|| Trang Chủ || Chia sẻ || Tập san || Thông hiệp ||

 

SUY NIỆM CHÚA NHẬT PHỤC SINH

Lời Chúa: Cv 10,34a.37-43; Cl 3,1-4; Ga 20,1-9

 

MỤC LỤC

1. Đấng Phục Sinh.

2. Đức Kitô sống lại

3. Rao truyền ơn Phục Sinh - ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

4. Đón nhận ơn Phục Sinh – ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

5. Niềm tin vào Đức Giêsu Phục Sinh - Achille Degeest

6. Hy vọng mạnh hơn thất bại – Achille Degeest.

7. Người đă trỗi dậy rồi

8. Mặt trời hé mọc.

9. Đức Kitô Phục Sinh niềm vui cuộc sống.

10. Phục Sinh.

11. Chúa đă sống lại! Alleluia – R. Veritas.

12. Xác nhận ḷng tin - McCarthy.

13. Chú giải của Noel Quesson.

14. Chú giải của Fiches Dominicales.

15. Phục Sinh.

16. Kinh ngạc.

17. Niềm tin.

18. Niềm hy vọng sống lại

19. Tin Chúa Phục Sinh.

20. Ra khỏi mồ.

21. Chúa đă sống lại

22. Niềm hy vọng.

23. Hy vọng.

24. Ngôi mộ trống - JKN

  

 

1. Đấng Phục Sinh

Một cậu bé hỏi mẹ về đứa em mới chết hiện đang ở đâu. Người mẹ đáp: Em con đang ở trên thiên đàng với Chúa Giêsu. Mấy ngày sau, bà mẹ nói chuyện với bạn bè tỏ ư đau buồn khi nhắc đến đứa con mới mất. Bé ngạc nhiên hỏi mẹ: Khi mẹ mất vật ǵ, tức là mẹ không biết nó đang ở đâu phải không mẹ? Bà mẹ đáp: Phải. Bé hỏi tiếp: Mẹ biết em con đang ở với Chúa, sao mẹ lại nói là em con đă mất? Bà mẹ chợt tỉnh, không c̣n đau buồn nữa, mà ư thức con ḿnh đang vui hưởng hạnh phúc thiên đàng.

Thánh Phaolô quả quyết: "Nếu Chúa Kitô không sống lại th́ niềm tin của chúng ta là điều vô ích, chúng ta là những người khờ dại nhất v́ chúng ta tin tưởng vào một điều hăo huyền". Có bao nhiêu bậc vĩ nhân của thế giới đă từng chết cho hoà b́nh. Có bao nhiêu con người đă sống, đă chết và để lại cho nhân loại một gương mẫu hay một giáo thuyết cao cả hướng dẫn cuộc sống con người. Tuy nhiên trong lịch sử nhân loại, chưa từng có một bậc vĩ nhân hay một thánh hiền nào được tuyên xưng là đă sống lại, duy chỉ có một ḿnh Chúa Giêsu là được các tín hữu tin nhận và tuyên xưng Đấng Phục Sinh. Nếu Chúa Giêsu không sống lại th́ cái chết của Ngài, dù có một giá trị cao cả đến đâu, th́ cũng chỉ là một cái chết trong muôn ngàn cái chết của loài người, nghĩa là không hề có giá trị cứu rỗi. Vậy đâu là ư nghĩa của biến cố Phục sinh?

Phục sinh không có nghĩa là hồi sinh trở về đời sống cũ, giống như trường hợp cậu con trai bà goá thành Naim, em bé gái 12 tuổi, và đặc biệt là ông Ladarô đă chết 4 ngày được Chúa Giêsu cho sống lại. Cả ba trường hợp này, người chết đều sống lại, nhưng đó chỉ là trở lại với đời sống cũ. Có nghĩa là một ngày nào đó họ cũng phải theo cái số phận chung của loài người là trở về với bụi đất. Họ vẫn c̣n nằm dưới quyền của sự chết.

Trường hợp của Chúa Giêsu hoàn toàn khác hẳn. Quả thực, Ngài đă chết, nhưng khi nói rằng Ngài Phục sinh, có nghĩa là Ngài hoàn toàn chiến thắng sự chết, Ngài không sống lại một thời gian để rồi lại chết. Sống lại đối với Chúa Giêsu có nghĩa là mặc lấy sự sống sung măn mới mẻ đến độ sự chết không c̣n chi phối nữa, cũng không một định luật tự nhiên nào có thể ảnh hưởng được Ngài: Ngài đến với các môn đệ khi cửa đóng kín, Ngài chuyện văn với họ, ăn uống với họ, nhiều người trong họ sờ được Ngài như một người đang sống chứ không phải như một bóng ma. Đó là t́nh trạng đích thực của sự sống lại mà một số môn đệ của Chúa Giêsu đă cảm nghiệm được mỗi lần Ngài hiện ra với họ.

Là những chứng nhân của Đấng Phục sinh, các môn đệ Đức Giêsu đă ra đi khắp nơi để rao giảng Tin Mừng của Ngài. Tin Mừng ấy là: "Ai tin nhận Đức Giêsu, tuyên xưng Ngài là Chúa và sống theo giáo huấn của Ngài, người đó cũng sẽ được phục sinh như Ngài". Họ không thể là một nhóm người lừa bịp bởi v́ không một kẻ lừa bịp nào chịu lấy mạng sống của ḿnh đeể làm chứng cho điều ḿnh rao giảng. Qua 2000 năm, không biết bao nhiêu sợi dây được nối kết bằng máu và bằng những cuộc sống phi thường của các tín hữu Kitô ở mọi nơi và trong mọi lúc. Ngày nay tất cả mọi tín hữu trên khắp thế giới đều được liên kết bởi cùng một niềm tin, đó là sự Phục sinh của Đức Giêsu Kitô.

Nói đến niềm tin là nói đến một cái ǵ mà khoa học không thể kiểm chứng được. Sự Phục sinh của Đức Giêsu quả thật không thuộc trật tự khả giác. Người ta không thể dùng bất cứ tiêu chuẩn khoa học nào để kiểm chứng niềm tin ấy. Hai ngàn năm qua, các tín hữu Kitô tin chắc rằng với không biết bao  nhiêu sóng gió đă xảy ra cho Giáo Hội, nếu Đấng Phục sinh không hiện diện trong Giáo Hội của Ngài, th́ Giáo Hội không thể nào tồn tại cho đến ngày nay. Nếu giờ đây các tín hữu Việt Nam cố gắng sống thánh thiện, tốt lành, chịu đựng mọi thứ bách hại là bởi v́ họ thực sự có Đấng Phục sinh đang sống trong họ và ở với họ. Nếu giữa những mất mát thương đau của cuộc sống họ vẫn đứng vững được là bởi v́ họ tin vào sự Phục sinh mà họ cũng sẽ được tham dự vào trong ngày sau hết. Chính niềm tin ấy mang lại ư nghĩa cho cuộc sống, hướng dẫn các Kitô hữu bước qua tăm tối và giúp cho họ sống vui tươi, can đảm và kiên nhẫn trong mọi nghịch cảnh. 

 
 

2. Đức Kitô sống lại

Qua đoạn Tin Mừng hôm nay, chúng ta cùng nhau chia sẻ về ba thái độ. Trước hết là thái độ của Mađalena.

Thực vậy, tập tục liệm xác của người Do Thái bao gồm việc rửa xác, ướp thuốc thơm và gói lại bằng tấm vải trắng, lấy dây băng cuộn lại từ đầu đến chân, xong xuôi đâu đó th́ đem đặt xác vào trong huyệt được đục sẵn nơi vách đá và lấy tảng đá to lấp đậy cửa hang.

V́ hối hả, nên khi về nhà, Mađalêna mới nhận ra rằng ḿnh đă không cẩn thận đủ đối với Chúa Giêsu, bà nóng ḷng chờ đến sau ngày thứ bảy, tức là ngày thứ nhất trong tuần.

Phải, vào sáng ngày thứ nhất trong tuần, đối với chúng ta hiện nay th́ đó là ngày Chúa nhật, bà đem thuốc thơm đến mồ để ướp xác lại. Khi đến nơi, bà thấy ngôi mộ trống trơn. Cửa đă được đẩy qua một bên và Chúa Giêsu không c̣n ở trong đó nữa. V́ thế, bà vội vă chạy về báo tin cho Phêrô và Gioan. Rồi cả hai ông đều chạy đến mồ. Đối với Mađalêna, bà đến mồ chỉ mong để ướp xác Chúa lại cho chu đáo hơn, nói cách khác, bà đến mồ chỉ để t́m lại một xác chết. Với tâm trạng như thế, khi nh́n thấy ngôi mộ trống trơn, bà khó có thể nhận ra Chúa đă sống lại.

C̣n Phêrô? Ông đă sợ hăi, ông đă chối Chúa v́ sợ bị liên luỵ. Chúa đă chết và nghỉ yên trong mồ. Điều ông mong muốn lúc đó là đừng có ǵ rắc rối xảy ra nữa. Xin được hai chữ b́nh yên. Nhưng tại sao lại có sự kiện mất xác Chúa? Ông chạy đến mồ với tất cả mọi lo sợ trong đầu óc. Ông lo sợ một nhóm nào đó, sau khi giết Chúa Giêsu, lại t́m cách phá rối các ông để kết án và xử tử các ông.

