tiếp mâu thuẫn với thái độ của chính ḿnh, v́ xem ra Người đă chẳng giữ đúng các khoản luật nhỏ nhặt của Cựu ước, nhất là khoản về thu nhập và tinh sạch theo lễ nghi (15,3; 19,17; 22, 36. 38. 40 v.v...), hơn nữa Người sẽ mâu thuẫn với lời giảng huấn của ḿnh, v́ trong các ví dụ sau đó, Người sửa đổi Lề luật trên nhiều điểm quan trọng như khoản luật về ly dị của Đnl 24,1. Do đấy phải xem thành ngữ của Chúa Giêsu là một kiểu nói Do thái, đặc biệt của các giáo sĩ, nhằm làm nổi bật uy quyền tuyệt đối và trường tồn của Lề luật, nhưng là một Lề luật đă được giải thích lại, được gạn lọc khỏi các yếu tố lỗi thời, được kiện toàn nhờ tinh thần t́nh yêu sinh dộng nó. Thứ Lề luật đă được chú giải lại như thế phù hợp với chủ ư nguyên thủy của Thiên Chúa, là Đấng đă ban nó cho Môisen đầu tiên. Chính trong chiều hướng ấy mà ta có thể xác quyết tính cách bền vững của Lề luật: trời đất sẽ qua đi nhưng thánh ư Thiên Chúa sẽ không qua bao giờ.

"Một trong những điều răn nhỏ hèn nhất": Một lần nữa, đây không phải là bắt chước việc giữ luật theo mặt chữ của Biệt phái. Khi đă lưu ư đến văn mạch của Diễn từ, chớ quên rằng từ đây Luật chẳng phải là luật Môisen đối nghịch với tinh thần mới, nhưng là Luật Thiên Chúa với sự viên măn mà Chúa Giêsu đă thực hiện. Nên so với Lề luật diễn tả thánh ư Chúa Cha và được Chúa Giêsu giải thích lại như thế, th́ các điều răn phụ tùy cũng có giá trị riêng của chúng. Ở đây nhấn mạnh đến việc thực hành Luật Tin Mừng, có lẽ v́ muốn ám chỉ tới nhóm Biệt phái "nói mà không làm" (23, 3). Lối giải thích này được xác nhận bởi cách đặt tiếp liên các động từ ("phạm - dạy... làm- dạy"); đặt việc vi phạm hay thi hành điều luật trước, và việc dạy dỗ ra sau trong cả hai lần.

Câu 20 phát biểu chủ đề của những điều sẽ nói: "Nếu đức công chính của các ngươi không dư dật hơn kư lục và Biệt phái...". Lời tuyên bố long trọng này sau đấy được minh giải qua 6 ví dụ cụ thể, trong đó Chúa Giêsu đối chiếu lời Người tái giải thích Lề luật với giáo huấn chính thức của Do thái giáo. Tất cả các ví dụ đều được kết cấu theo một kiểu như nhau: trích dẫn một điều luật đoạn đề ra các yêu sách mới ("Ta bảo các ngươi..."). Sáu ví dụ này là: giết người (cc.21- 26), ngoại t́nh (cc. 27- 30), ly dị cùng tính cách bất khả phân ly của hôn nhân (cc.31- 32), thề thốt (cc.33- 37), báo thù (cc.38- 42) và yêu kẻ thù nghịch (cc.43-47). Trong cả 6, sự công chính mà Chúa Giêsu rao giảng tỏ bày ra một cách sâu xa và hiện thực.

Từ luật cấm giết người (c. 21), Chúa Giêsu đi qua các yêu sách của bác ái: không nhục mạ tha nhân (c.22), song hăy làm ḥa với họ. Đối với Mt, tính cách mới mẻ của Kitô giáo phát xuất từ trực giác căn bản Chúa Giêsu đă mặc khải cho môn đồ: đó là sự kiện tất cả chúng ta đều là con cái của Cha trên trời. Và sự kiện chủ yếu này đưa tới một hệ luận quan trọng: mọi người là anh em. Trước đó Chúa Giêsu đă nhấn mạnh đến điểm thứ nhất, đă luôn luôn quy chiếu về Thiên Chúa như là Cha từ đầu đến cuối Diễn từ. Ở đây Người chạm tới điểm 2, khi dùng chữ anh em 4 lần trong các câu 22- 24.