Là trưởng nhóm, ông chạy đến mồ, quan sát những ǵ đă xảy ra và t́m cách biện minh: Tại sao thế này và tại sao thế nọ? Với một tâm trạng như thế, ông cũng khó có thể nhận ra Chúa đă sống lại.

Sau cùng là thái độ của Gioan. Ông yêu thương Chúa Giêsu và biết rằng Chúa cũng rất yêu thương ông. T́nh yêu của ông được biểu lộ nhất là trong những giờ phút sau hết của Chúa Giêsu. Ông đă theo chân Chúa trên con đường thập giá cho đến phút cuối cùng và chỉ trở về nhà với Mẹ Maria sau khi đă chôn cất Chúa.

Kinh nghiệm cho thấy khi yêu thương ai, chúng ta luôn nghĩ đến người ấy, luôn cảm thấy sự hiện diện của người ấy trong cuộc đời ḿnh, cho dù hoàn cảnh bắt buộc phải xa cách nhau. Với cái nh́n đó, Gioan đă dễ dàng nhận ra sự kiện Chúa đă sống lại: Ông đă thấy và ông đă tin.

Từ đó, chúng ta kết luận: t́nh yêu dẫn đến đức tin. Những lo lắng trần gian, như lo lắng của Mađalêna đi t́m xác chết không vượt lên được. Những suy tư lư luận của Phêrô chẳng đưa tới đâu, chỉ có t́nh yêu của Gioan mới dẫn ông mau chóng tới niềm tin vào Chúa Giêsu phục sinh.

Trong cuộc hành tŕnh đức tin, chúng ta chỉ có thể cảm thấy sự hiện diện của Chúa và chỉ có thể hiểu được mọi biến cố trong cuộc đời ḿnh, nếu chúng ta noi gương Gioan, để cho ḷng trí ḿnh luôn tiến triển trên con đường t́nh yêu của Chúa.

 
 

3. Rao truyền ơn Phục Sinh - ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

Sau, ngày Chúa chịu chết, các môn đệ rơi vào một t́nh trạng thê thảm: buồn rầu, sợ hăi, chán nản, thất vọng.

C̣n đâu niềm vui khi được ở bên người Thầy yêu dấu. C̣n đâu an ủi khi thấy những người đói khát được ăn no, người bệnh tật được chữa lành, kẻ tội lỗi được tha thứ, người chết được sống lại. C̣n đâu niềm hy vọng tràn trề khi chứng kiến ma quỷ bị xua đuổi.

Tất cả đă ch́m vào quá khứ. Giờ đây sự ác đă chiến thắng, sự dữ đă thống trị. Cả một bầu trời tang tóc phủ trùm trên những người tin Chúa. Tâm hồn các ngài như đă chết. Niềm tin yêu hy vọng của các ngài như cùng bị chôn táng trong mộ với người Thầy yêu quư.

Giữa lúc ấy, Chúa sống lại khải hoàn. Chúa Giêsu Phục Sinh đă khiến cuộc đời các ngài thay đổi tận gốc rễ.

Khi tảng đá lấp cửa mộ tung ra cũng là lúc tâm hồn các ngài thoát khỏi màn đêm vây phủ. Khi gặp được Chúa Phục Sinh, tâm hồn các ngài bừng lên sức sống mới. Máu chảy rần rần. Tim đập rộn ràng. Mắt sáng. Miệng tươi.

Các ngài như người đă chết nay sống lại. Chúa Giêsu đă Phục Sinh tâm hồn các ngài. Sự sống mới của Chúa đă tràn vào các ngài. Ơn Phục Sinh đă được ban cho các ngài. Sự sợ hăi đă trở thành mạnh dạn. Sự yếu đuối đă trở nên mạnh mẽ. Sự thất vọng đă biến thành hy vọng. Nỗi sầu khổ đă biến thành niềm vui.

Cảm nghiệm ơn Phục Sinh rồi, các môn đệ không c̣n có thể ngồi yên trong căn pḥng đóng kín cửa nữa. Các ngài mở tung cửa, hăng hái ra đi đem Tin Mừng Phục Sinh chia sẻ cho mọi người. Các ngài muốn vực dậy những mảnh đời đang chết dần ṃn. Các ngài muốn phục hồi những tâm hồn đang héo úa. Các ngài muốn thế giới biến đổi trong một đời sống mới, tươi vui, hạnh phúc, dồi dào hơn.

Hôm nay Chúa muốn cho tất cả mọi người chúng ta, noi gương các Thánh Tông đồ, tiếp nối công việc của Chúa, đem ơn Phục Sinh đến với mọi người.

Có những người đang chết dần ṃn v́ không đủ cơm ăn áo mặc. Có những cuộc đời tàn lụi đi v́ bệnh hoạn tật nguyền. Có những tấm thân gầy ṃn v́ lao lực vất vả. Có những cuộc đời trẻ thơ bị giam kín trong tăm tối thất học, nghèo nàn. Tất cả đang đợi chờ được Phục Sinh.

Có những tâm hồn đang ủ rũ v́ buồn phiền. Có những mạch máu như ngừng chảy v́ đau khổ. Có những trái tim đang tan nát v́ bị phản bội. Có những cuộc đời cay đắng v́ thất bại. Có những tương lai bị chôn kín trong những nấm mồ đen tối không lối thoát. Tất cả đang đợi chờ ơn Phục Sinh.

Nhất là có những tâm hồn đang lún sâu trong vũng lầy tội lỗi. Có những linh hồn đang tự huỷ hoại trong đam mê tiền bạc, quyền lợi, danh vọng. Có những niềm tin héo úa v́ lạc hướng. Có những đời sống đang rỉ máu v́ chia rẽ bất hoà. Có những cuộc đời đang chao đảo v́ gặp khó khăn thử thách. Tất cả đang đợi chờ ơn Phục Sinh.

Đem Tin Mừng Phục Sinh đó là giúp cuộc đời anh em thoát khỏi những bế tắc, giúp cho linh hồn anh em được sống cao thượng và khôi phục niềm tin yêu của anh em vào Thiên Chúa, vào con người và vào cuộc đời.

Tuy nhiên, để có thể đem Tin Mừng Phục Sinh đến với mọi người, bản thân ta cần được Phục Sinh trước.

Trong chính bản thân ta cũng đang chất chứa những mầm mống chết chóc đó là những tội lỗi, đam mê, dục vọng. Trong chính bản thân ta cũng đang ấp ủ những lực lượng tàn phá đó là thói kiêu căng, ích kỷ, chia rẽ, bất hoà, tham lam, bất công. Trong chính bản thân ta đức tin đang héo úa, ḷng mến đang nguội lạnh, niềm hy vọng đang lụi tàn.

Để đón nhận được ơn Phục Sinh và để ơn Phục Sinh có thể thấm vào mọi ngơ ngách trong tâm hồn, ta phải cộng tác với Chúa, tẩy trừ mọi lực lượng sự chết ra khỏi tâm hồn ta. Cuộc chiến đấu sẽ khốc liệt v́ ta phải chiến đấu với chính bản thân ḿnh. Nhưng với ơn Chúa Phục Sinh trợ giúp, chắc chắn ta sẽ toàn thắng.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

1. Bạn có nhận thấy những lực lượng sự chết đang ở trong ḷng người bạn không? Bạn có muốn loại trừ chúng không?

2. Bạn có thấy ơn Phục Sinh là cần thiết không?

3. Bạn có sẵn sàng đem ơn Phục Sinh cho mọi người không?

4. Tuần này, bạn sẽ sống mầu nhiệm Chúa Phục Sinh thế nào?

 
 

4. Đón nhận ơn Phục Sinh – ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

Sau khi Đức Kitô phục sinh, các môn đệ biến đổi lạ lùng. Maria Mácđala buồn sầu ảm đạm trở nên phấn khởi vui tươi. Tô-ma cứng cỏi trở nên tin tưởng. Hai môn đệ Emmau lạnh lùng trở nên sốt mến. Tất cả các môn đệ hèn yếu trở nên vững mạnh, từ ích kỷ nhỏ nhen chỉ biết lo cho quyền lợi bản thân trở nên quảng đại hiến thân cho Nước Chúa, từ chia rẽ tranh dành địa vị trở nên đoàn kết yêu thương, từ khép kín trở nên cởi mở đi đến với mọi người.

Chúa Phục sinh đổ vào tâm hồn các ngài một nguồn sống mới. Tâm hồn các ngài được ơn phục sinh. Ơn phục sinh được tóm tắt trong một câu ngắn gọn: "Ông đă thấy và ông đă tin". Nhờ đâu các ngài đă thấy?

Các ngài đă thấy nhờ gắn bó với Chúa. Thương nhớ Thày, nên khi ngày Sabbat vừa chấm dứt các ngài đă vội vă ra thăm mộ Thày. Các ngài không đi, nhưng chạy. Các ngài chạy v́ muốn thu ngắn quăng đường. Các ngài chạy v́ muốn thu ngắn mọi khoảng cách ngăn các ngài với Chúa. Các ngài muốn ở sát bên Chúa. Các ngài muốn kết hiệp với Chúa.