Trong mấy câu 22-24, chớ đi t́m các phân biệt theo kiểu giải nghi học xa lạ với năo trạng của Chúa Giêsu. Thực ra, Người chỉ muốn sử dụng những phạm trù pháp lư của môi trường ḿnh và kiểu nói của các giáo sĩ, để kết án sự giận hờn như là một hành động giết người, dù nó xuất hiện dưới h́nh thức nào đi nữa. (Về ư nghĩa các chữ "đồ ngốc", "đồ khùng", "ṭa án", "công nghị", xin xem chú thích của BJ)

"Khi ngươi dâng của lễ nơi bàn thờ": Câu này không rơ ràng mấy về chi tiết. Có thể là người sắp dâng hy lễ đă làm phật ḷng tha nhân, hay tha nhân đă tức giận người dâng lễ (có duyên cớ hay không, bản văn chẳng xác định ǵ). Giả thuyết thứ hai có vẻ đúng hơn, v́ người dâng lễ đă ở bên bàn thờ khi sực nhớ lại: điều này minh chứng cơn giận không ở trong ḷng anh ta nhưng cái đó chẳng quan trọng; điều đáng kể là trong hai trường hợp, thiện ích của sự b́nh an đ̣i hỏi ta phải t́m cách giải ḥa với nhau, trước khi tŕnh diện trước mặt Thiên Chúa. Đó là sự tế nhị của ḷng bác ái Chúa Giêsu mà ta không mấy thích, v́ nhiều khi ḿnh là đối tượng của một sự hờn oán bất công. Câu tiếp theo (c. 25) tŕnh bày một dụ ngôn tiềm ẩn nhằm cụ thể hóa lời giảng huấn đi trước: cũng như người ta t́m cách thỏa thuận với chủ nợ để khỏi gặp cảnh khốn khổ hơn, th́ cũng vậy phải t́m cách giải ḥa gấp với nhau để tránh thoát h́nh phạt của Thiên Chúa. Ư tưởng sau chỉ được hiểu ngầm thôi, tuy nhiên cung cách long trọng của c. 26 gợi lên điều đó.

Về vấn đề ngoại t́nh (cc. 27- 30), tính cách triệt để của Lề luật được đặc biệt nhấn mạnh: người Kitô hữu chẳng những sẽ không phá vỡ tổ ấm của anh em ḿnh qua việc lấy vợ anh em, mà c̣n không được để phát sinh trong ḷng ḿnh ư muốn phá vỡ đó. Sự toàn vẹn của tổ ấm gia đ́nh phải vượt lên ngay cả trên sự toàn vẹn thể lư, là cái ǵ rất quư đối với con người, v́ con mắt giúp đi đứng, c̣n tay chân lại giúp hành động. Đây là kiểu nói đại ngôn cho thấy phải coi trọng đến độ nào yêu sách tuyệt đối của Lề luật. Truyền thống giáo sĩ cũng đi theo chiều hướng ấy.

"Trừ phi là nố dâm bôn": Câu này (được Mt 19, 9; Mc 10, 11-12; Lc 16,18 bổ túc) không phải là dễ hiểu, v́ nó nại đến nhiều ư niệm pháp lư mà ta chẳng c̣n quán triệt được ư nghĩa đích xác. Dù sao đại ư vẫn rơ ràng: sự bao che của luật Môisen, được bảo đảm nhờ ly thư, trở nên thất liệu trong lời Chúa Giêsu tái giải thích Lề luật. Kết luận tổng quát này dựa trên các lư chứng sau đây:

1. Toàn bộ Diễn từ cho thấy Chúa Giêsu muốn vượt quá Lề luật cho đến bây giờ hăy c̣n hiệu lực. Thế mà trong trường hợp hôn nhân, dù công nhận sự vô hạnh (gian dâm) như là luật trừ, Người vẫn không đi xa hơn mấy lập trường của Shammai, một giáo sĩ Do thái đương thời.

2. Trong Mt 5-7, cũng như các chỗ khác, ta chẳng hề thấy Mt phát biểu một sự chế hạn nào đó khi ghi lại một huấn thị luân lư của Chúa Giêsu; thực vậy, các bản văn ấy cho thấy Người rơ ràng không muốn sa vào lối phân biệt các nố đặc biệt như các giáo sĩ thường làm, mà chỉ nhắc lại cách đại cương trật tự sáng tạo Thiên Chúa đă thiết lập.

3. Mc và Lc không nói đến điều khoản này. Khó mà nghĩ rằng hai ông đâ bỏ qua một lời tuyên bố thật sự biến đổi nguyên tắc bất khả phân ly của hôn nhân.

4. 1Cr 7, 10-11, lời giải thích xưa nhất về câu nói của Chúa mà Phaolô cũng biết, xác nhận luật cấm tuyệt đối không được ly dị (tuy nhiên câu 11 nói đến trường hợp ly thân mà không tái giá).

Do đó không thể chủ trương rằng trong tâm trí Chúa Giêsu, việc ngoại t́nh làm thành một luật trừ, như người Tin lành và Chính thống giáo vẫn kết luận từ điều khoản đó (tuy nhiên có nhiều thần học gia Tin lành mới đây đă chấp nhận cách đại cương lời kết luận của chúng tôi). Thế nhưng các nhận xét trên đây không phải là lời chú giải điều khoản của Mt. Muốn t́m hiểu, xin khảo cứu các sách chú giải chuyên môn và các bài đăng trong tạp chí.