Các ngài đă thấy v́ đă biết dứt bỏ quá khứ. Khi nh́n vào mộ, các ngài thấy ǵ? Các ngài không thấy ǵ hết! Ngôi mộ trống rỗng. Không có ǵ, nhưng các ngài thấy tất cả. Nếu xác Chúa c̣n đó th́ thật đáng buồn. Xác c̣n có nghĩa là Chúa vẫn c̣n trong thế giới kẻ chết. Ngôi mộ c̣n xác là ngôi mộ gieo niềm tuyệt vọng. Ngôi mộ trống là ngôi mộ chứa đầy niềm hi vọng. Ngôi mộ trống là một khởi điểm mới, là khối hỗn mang để Chúa làm nên một trời mới đất mới. Các ngài hiểu rằng không nên gắn bó với xác chết nhưng nên gắn bó với Đức Kitô đang sống. Không nên gắn bó với quá khứ chết chóc, nhưng nên gắn bó với tương lai tràn đầy sự sống.

Các ngài đă thấy v́ đă có thái độ khiêm nhường. Tin mừng thuật lại: Các ngài đă "cúi xuống nh́n vào ngôi mộ". Khi cúi xuống nh́n vào ngôi mộ, các ngài không thấy Chúa. Nhưng càng cúi xuống sâu các ngài thấy rơ ḿnh. Ch́m xuống đáy ḷng như ch́m xuống đáy đại dương, xa mọi sóng gió xôn xao. Càng nh́n vào đáy ḷng ḿnh, càng bắt gặp niềm b́nh an. B́nh an là quà tặng Chúa Phục sinh rộng răi ban phát cho các môn đệ sau khi Người sống lại.

Các ngài đă thấy v́ đă nh́n với ánh mắt tin yêu. Thánh Gioan quan sát kỹ hiện trường nên đă miêu tả rất cặn kẽ: Khi ở ngoài mộ nh́n vào "Ông thấy những băng vải c̣n ở đó". Khi đă bước vào trong mộ, Ông "thấy những băng vải để ở đó và khăn che đầu Đức Giêsu. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi".

Là người gần gũi, quen biết các thói quen của Thày, thánh Gio-an lập tức nhận ra dấu vết Người để lại. Khăn liệm được xếp đặt gọn gàng chứng tỏ bàn tay Người tự xếp đặt. Người tự xếp đặt tức là Người đang sống. Người bỏ khăn liệm v́ Người không c̣n trong thế giới kẻ chết.

Trái tim yêu mến đă làm cho thánh Gioan nhạy bén cảm nhận được mầu nhiệm phục sinh.

Hôm nay, Đức Kitô phục sinh đang tuôn đổ ơn lành xuống cho ta. Để đón nhận được ơn lành của Người, ta hăy học tập nơi các môn đệ, biết tha thiết gắn bó với Người trong lúc vui cũng như lúc buồn, biết dứt khoát với quá khứ tội lỗi lười biếng, tŕ trệ, biết khiêm nhường ch́m vào đáy sâu tâm hồn, biết nh́n thế giới bằng ánh mắt tin yêu.

Với những phấn đấu như thế, ta sẽ đón nhận được ơn Chúa Phục sinh. Chúa sẽ tuôn đổ Ơn Phục Sinh tràn ngập tâm hồn ta, biến đổi ta nên người mới, tràn đầy niềm vui, tràn đầy niềm hi vọng, tràn đầy sự quảng đại, tràn đầy t́nh yêu mến.

Lạy Đức Kitô phục sinh, xin cho linh hồn con được sống lại thật. Amen.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

1) Chỉ một lần mừng lễ Phục sinh, tâm hồn các tông đồ đă đổi mới hoàn toàn. C̣n ta, đă bao lần mừng lễ Phục sinh, sao ta chưa thay đổi đời sống?

2) Khi ngắm thứ nhất mùa Mừng: "Đức Chúa Giêsu sống lại, ta hăy xin cho được sống lại thật về phần linh hồn", bạn suy nghĩ ǵ? Bạn có thực sự tha thiết đổi mới cuộc đời không?

3) Bạn sẽ làm ǵ để sống ơn Phục sinh Chúa ban?

 
 

5. Niềm tin vào Đức Giêsu Phục Sinh - Achille Degeest

(Trích trong ‘Lương Thực Ngày Chúa Nhật’)

Những bài tường thuật khác nhau về Chúa Phục Sinh trong bộ Phúc Âm hoặc trong các thư thánh Phaolô đặt ra một vấn đề đồng nhất. Những bài ấy cùng nói về một sự kiện, nhưng không hoàn toàn giống nhau. Nhiều công tŕnh khảo cứu cố gắng t́m những điểm trùng hợp trong các bản văn nói trên để đem lại những thành quả có thể thoả đáng nhưng không giải quyết được chú ư nhiều là của cha de Grandmaison tŕnh bày trong cuốn “Đức Giêsu Kitô”. Lĩnh vực này vẫn mở ra cho môn nghiên cứu Kinh Thánh và có nhiều quan điểm mới mẻ xuất hiện kể từ sau cha de Grandmaison). Nhân bài Phúc Âm hôm nay, chúng ta có thể chú ư đến một số điểm nổi bật như những đỉnh cao của một dăy núi, cho thấy ư nghĩa tổng quát của những sự kiện.

1) Sự kiện Phục Sinh đặt nền tảng cho niềm tin của các tông đồ và cộng đồng giáo hữu tiên khởi.

Người ta cho rằng có thể có những bài tường thuật khác nhiều chi tiết hơn và có tính chất mô tả. Thật ra không phải vậy. Trong những đoạn thuật về sự kiện Phục Sinh, không có điểm nào cho trí tưởng tượng khai thác. Chúng ta phải nh́n nhận rằng đôi khi những yêu cầu hợp lư của hành vi tin như vậy là tốt.

2) Việc phát hiện ngôi mộ trống không khiến cho những phụ nữ đạo đức cũng như các tông đồ tức khắc xác tín rằng Chúa đă sống lại.

Câu của thánh Gioan: Ông đă thấy, và ông đă tin, phải được đặt trong tương quan với sự thấu hiểu Kinh Thánh –và không có bằng chứng nào rằng niềm tin của thánh Gioan đột xuất như một làn chớp, cho dẫu ngài hiểu biết nhanh hơn các tông đồ khác. Ở đây sự kiện lịch sử là ngôi mộ trống trở nên như một thứ cầu nhún bỗng nhiên được một ḷ xo bí ẩn nhập vào làm bật lên, phóng tâm trí vượt lên cao quá tầm lịch sử. Thuộc về thượng tầng ấy là những lần Chúa hiện ra cho các môn đệ, và hành vi tin do đó phát sinh –là sự thấu hiểu Kinh Thánh- là sự làm chứng của các tông đồ. Ở đây chúng ta tiếp xúc với một điều ǵ khiến chúng ta có được niềm vững tin mạnh hơn sự kiểm chứng lịch sử, đó là hành vi tin, một hành vi không do sự cưỡng ép bên ngoài hay bên trong, nhưng được kích động cả ngoài và trong, một hành vi hợp lư, tự do, được sự giúp đỡ của ân sủng –hành vi ấy là hành vi tin của chúng ta ngày nay.

3) Những lần Chúa hiện ra cho các môn đệ làm biến đổi tâm hồn các ông.

Chúa hiện ra bất thần, trong những trường hợp các ông ư thức rơ về bản thân ḿnh, Chúa chợt đến trong đời sống thật sự của các ông. Điều đó cần nói rơ ra để thấy những thuyết chủ trương ảo giác là không vững. Điều quan trọng nhất: Đức Giêsu đảo ngược tâm trạng và năo trạng các môn đệ. Năo trạng Do Thái của các ông không chấp nhận cuộc thương khó, vậy mà giờ đây các ông chấp nhận cuộc khổ nạn của Thày là liên quan mật thiết với chương tŕnh cứu độ của Thiên Chúa. Các ông đă ngă ḷng, vậy mà bây giờ các ông có một niềm xác tín chiến thắng. Các ông đại diện cho Giáo Hội đang phát triển cách mạnh mẽ và hân hoan, các ông phát khởi một lịch sử và một mầu nhiệm ngày nay chưa chấm dứt sức năng động làm cho nhân loại dậy lên (Tất nhiên phải hiểu rằng những h́nh ảnh trên đây chỉ muốn gợi ư cho sự suy niệm và cầu nguyện, tuyệt nhiên không có cao vọng bàn đến những vấn đề bao quanh lịch sử và mầu nhiệm Phục Sinh của Chúa).

 
 

6. Hy vọng mạnh hơn thất bại – Achille Degeest.

(Trích trong ‘Lương Thực Ngày Chúa Nhật’)

Điều ǵ người ta sống cách sâu đậm nhất là điều khó diễn tả nhất. Đó là trường hợp của kinh nghiệm về đức tin nơi Chúa Giêsu Kitô Phục Sinh. Đối với người vô thần, sự sống lại của Đức Kitô là cái ǵ chỉ có trong ḷng tin của người Kitô hữu. Đối với người Kitô hữu, đó là một thực tại c̣n chắc chắn hơn sự kiện lịch sử được chứng minh cách vững vàng nhất. Họ có thể diễn tả thế nào ḷng tin của ḿnh trước người không tin, hoặc ngay trước những đ̣i hỏi hợp lư của chính lư trí ḿnh?

Ai tin Đức Kitô sống lại, chỉ c̣n cách có thái độ như các Tông đồ. Với ngôn ngữ và cách suy nghĩ của riêng ḿnh, các ngài làm chứng rằng đă biết Chúa Giêsu trước khi Người chết, và đă gặp lại Người sau khi sống lại. Làm chứng, nghĩa là quả quyết đă sống và đă thấy. Các ngài không hiểu bằng cách nào Chúa Giêsu đă từ cơi chết đi vào cơi sống, đă hiện ra trong những điều kiện khác với điều kiện trước khi chết. Các ngài không nói ǵ về điểm này. Nhưng quả quyết một cách vô cùng chắc chắn là sự việc đă xảy ra.

Người Kitô hữu ngày nay cũng thế, họ tin Chúa chịu chết và phục sinh nhưng không thể trả lời cho những ai chất vấn họ, xin họ giải thích. Vậy mà sự hiện diện và hoạt động của Chúa Phục Sinh trong cuộc sống họ là một kinh nghiệm biến đổi cả con người họ. Họ có thể làm chứng mà không thể cắt nghĩa việc ấy.

Chúng ta có thể rút từ bài đọc của thánh Gioan hai đề tài suy niệm:

1) Hai người đều chạy.

Phêrô và Gioan khi nghe Maria Madalêna báo tin liền vội vàng chạy tới mồ. Trong sự vội vàng và sự ‘hướng về’ này, chúng ta nh́n thấy một ư nghĩa tượng trưng. Ta có hướng về Chúa Giêsu sống lại và đang sống không? Đối với Phêrô và Gioan, ngôi mộ tượng trưng cho thất bại ê chề, kể từ chiều thứ sáu (sau khi Chúa tắt thở). Bây giờ th́ họ lại hướng về một hy vọng tuy c̣n mập mờ, bí ẩn, nhưng họ vẫn lao ḿnh chạy. Trong đời ta phải chăng cũng có những thất bại mà ta tưởng là nhất định rồi. Chẳng hạn một ước muốn không thành, một công việc tông đồ không kết quả, một hạnh phúc hợp lư rơi vào thất bại… Ta có hay chăng một niềm hy vọng biết nh́n thấy quyền năng Phục Sinh Chúa dành cho ta qua thử thách, dù lớn lao thế nào đi nữa? Ta là môn đệ của Chúa sống lại. Người kêu mời ta đừng bao giờ đặt một viên đá tuyệt vọng trên cái ǵ hết, song hăy hy vọng. Cái được phục sinh có thể sẽ khác với ta chờ đợi nhưng ‘khác’ hơn theo nghĩa ‘tốt’ hơn.

2) Ông thấy và tin.

Điều này nói về tông đồ Gioan. Bản văn thêm rằng lúc đó ông hiểu rơ Kinh Thánh, tức Cựu Ước. Quả thật con người và lịch sử của Chúa Giêsu là ánh sáng soi chiếu toàn bộ Cựu Ước, cũng như Tân Ước. Phải đọc Thánh Kinh thế nào? Thưa bằng cách t́m gặp ở đó Chúa Giêsu Kitô là chân lư ta, là sức mạnh ta, là sự chỉ giáo, luân lư, đời sống của ta.

 
 

7. Người đă trỗi dậy rồi

(Trích trong ‘Manna’)

Suy Niệm

Có vẻ sau cái chết của Thầy Giêsu chẳng ai buồn nghĩ đến chuyện Thầy sẽ sống lại.

Các phụ nữ chỉ quan tâm đến việc xức xác Thầy. Nhưng khi thấy ngôi mộ trống trơn, họ phân vân và bối rối không hiểu.

Là những Kitô hữu ngoan đạo, chúng ta thấy ḿnh quá quen với chuyện Chúa phục sinh, đến độ coi đó là chuyện tự nhiên. Chính v́ thế ta không cảm được nỗi lo lắng, ngỡ ngàng của các phụ nữ và các môn đệ vào buổi sáng tinh mơ của ngày thứ nhất.

Các bà chẳng biết làm ǵ với số thuốc thơm đă chuẩn bị. Cửa mộ đă mở toang, thi hài Thầy đâu c̣n.

Nếu sứ thần không hiện ra giải thích th́ ngôi mộ trống vẫn là một bí ẩn khôn ḍ.

Khi các bà trở về kể lại cho Nhóm Mười Một những ǵ đă xảy ra ngoài mộ đá, các ông đă không tin, cho là chuyện lẩn thẩn. Có lẽ ho nghĩ các phụ nữ là người yếu bóng vía. Làm ǵ có chuyện sứ thần bảo là Thầy đă phục sinh!

Phêrô đứng lên chạy ra mộ (Lc 24,12).

Ông cũng thấy như các phụ nữ kể lại. Nhưng ông chỉ kinh ngạc thôi, chứ không tin.

Quả thật tin Thầy đă sống lại là điều khó, dù Đức Giêsu đă báo trước nhiều lần về cái chết và sự phục sinh của Ngài.

Các môn đệ chỉ nhớ được nửa đầu của lời loan báo.

Dường như nỗi đau quá lớn làm họ mau quên, v́ thế sứ thần hiện ra là để nhắc cho họ nhớ (c.6), và họ đă nhớ lại những ǵ Ngài dạy (c.8).

Đức Giêsu phục sinh hiện ra cũng nhắc cho họ nhớ (c.44).

Về sau Thánh Thần cũng sẽ làm công việc này, đó là nhắc cho họ nhớ mọi lời Đức Giêsu đă nói (Ga 14,26).

Nhắc nhớ là nối quá khứ với hiện tại và tương lai.

Quá khứ bị ám ảnh bởi cái chết đau thương. Chúng ta dễ bị sa lầy trong quá khứ u buồn, không c̣n khả năng để hy vọng và vui sống.

"Sao các bà lại t́m Người Sống ở nơi kẻ chết".

Đức Giêsu đă mở tung cửa mộ vào sáng phục sinh. Muốn gặp được Ngài, phải t́m Ngài ở ngoài phần mộ.

Kitô giáo không kết thúc bằng thập giá và phần mộ.

Đức Giêsu bây giờ là Đấng tràn trề sự sống mới. Xác Ngài không c̣n nằm đó, nhưng đă chỗi dậy.

Ngài vẫn đi với ta trên cùng một con đường. Ngài đến khi cả đêm ta không được một con cá nhỏ. Ngài ở lại nhà ta khi ta đóng cửa v́ sợ hăi.

Chúng ta vẫn thường t́m sai địa chỉ của Ngài, bởi chúng ta không tin Ngài đă sống lại thật.

Nếu chúng ta tin Ngài là Sự Sống và là Nguồn Sống, cuộc đời chúng ta sẽ chẳng như xưa.

Gợi Ư Chia Sẻ

Cuộc đời con người kết thúc nơi nấm mộ. Nhưng người Kitô hữu lại tin nấm mộ là nơi sự sống mới nẩy mầm. Con người sinh ra là để sống măi. Riêng bạn, tại sao bạn tin có cuộc sống đời sau? Niềm tin đó có ảnh hưởng ǵ trên cuộc sống đời này không?

Lễ Giáng Sinh và lễ Phục Sinh, theo bạn, lễ nào vui hơn, lễ nào lớn hơn?

Cầu Nguyện

Lạy Chúa Giêsu phục sinh

Lúc chúng con t́m kiếm Ngài trong nước mắt, xin hăy gọi tên chúng con như Chúa đă gọi tên chị Maria đứng khóc lóc bên mộ.

Lúc chúng con chán nản và bỏ cuộc, xin hăy đi với chúng con trên dặm đường dài như Chúa đă đi với hai môn đệ Emmau.

Lúc chúng con đóng cửa v́ sợ hăi, xin hăy đến và đứng giữa chúng con như Chúa đă đến đem b́nh an cho các môn đệ.

Lúc chúng con cố chấp và xa cách anh em, xin hăy kiên nhẫn và khoan dung với chúng con như Chúa đă không bỏ rơi ông Tôma cứng cỏi.

Lúc chúng con vất vả suốt đêm mà không được ǵ, xin hăy dọn bữa sáng cho chúng con ăn, như Chúa đă nướng bánh và cá cho bảy môn đệ.

Lạy Chúa Giêsu phục sinh,

xin tỏ ḿnh ra cho chúng con thấy Ngài mỗi ngày, để chúng con tin là Ngài đang sống, đang đến, và đang ở thật gần bên chúng con. Amen.

 
 

8. Mặt trời hé mọc

(Trích trong ‘Manna’)

Suy Niệm

Để hiểu sâu mầu nhiệm Vượt qua, chúng ta cần dừng lại thật lâu bên mộ Chúa. Một ngôi mộ mới, chưa chôn cất ai (x. Ga 19,41). Ngôi mộ này của ông Giô-xép, người trong Thượng Hội Đồng, và cũng là một môn đệ âm thầm của Đức Giêsu. Ông đă đến xin xác và tẩm liệm Thầy cẩn thận.

Hăy đến thăm mộ và ngày thứ bảy, không có ai. Ngôi mộ nằm im ĺm như trăm ngàn ngôi mộ khác. Một tảng đá to ngạo nghễ che cửa mồ.

Kẻ thù Chúa hả hê vui sướng v́ đă nhổ được một cái gai. Tử thần đắc ư vỗ tay reo v́ Đấng là Sự Sống đă bị nuốt chửng.

Xác Đức Giêsu nằm trong mộ, tối tăm, như hạt lúa ủ trong ḷng đất. Có ai nghe được tiếng hạt giống cựa ḿnh? Có ai thấy được một mầm non đang nhú?

Đêm dài quá! Ba phụ nữ chỉ mong cho chóng sáng. Họ thấp thỏm không ngủ được, chỉ nghĩ đến ngôi mộ, với xác của Thầy nằm đó.

Và khi loé lên những tia nắng đầu tiên của mặt trời, th́ cả ba đă sẵn sàng ra thăm mộ, với dầu thơm vừa mua được để ướp xác.