"Ta bảo các ngươi đừng thề thốt chi cả": Lời nghiêm cấm này xem ra tuyệt đối đến nỗi nhiều giáo phụ đă lên án mọi sự thề hứa, cũng như có nhiều giáo phái Tin lành từ chối không tuyên thệ bất cứ điều ǵ. Để không lại ư kiến họ, ta có thể trưng ra sự kiện thánh Phaolô (Rm 1, 9; 2 Cr 1, 23; 11,31; Ga 11, 20; Pl 1,8 ) và việc thực hành trong Giáo Hội: Giáo Hội không những cho phép thề trước các ṭa án, mà c̣n buộc phải thề trong một vài trường hợp nữa (vd thề chống Duy tân chủ nghĩa). Điều đó giả thiết lời nghiêm cấm của Chúa Giêsu không có tính cách tuyệt đối. Người muốn nói (thánh Agustinô) trong lời thề tự nó không phải là một điều tốt. Nó phải biến mất khỏi một cộng đoàn xă hội được tổ chức theo tư tưởng của Chúa Giêsu. Chỉ khi gặp trường hợp đáng tiếc và nghiêm trọng mới nên thề. Để quán triệt tư tưởng của Chúa Giêsu, ta phải xét nó trong hoàn cảnh cụ thể của nó. Các thính giả của Chúa Giêsu là những người không phải bận tâm về tính cách chính đáng trên lư thuyết của một lời thề quy định bới quyền bính dân sự hay tôn giáo. Họ sống trong một môi trường mà văn từ của Lề luật, theo lối chú giải của Biệt phái, coi như đi đôi với một sự lạm dụng quá trắng trợn, với một sự biến đổi rơ ràng tâm t́nh đạo đức. Chúa Giêsu đưa ra một hướng đi quyết liệt, Người tŕnh bày điều duy nhất phù hợp với danh dự của Thiên Chúa và phẩm giá con người, làm quy luật mà các môn đồ Người phải theo trong các hoàn cảnh sống thông thường. Nền tảng của quy luật thực tiễn này là: con người không được dùng lời ḿnh để cam kết cái điều thuộc về Thiên Chúa; đó sẽ là một toan tính bắt Thiên Chúa phục vụ ḿnh, một toan tính rơ ràng là vô ích phù phiếm, v́ con người không thể thay đổi ngay cả màu sắc tóc ḿnh, theo nghĩa là không thể làm ḿnh trẻ hơn hay già hơn được.

KẾT LUẬN

Việc Chúa Giêsu tái giải thích Lề luật luôn luôn được thực hiện trong cùng một chiều hướng: khi triệt để hóa Lề luật, vượt trên mọi toan tính phân tích từng nổ nhằm giảm thiểu yêu sách của nó, Người hoàn lại cho nó chiều hướng nguyên thủy là làm cho con người trở nên huynh đệ hơn, tôn trọng nhau hơn, trung thành hơn với các lời cam kết và t́nh yêu, ngay chính hơn đối với anh chị em ḿnh.

Ư HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Con người luôn luôn bị cám dỗ rơi vào năo trạng nệ luật, là năo trạng bao giờ cũng dễ dàng v́ gây cho ta môi sự an ḷng: ta vững tâm cho rằng ḿnh sống đúng luật đối với Thiên Chúa và tha nhân, một khi làm tṛn một quy luật nào đó. Nhưng Chúa Giêsu mời ta vượt qua các tính toán so đo ấy để đi vào b́nh diện t́nh yêu. Và mức độ của t́nh yêu là yêu không mức độ.

2. Chúa Giêsu không chỉ hài ḷng với việc chu tất hay kiêng cữ bên ngoài. Người đi t́m con người tận trong căn nguyên hành vi của họ, tận trong tư tưởng, ước muốn, ư hướng của họ: "Ngươi hăy yêu mến Thiên Chúa ngươi hết ḷng, hết sức hết linh hồn ngươi ".

3. Khi ban Thập điều cho Israel, Thiên Chúa đă dẫn Israel bước một bước dài trong quá tŕnh tiến bộ về mặt luân lư: so sánh với luật rừng hay t́nh trạng man rợ, luật Môisen tượng trưng cho một bước tiến đáng kể cho lương tâm con người. Tuy nhiên Thiên Chúa cũng lưu ư đến sự yếu đuối của dân Israel và đến các phong tục hăy c̣n thô lậu của thời đại: như một nhà sư phạm khôn ngoan, Ngài đă thích ứng các yêu sách của Ngài với năo trạng hăy c̣n thô lỗ của dân, chấp nhận nhượng bộ việc ly dị, trả thù v.v... Đó là thời kỳ thơ ấu của Israel, thời kỳ tập luyện. Nhưng Thiên Chúa đă yêu thương tạo vật đến nỗi không muốn duy tŕ nó trong sự sống tầm thường. V́ thế Ngài đă sai phái Con Một Ngài để Người hoàn tất công tŕnh Ngài và dẫn đưa con người đến t́nh yêu hoàn hảo. Đây là một sự liên tục đáng khâm phục trong chương tŕnh cứu rỗi của Thiên Chúa.