Khi đi đường, họ chỉ có một nỗi bận tâm: "Ai sẽ lăn giùm tảng đá ra cho chúng ta?" Tảng đá to thật là một trở ngại. Nhưng lạ thay, khi đến nơi, các bà thấy tảng đá được lăn ra một bên rồi, và xác của Thầy cũng không c̣n ở chỗ cũ. Sứ thần Chúa loan báo Tin Mừng: Đấng bị đóng đinh đă chỗi dậy rồi, Ngài hẹn gặp lại các môn đệ tại Galilê.

Từ ngôi mộ, từ tối tăm, chết chóc, rữa nát, sự sống đă bật dậy, làm bàng hoàng sửng sốt.

Không cần phải lăn tảng đá. Không cần phải xức dầu thơm.

Cửa mộ đă mở toang, v́ ngôi mộ không thể chứa được Đấng đang sống, Đấng đang đến để nối lại một cái hẹn.

Vẫn có những ngôi mộ trong đời ta.

Những ngôi mộ chôn vùi bao ước mơ, hy vọng, bao điều chúng ta yêu mến và ấp ủ. Chúng như dấu hiệu của những đổ vỡ, đớn đau. Ta có chờ ǵ nơi đó, hay chỉ biết tiếc nuối?

Chỉ sự phục sinh của Đức Kitô mới làm ta tin rằng chẳng có mất mát, khổ đau, thất bại nào lại không thể làm ta lớn lên và cứng cáp.

Ước ǵ giữa nước mắt, ta cảm nghiệm được niềm vui, dám chôn đi điều phải chôn, mất đi điều phải mất.

Gợi Ư Chia Sẻ

Có những tảng đá chắn ngang, khiến đời tôi như ngôi mộ khép kín. Hiện nay có điều ǵ khiến bạn cảm thấy bị nghẽn lối, đi vào ngơ cụt? Tin Mừng Phục Sinh có giúp bạn ra khỏi không?

Đức Giêsu chỉ phục sinh sau khi đă chết và được mai táng. Bạn thấy ḿnh có những điều cần phải chôn, cần phải quên, cần phải từ bỏ không?

Cầu Nguyện

Lạy Chúa Giêsu phục sinh,

Xin ban cho con sự sống của Chúa, sự sống làm đời con măi măi xanh tươi.

Xin ban cho con b́nh an của Chúa, b́nh an làm con vững tâm giữa sóng gió cuộc đời.

Xin ban cho con niềm vui của Chúa, niềm vui làm khuôn mặt con luôn tươi tắn.

Xin ban cho con hy vọng của Chúa, hy vọng làm con lại hăng hái lên đường.

Xin ban cho con Thánh Thần của Chúa, Thánh Thần mỗi ngày làm mới lại đời con.

 
 

9. Đức Kitô Phục Sinh niềm vui cuộc sống

Giáo Hội Chính Thống có một truyền thống rất ư nghĩa về lễ Phục Sinh: Sau Thánh Lễ mỗi người được phát cho một quả trứng gà đă được làm phép. Khi đến chúc mừng lễ cho nhau, người ta đập vỡ quả trứng và nói: “Đức Kitô đă sống lại”. Người kia cũng đập quả trứng và đáp lại: “Quả thật, Đức Kitô đă sống lại, Halleluia”.

Ngày nay, ở các nước Âu Châu vào dịp lễ Phục Sinh, người ta vẫn thấy trưng bày các quả trứng được trang trí tô vẽ đủ màu sắc rực rỡ, thậm chí có cả những quả trứng chocolate lớn nhỏ đủ cỡ dành để làm quà tặng mừng Chúa Phục Sinh.

Thưa anh chị em,

Quả trứng có vỡ ra, con gà mới có thể chào đời. Cũng thế, ngôi mồ có mở ra, Đức Kitô mới sống lại từ cơi chết. Trước khi đập vỡ quả trứng để chào đời, con gà đă phải ngủ vùi trong quả trứng. Cũng thế, Đức Kitô đă bị chôn vùi trong mồ ba ngày rồi mới sống lại. Tin Mừng hôm nay đă cho chúng ta thấy ngôi mồ trống và loan báo tin Đức Kitô đă sống lại.

Ngài đă chết. Người ta đă chôn Ngài trong mồ đá. Cửa mồ mở ra. Xác Ngài không c̣n đó nữa. Maria Madalena hoảng hốt kêu lên; “Người ta đă lấy mất xác Thầy rồi!”. Hai môn đệ Phêrô và Gioan chạy ra mồ kiểm chứng. Hai ông thấy mồ mở toang. Nh́n vào trong thấy khăn liệm c̣n đó, nhưng xác Ngài đă biến mất. Gioan, người môn đệ Chúa yêu, đă thấy và đă tin: Chúa đă sống lại thật như Ngài đă tiên báo.

Chúa đă sống lại. Chúa đă từ trong cơi chết sống lại. Ngài sống lại thật sự chứ không phải chỉ sống trong tưởng tượng, trong ḷng tin của chúng ta, tuy chúng ta không thấy Ngài, tuy chúng ta chỉ nhận ra Ngài nhờ đức tin. Nhưng Ngài đang sống thật, dù chúng ta không tin. Ngài cũng đang sống thật, đang điều khiển ḍng lịch sử.

Chúa Giêsu đă sống lại. Ngài không tỏ ḿnh cho quần chúng từng đi theo Ngài khi Ngài đi rao giảng, nhưng chỉ cho một số người được tuyển chọn để làm chứng nhân. Họ đă được thấy Ngài Phục Sinh, được ăn uống với Ngài sau khi Ngài từ cơi chết sống lại.

Người Do Thái không chịu tin, đút tiền cho lính canh để lấp liếm. Người Hy Lạp cười khinh bỉ khi nghe Thánh Phêrô nói đến hai tiếng “Phục Sinh”. Nhưng đối với chúng ta th́ Chúa Giêsu sống lại đem ư nghĩa cho cuộc sống của chúng ta: Nếu Chúa Kitô không sống lại, chúng ta vẫn c̣n mang tội lỗi trong ḿnh và không ai giải cứu được chúng ta, không ai đem chúng ta đến gặp Thiên Chúa được. Nếu Chúa Kitô không sống lại, chúng ta sẽ là những người vô phúc nhất, ngu đần nhất, v́ chúng ta đặt tin tưởng vào một chuyện hăo huyền. Nếu Chúa Kitô không sống lại, th́ thập giá chỉ là dấu hiệu của ô nhục, những đau khổ của con người không có lối thoát và cái chết của con người là ngơ cụt, là đường cùng.

Nhưng Chúa Kitô đă sống lại. Ngài đă cho chúng ta niềm hy vọng. Ngài đă đem theo những đau khổ của loài người qua bên kia bờ tuyệt vọng, làm cho những đau thương quằn quại của con người không c̣n là nỗi quằn quại của kẻ sắp bị cái chết tiêu diệt, nhưng là nỗi đau của người mẹ đang sinh con, nỗi đau làm phát sinh sự sống mới. Chúa Kitô đă sống lại, thập giá không c̣n là dấu hiệu của ô nhục, nhưng là dấu hiệu của vinh quang. Tin Mừng theo Thánh Gioan quan niệm thập giá là nơi Chúa Giêsu được tôn vinh. Cái “Giờ” mà Chúa Giêsu vừa trông đợi vừa lo sợ, chính là giờ Ngài được giương cao trên thập giá để kéo mọi người lên cùng Ngài. Chúa Giêsu đă sống lại, khiến cho cái chết của chúng ta không c̣n là ngơ cụt, không c̣n là đêm tối tuyệt vọng nữa, v́ ánh sáng của Chúa Kitô đă bừng lên trong cơi chết. Chúa Kitô đă sống lại, niềm hy vọng của chúng ta không phải là hăo huyền, v́ Ngài đang ngự bên hữu Thiên Chúa, Ngài đang điều khiển ḍng lịch sử, và khi Ngài tỏ hiện trong vinh quang, th́ chúng ta cũng được xuất hiện cùng với Ngài trong hạnh phúc và vinh quang bất diệt.

Anh chị em thân mến,

Chúng ta đă được sống lại với Chúa Kitô Phục Sinh. Nhờ phép Rửa, chúng ta đă được tham dự vào sự chết và sự sống lại của Chúa Kitô, được mang mầm sống mới trong ḿnh, mầm sống ấy phải lớn lên trong cuộc sống mỗi ngày và sẽ đưa chúng ta vượt qua chính cái chết tự nhiên của con người để vào cuộc sống vinh quang với Chúa Kitô. Sự sống của chúng ta, vinh quang của chúng ta được dấu ẩn trong Chúa Kitô. Hiện giờ chúng ta chưa thấy vinh quang ấy như thế nào, nhưng khi Chúa Kitô xuất hiện, chúng ta sẽ thấy. V́ Ngài thế nào th́ chúng ta cũng sẽ giống như vậy.

Chúa Kitô đă chết và đă sống lại v́ chúng ta, chính là để chúng ta không c̣n sống cho ḿnh nữa, không c̣n khư khư giữ lấy mạng sống, giữ lấy sự bảo đảm an toàn ích kỷ của ḿnh nữa, nhưng là phải sống cho Chúa Kitô và như Chúa Kitô, hoàn toàn v́ Thiên Chúa và cho tha nhân. Nếu đă được sống lại với Chúa Kitô, chúng ta đừng t́m những ǵ con người ích kỷ hẹp ḥi, con người theo xác thịt xui chúng ta t́m kiếm; nhưng hăy nh́n thẳng về cùng đích của chúng ta mà tiến lên. Chúa Kitô đă mang lại cho những đau khổ của con người một ư nghĩa, đă làm cho cuộc sống trần gian nầy không c̣n là một ảo tưởng, nhưng là một phản ảnh và là con đường đưa đến cuộc sống vĩnh cửu.

Nếu sự Phục Sinh của Chúa Giêsu thật là cần thiết cho chính Ngài và cho những người tin vào Ngài, th́ nó cũng lại rất cần cho cuộc sống hôm nay của chúng ta, khi mà nhiều người chán sống, khi mà cuộc đời có quá nhiều cái làm chết con người hoặc coi thường mạng sống con người. Chúa sống lại là một tin vui cho người đang tin vào cuộc sống đời sau, và c̣n là lời cảnh tỉnh cho người tưởng chết là hết, chết là giải quyết tất cả…

Nếu chúng ta tin như vậy, th́ hơn ai hết, chúng ta phải làm chứng cho niềm tin Phục Sinh nầy bằng cách dám chấp nhận gian khổ, chấp nhận hy sinh, để cùng với mọi người xây dựng một xă hội tốt đẹp, cho mọi người được sống xứng đáng phẩm giá con người hơn. Nếu chúng ta tin rằng mọi sự từ bỏ đều được Chúa đền bù, mọi hy sinh đều là tham dự vào hy sinh cao cả của Chúa Kitô, th́ tại sao chúng ta không dám từ bỏ, không dám hy sinh? Nếu chúng ta tin rằng: Chúa Kitô đă giải thoát chúng ta khỏi ách tội lỗi, khỏi con người theo xác thịt ích kỷ hẹp ḥi và cho chúng ta một Thần Khí mới, một tinh thần mới, th́ tại sao chúng ta cứ tiếp tục sống ích kỷ hẹp ḥi? Tại sao chúng ta cứ khư khư giữ lấy sự an toàn bản thân, không dám liều mạng, xả thân v́ anh em, v́ tha nhân? Hạt giống chỉ có thể nẩy mầm khi nó có thể phá huỷ được cái vỏ bao bọc nó. Con gà chỉ có thể ra đời khi phá vỡ vỏ trứng. Con tằm phải phá ổ kén mới thành con bướm. Có cuộc chuyển hoá hay vượt qua nào mà không đau khổ, rướm máu?

Trong ngày mừng Chúa Phục Sinh, chúng ta hăy kiểm điểm xem: chúng ta đă thật sự sống niềm tin Phục Sinh chưa? Chúng ta đă đánh giá đúng những thực tại trần thế chưa? Chúng ta đă nh́n gian khổ, hy sinh, nỗ lực của con người bằng cặp mắt nào, cặp mắt của một người chỉ tin vào của cải vật chất hay của một người tin vào một cuộc sống vượt trên cuộc sống trần gian nầy và làm cho cuộc sống trần gian nầy có ư nghĩa cao cả thật sự của nó?

Trong Thánh Lễ Phục Sinh hôm nay, khi chúng ta mừng Chúa Kitô đă chết và đă sống lại v́ chúng ta, chúng ta hăy cầu xin Ngài cho chúng ta biết sống như Ngài: sống cho Chúa và sống cho mọi người anh em.

 
 

10. Phục Sinh

Tâm thức trả thù ăn sâu vào trong con người tội lỗi chúng ta đến nỗi chết rồi mà cũng không dung tha. Thật là một tâm thức nghịch lại với thái độ sống của Chúa Kitô, Ngài đă giảng dạy sự tha thứ, đă chịu chết và đă sống lại, đă tha thứ cho con người và dạy con người sống tha thứ cho nhau.

Tin Mừng Chúa sống lại là Tin Mừng của sự tha thứ. Thiên Chúa tha thứ cho con người và con người một khi chấp nhận Tin Mừng sống lại cũng phải sống tinh thần tha thứ này. Chúa Kitô sống lại có ích ǵ cho chúng ta, nếu chúng ta không sống lại, không để cho ơn Chúa biến đổi ḿnh trở nên con người mới giống h́nh ảnh của Ngài.

Nơi bài đọc 2 chúng ta nghe thánh Phaolô khuyên các tín hữu Côlôsê như sau: “Nếu anh em đă sống lại với Đức Kitô th́ anh em hăy t́m những sự trên trời nơi Đức Kitô ngự bên hữu Thiên Chúa. Anh em hăy nghĩ đến những sự trên trời chứ đừng nghĩ đến những sự dưới đất”. Những sự trên trời đó không phải là những viễn vông, mơ mộng, không thực tế theo tâm thức người đời, không tin Thiên Chúa, nhưng là những điều rất đ̣i hỏi và rất thiết thực. Đó là sự sống đời đời, và để đạt đến sự sống đời đời này người đồ đệ của Chúa phải cố gắng hết sức ḿnh để yêu thương phục vụ anh chị em.

Sống hướng về trời để có đủ tinh thần mà tha thứ những xúc phạm của tha nhân và hy sinh những lợi lộc ích kỷ mà từ bỏ những mưu toan hại người, để ra tay nâng đỡ phục vụ anh chị em, nêu cao khuyến khích anh chị em khi anh chị em lỡ lầm đồng thời giúp họ đừng tiếp tục làm điều xấu nữa.

Sống hướng về trời, về những điều trên trời là điều cần thiết như người đi ngoài biển khơi không có địa bàn phải nh́n lên những ánh sao sáng trên trời để định hướng thuyền đời ḿnh đạt đến bến bờ. Chúng ta sẽ bị lạc vào trong những tranh chấp hận thù, bị rơi vào trong sự u buồn liên lỉ, trong sự áy náy bứt rứt lương tâm, nếu chúng ta không hướng về Chúa và lănh nhận ơn Phục sinh của Ngài.

Các tông đồ đă sống trong lo âu hồi hộp khi Chúa bị treo trên thập giá, khi họ chưa hiểu ǵ về mầu nhiệm sống lại của Chúa. Biến cố mồ trống mà Phúc âm hôm nay kể lại cho chúng ta là một lời mời gọi Maria, Gioan, Phêrô, mời gọi những kẻ đă theo Chúa hăy vượt qua những giới hạn của tâm thức trần tục của họ để nh́n thấy được sự Phục sinh của Chúa, để cho ơn Chúa biến đổi cuộc đời ḿnh, hầu giúp chúng ta trở thành những chứng nhân rao giảng sự tha thứ của Thiên Chúa.

Có một du khách đến thăm xưởng chế tạo các địa bàn, khi qua pḥng trưng bày các mẫu kiểu địa bàn, du khách đă thắc mắc hỏi: Tại sao có một số địa bàn có cây kim luôn chỉ về hướng bắc, c̣n một số địa bàn khác th́ không, kim chỉ lung tung. Hướng dẫn viên trả lời: Những địa bàn có kim chỉ đúng phương hướng là những địa bàn đă thực sự trọn hảo, đă được chuyển sức hút từ trường vào trong đó để cây kim chính luôn hướng về hướng bắc. C̣n những địa bàn có kim chỉ lung tung là những địa bàn chưa nên trọn, chưa có sức từ trường và không thể hoạt động theo từ trường. Đây là những mẫu trưng cho du khách nh́n chơi mà thôi, chứ không có ích lợi ǵ cả.

H́nh ảnh chiếc địa bàn có thể được dùng để nói về người đồ đệ của Chúa Giêsu Kitô trong một thời đại, như có hai loại địa bàn cũng có thể có hai loại người Kitô. Chiếc địa bàn chưa trọn không có sức từ trường tượng trưng cho người Kitô “hữu danh vô thực”, có tên gọi là người Kitô hữu nhưng không có thực tế, không có sức sống của Chúa Kitô Phục sinh chuyển vào, nên như chiếc địa bàn chỉ lung tung, làm lung tung, nói lung tung, dở dở ương ương đang theo những chiều gió cám dỗ thổi đâu cũng được.

C̣n mẫu người Kitô hữu thứ hai như những địa bàn đă nên trọn, đă hoàn tất, có sức thu hút từ trường. Họ là những người Kitô hữu đă lănh nhận sức sống từ Chúa Phục sinh, luôn luôn sống kết hợp với Chúa, luôn qui hướng về Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh như địa bàn chỉ về hướng bắc mà do đó mới có thể trở nên trọn nơi chính thực thể của ḿnh và nên hữu ích cho anh chị em xung quanh.

Việc chuyển sức từ trường vào chiếc địa bàn là một tác động tự động máy móc, việc chuyển sức sống của Chúa Kitô Phục sinh vào con người chúng ta là một hành động đặc biệt không thể nào giống như một tṛ ảo thuật chỉ hô một tiếng th́ có liền ngay.

Chúa Kitô đă chọn các tông đồ và huấn kuyện các ngài nhiều năm tháng với nhiều công sức, chuẩn bị cho các ngài trong giây phút trọng đại cuối cùng để tin nhận Chúa Giêsu Kitô, Đấng đă đi qua cái chết để tiến đến sự Phục sinh, để thực hiện trọn vẹn ơn cứu chuộc con người. Nhưng thử hỏi chúng ta đă nh́n thấy ǵ? Chúng ta đă nh́n thấy thái độ của các tông đồ như thế nào trước biến cố chết và sống lại của Chúa hay không?

Một thái độ không tin, lưỡng lự hay có tin th́ cũng chưa vững vàng lắm. Hai người nữ đến mồ Chúa nh́n thấy dấu lạ, ḥn đá che cửa mồ đă bị đẩy qua một bên th́ vội vàng kết luận là có người ăn cắp xác của Thầy ḿnh. Phêrô chạy đến nh́n thấy sự việc cũng không hiểu sao, chỉ có tông đồ Gioan người được Chúa Giêsu yêu dấu th́ thấy và tin, nhưng thái độ tin lúc này cũng mới là khởi đầu. Ḷng tin đó cần phải tiến sâu hơn nữa nhờ lời cầu nguyện, suy niệm lại những lời Chúa nói, những việc Chúa làm và được Chúa Thánh Thần tiếp sức th́ mới đủ mạnh để làm chứng cho Chúa, để luôn luôn sống định hướng về Chúa như chiếc địa bàn đă được chuyển sức từ trường.

Từ một Phêrô lưỡng lự chưa hiểu Kinh Thánh, chưa hiểu chương tŕnh hành động cứu rỗi của Thiên Chúa. Qua Chúa Kitô Phục sinh đến, một Phêrô đă vững tin dám đứng trước dân chúng để rao giảng Chúa Kitô Phục sinh là Đấng cứu rỗi duy nhất như được mô tả trong bài đọc 1 của thánh lễ hôm nay.

Chúng ta hiểu là phải có biến cố tiếp sức của Chúa, biến cố Chúa Thánh Thần hiện xuống tràn đầy trên các tông đồ, trong mọi đồ đệ của Chúa Kitô. Không thể nào chỉ dừng lại ở Chúa Kitô chịu đóng đinh trên thập giá để than khóc lo sợ, nhưng không thể nào chỉ chú ḿnh tôn thờ Chúa Kitô Phục sinh cho riêng ḿnh như Maria khi được Chúa hiện ra th́ bà sụp lạy qú dưới chân Chúa. Chúa bảo bà hăy ra đi, hăy mang Tin Mừng đến cho các tông đồ khác, cho những ai chưa tin. Chúa muốn như chiếc địa bàn chỉ hướng về phía bắc. Người tín hữu Kitô chỉ hướng về một Chúa Kitô Phục sinh để từ đó mà có sức làm chứng cho Chúa trong mọi hoàn cảnh.

Mừng lễ Phục sinh hôm nay, chúng ta hăy đem cuộc đời ḿnh đến cho Chúa chuyển sức sống vào đó, cho chúng ta được Phục sinh với Chúa, được sống sức sống của Chúa, trở thành người Kitô hữu sống động.

 
 

11. Chúa đă sống lại! Alleluia – R. Veritas

(Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’)

Một cuốn phim mang tựa đề “Thế Giới Trong Tăm Tối” diễn tả câu truyện về một nhà khảo cổ danh tiếng tổ chức một cuộc khai quật khoa học ở Giêrusalem.

Ngọn đồi Golgotha được cẩn thận đào bới, kể cả những phiến đá và các hang động của một nghĩa trang bên cạnh cũng được thăm ḍ khám xét kỹ lưỡng. V́ theo Tin Mừng Thánh Gioan, xác của Chúa Giêsu được chôn cất trong một phần mộ gần nơi Ngài bị án tử h́nh Thập giá. Sau bao công khó đào bới khám xét, một ngày kia nhà khảo cổ tuyên bố: “Tôi đă t́m được xác ông Giêsu”. Rồi ông tổ chức một cuộc họp báo rầm rộ, quy tụ hàng trăm kư giả và nhiếp ảnh viên để tŕnh bày kết quả mỹ măn của bao ngày tháng đào bới khảo cứu vất vả. Ông đă trưng dẫn trước mặt mọi người một xác người đă khô đét, nhưng c̣n có thể nhận ra là tay chân của xác người này bị đâm thủng, cạnh sườn bị đâm thâu và cả những dấu chứng tỏ thân xác ấy bị nhuốm máu qua những vết in trên tấm khăn liệm xác.

Cuốn phim quay lại cảnh mọi người im lặng theo dơi bài thuyết tŕnh của nhà khảo cố. T́nh cờ có một phụ nữ phát biểu lớn tiếng: “Đây là sự thật hiển nhiên. Ông ta bị đóng đinh, đă chết và đă được táng xác” và nhà khảo cổ tiếp lời: “Vâng, đúng thế, bị đóng đinh, chết và được an táng. Nhưng làm ǵ có chuyện Phục Sinh, bởi v́ xác ông ta vẫn c̣n nằm đây”.

Tiếp đến, cuốn phim diễn tả hậu quả của cuộc t́m được xác ông Giêsu:

- Không ai c̣n mừng lễ Phục Sinh nữa.

- Một linh mục tắt đèn Nhà Chầu, cất Ḿnh Thánh Chúa và đóng cửa nhà thờ.

- Chuông các thánh đường im tiếng.

- Các nữ tu cởi khăn trùm đầu.

- Thánh giá tại nhiều nơi bị hạ xuống.

- Đèn bên những ngôi mộ bị dập tắt.

- Thế giới ch́m đắm trong màn đêm u tối dày đặc.

Cuốn phim kết thúc với cảnh chính nhà khảo cổ đang hấp hối. Trước khi trút hơi thở cuối cùng, ông ta đă thú nhận: “Tôi đă đánh lừa thế giới. Chính tôi đă làm giả xác của ông Giêsu và bí mật đặt vào trong mộ mấy năm trước khi khởi sự cuộc đào bới t́m kiếm này”.

Sau lời tuyên bố đó là cảnh hàng ngàn người tuôn đến ngôi mộ thánh ở Giêrusalem như chúng ta chứng kiến hàng năm trong Tuần Thánh. Những ngọn nến được thắp lên và các tín hữu mang những ngọn nến được thắp sáng, ngọn nến của niềm hy vọng đi khắp nơi soi sáng con đường tăm tối. Chuông các nhà thờ ngân vang như báo tin Chúa Giêsu đă Phục Sinh: T́nh yêu mạnh hơn tội lỗi. Sự sống mạnh hơn cái chết.

Anh chị em thân mến, câu truyện phim giả tưởng trên đây mang sứ điệp của lễ Phục Sinh mà những người Kitô hữu chúng ta tưởng niệm và mừng kính hôm nay. Đó là cuộc Phục Sinh của Chúa Giêsu không chỉ liên hệ đến cuộc đời của Ngài mà c̣n trực tiếp liên quan đến vận mạng của toàn thể nhân loại cũng như ảnh hưởng mật thiết đến cuộc sống, niềm tin và hy vọng của tôi cũng như của anh chị em. V́, nếu Chúa Kitô không sống lại th́ chúng ta vẫn c̣n mang tội lỗi trong ḿnh và không ai giải cứu được chúng ta, không ai đem chúng ta đến gặp Thiên Chúa được. Nếu Chúa Kitô không sống lại, chúng ta sẽ là kẻ vô phúc nhất, ngu đần nhất, v́ chúng ta đặt tin tưởng vào một chuyện hăo huyền. Nếu Chúa Kitô không sống lại, th́ thập giá chỉ là dấu hiệu của ô nhục, những đau khổ của con người không có lối thoát và cái chết của con người là ngơ cụt, là đường cùng.

Nhưng Chúa Kitô đă sống lại. Ngài đă cho chúng ta niềm hy vọng. Ngài đă đem theo những đau khổ của loài người qua bên kia bờ tuyệt vọng, làm cho những quằn quại của kẻ sắp bị cái chết tiêu diệt, nhưng là nỗi đau của người mẹ đang sinh con, nỗi đau làm phát sinh sự sống mới. Chúa Giêsu sống lại, Thập giá không c̣n là dấu hiệu của ô nhục, nhưng là dấu hiệu của vinh quang.

Mừng Chúa sống lại, người Kitô hữu cũng mừng sự sống lại của chính ḿnh bằng cách đổi mới cách sống của ḿnh, như Thánh Phaolô đă kêu gọi: “Nếu anh em sống lại với Đức Kitô, anh em hăy nghĩ đến những sự trên trời chứ đừng nghĩ đến những sự dưới đất”. Đây không phải là lời khuyên xa lánh các thực tại trần thế. Trái lại, đây là lời mời gọi mỗi người Kitô hữu hăy t́m và thể hiện những giá trị mới của cuộc sống mà Chúa Giêsu đă mạc khải qua các giáo huấn, qua cuộc sống cũng như cái chết của Ngài.

Một em bé nọ thường nghe mẹ em buột miệng thốt lên: “Chúa đă sống lại, ta hăy vui lên!”. Mỗi khi gặp điều ǵ khó khăn trong cuộc sống, bà tự nhủ: “Chúa đă sống lại, hăy vui lên!”. Bà thường tự nhủ trong ḷng, nhưng khi bà thốt lên thành tiếng, con trai bà cũng nghe được. Em bé bắt chước mẹ, em thốt lên câu đó mỗi khi em gặp điều bất b́nh, khi bạn bè chơi xỏ, khi gặp điều không được như ư… Và thú thật, khi thốt lên câu: “Chúa đă sống lại, ta hăy vui lên!” th́ em b́nh thản trở lại. Hành động của bà mẹ và em bé kia nói lên cố gắng sống niềm vui Phục Sinh một cách cụ thể, chuyển tải một chân lư nền tảng nhất của đạo Kitô vào trong cuộc sống hằng ngày, qua đó, biểu lộ niềm tin và hy vọng. T́nh yêu mạnh hơn tội lỗi. Sự sống mạnh hơn cái chết.

Thưa anh chị em.

Người Kitô hữu mừng Chúa sống lại cũng được mời gọi làm chứng cho niềm tin về sự sống mới này. Chúa Kitô đă chết và đă sống lại v́ chúng ta, chính là để chúng ta không c̣n sống cho ḿnh nữa, không c̣n khư khư giữ lấy mạng sống, giữ lấy sự an toàn ích kỷ cho ḿnh, nhưng là sống cho Chúa và như Chúa, hoàn toàn v́ Thiên Chúa và cho mọi người. Ước chi Thánh lễ Phục Sinh hôm nay cũng như Thánh lễ mỗi ngày Chúa Nhật giúp chúng ta thực thi cụ thể trong cuộc sống lời chúng ta tuyên xưng: “Chúng con loan truyền Chúa đă chịu chết. Chúng con tuyên xưng Chúa đă sống lại. Chúng con đợi chờ ngày Chúa quang lâm”. 

 
 

12. Xác nhận ḷng tin - McCarthy

Suy Niệm 1. BƯỚC NHẢY VỌT CỦA L̉NG TIN

Đôi khi, chúng ta ghen tị với các Tông đồ và các môn đệ đầu tiên. Chúng ta cho rằng họ có lợi thế hơn tất cả các Kitô hữu sau này, bởi v́ họ thực sự nh́n thấy Đức Giêsu, đôi bàn tay của họ đă được đụng chạm vào Người. Do đó, ḷng tin thật dễ dàng đối với họ. Và chúng ta cho rằng cũng thật dễ dàng đối với chúng ta, nếu giống như các Tông đồ, chỉ cần cá nhân chúng ta có thể được gặp gỡ Đức Giêsu, hoặc giống như các môn đệ đầu tiên, chúng ta được nh́n thấy những phép lạ mà Người đă thực hiện cho chúng ta.

Vâng, các môn đệ đầu tiên có lợi thế được tận mắt nh́n thấy Đức Giêsu. Nhưng phải chăng điều đó tạo ra bất cứ sự dễ dàng nào hơn cho ḷng tin của họ? Khi nh́n vào Đức Giêsu, họ có thể nh́n thấy ǵ? Họ không thể nh́n thấy và không thể nh́n thấy được Thiên Chúa, bởi v́ không ai ngay lập tức có thể nh́n thấy và nhận biết Thiên Chúa được. Nơi Đức Giêsu, họ chỉ nh́n thấy một con người có bên ngoài h́nh giống như họ.nhưng khởi đi từ đó, để tin tưởng được rằng Người chính là Con Thiên Chúa, đ̣i hỏi một động tác vĩ đại của ḷng tin.

Điều này giải thích cho sự kiện rằng có nhiều người đă từng được nghe Đức Giêsu nói và được nh́n thấy Người hành động, mà vẫn không hề có ḷng tin nơi Người. Ngay cả chính bản thân các Tông đồ, đă từng được ở với Người ngay từ đầu, mà vẫn tỏ ra chậm tin. Được nh́n thấy không nhất thiết là tin tưởng.

Cú sốc do cuộc thương khó và cái chết trên thánh giá của Người gây ra, quả thật là quá lớn lao, đến nỗi làm cho các Tông đồ chậm tin tưởng vào nguồn tin tức về Sự Sống Lại. Khi Đức Giêsu hiện ra với họ vào buổi tối ngày Phục Sinh. Người đă khiển trách họ v́ sự không tin tưởng và sự cứng ḷng của họ, bởi v́ họ đă không chịu tin lời những người đă được nh́n thấy Người, sau khi Người sống lại (Mc 16,14).

Tất cả những điều này để lại cho cái ǵ cho chúng ta? Chúng ta không thể nh́n thấy Đức Giêsu theo cách thức mà các Tông đồ đă nh́n thấy Người. Chúng ta không thể hiện diện trong căn pḥng nơi diễn ra các sự kiện của Tuần Thánh, khi Đức Giêsu ghé vào. Chúng ta không thể được xỏ tay vào những vết thương của Đức Giêsu. Chúng ta không thể được nh́n vào khuôn mặt của Người và nói “Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con”. Chúng ta phải sống bằng ḷng tin, chứ không phải bằng sự nh́n thấy. Tuy nhiên, nếu tin tưởng nơi Đức Giêsu, th́ chúng ta phải nh́n thấy Người bằng một cách nào đó. Nhưng bằng cách nào để những người như chúng ta có thể nh́n thấy Đức Giêsu? Chúng ta phải làm ǵ, để có được ḷng tin?

Chúng ta là những môn đệ gián tiếp. Mà v́ là những môn đệ gián tiếp, nên mọi sự đều khó khăn hơn theo cách thức nào đó, nhưng lại dễ dàng hơn theo cách khác. Mọi sự đều khó khăn hơn, bởi v́ 20 thế kỷ đă trôi qua, kể từ khi Đức Giêsu bước đi trên trái đất này. Nhiều lớp bụi đă phủ lên, ánh sáng đă bị phai mờ. Nhưng về khía cạnh tích cực, khái niệm rằng Con Thiên Chúa bước đi trên trái đất đă trở nên “tự nhiên” theo thời gian, và v́ thế, theo cách thức nào đó, đă lại trở nên dễ dàng hơn để tin. Nhưng đến khi măn thời, th́ về cơ bản, tất cả các môn đệ đều như nhau –tất cả đều phải làm một cú nhảy của ḷng tin. Chúng ta trở nên những người môn đệ thông qua ḷng tin.

Các bạn bè của Đức Giêsu đă được nh́n thấy và nghe tiếng Người nói, chỉ một thời gian ngắn sau ngày Phục Sinh, nhưng cuộc sống của họ đă được hoàn toàn thay đổi. Và bằng cách chia sẻ ḷng tin của họ, cuộc sống của chúng ta cũng sẽ được thay đổi. Chúng ta sẽ có khả năng bước đi trong niềm hy vọng, bởi v́ chúng ta biết rằng ḷng tốt sẽ chiến thắng sự dữ, và sự sống sẽ chiến thắng cái chết, bởi v́ Đức Giêsu đă sống lại.

Suy Niệm 2. VIẾNG MỘ

Vào buổi sáng Phục Sinh, các phụ nữ đi ra ngôi mộ, nơi chôn cất Đức Giêsu. Họ phải thực hiện một công việc u buồn –hoàn tật việc ướp xác Đức Giêsu. Nhưng đó không phải là lư do duy nhất để họ đi ra mộ. Họ muốn được gần gũi với Đấng đă đem lại thoả măn cho cuộc sống của họ, và cái chết của Người đă nhận ch́m họ vào một nỗi u buồn không thể nào khuây khoả được.

Bản thân chúng ta cũng thường làm điều tương tự như vậy. Khi một người thân yêu nào đó của chúng ta qua đời, chúng ta nhận thấy thật khó chấp nhận được là người đó đă vĩnh viễn rời xa khỏi chúng ta. Chúng ta cảm thấy có nhu cầu duy tŕ mối quan hệ với người chết. Một trong những cách thức để chúng ta đáp ứng được nhu cầu này, đó là đi viếng mộ. Tuy nhiên, thay v́ làm dịu đi nỗi đau của sự mất mát, th́ điều này lại có thể làm cho nỗi đau đó càng gia tăng thêm. Điều này thậm chí có khuynh hướng làm cho kẻ chết lại càng đúng là kẻ chết hơn, bởi v́ không có nơi nào làm cho chúng ta tin chắc chắn rằng người thân yêu của chúng ta đă bị chết, cho bằng ở ngay tại mộ.

Trong buổi sáng ngày Phục Sinh đầu tiên đó, nếu mọi việc cứ diễn tiến như ḷng mong muốn, th́ các phụ nữ sẽ ướp xác Đức Giêsu, đóng cửa mộ lại, và hơn bao giờ hết, họ càng thêm tin tưởng rằng sự kiện xảy ra trong ngày Thứ Sáu không phải là một cơn ác mộng, mà là một thực tại khủng khiếp. Nhưng mọi việc lại không diễn ra như dự định.

Tại mộ, họ đă gặp hai thiên thần, hai vị đó đă nói với họ “Tại sao các bà lại đi t́m người sống giữa kẻ chết? Người không c̣n ở đây nữa, nhưng Người đă sống lại rồi”. Sứ điệp Phục Sinh lần đầu tiên được gửi đến cho những nữ môn đệ có ḷng tin này: Đức Giêsu không chết, Người đang sống. Như vậy, họ không được phí phạm th́ giờ trong việc t́m kiếm Người tại chốn mồ mả.

Tất cả chúng ta thường cảm thấy đau buồn khi ở trong nghĩa trang, v́ tại đó, tất cả mọi sự đều nói lên cái chết. Tuy nhiên, chính tại một nơi như vậy, mà lần đầu tiên sự sống lại đă được loan báo. Thật là phù hợp khi tại nơi đây, một nơi dường như cái chết thống trị, mà tin vui về sự sống lại của Đức Giêsu lần đầu tiên đă được công bố.

Thông qua tiếng nói của Phụng vụ, cũng sứ điệp đó đem đến cho chúng ta: Đừng t́m kiếm người thân yêu của bạn tại mộ. Người chết không c̣n ở đó nữa. Đức Giêsu đă chế ngự cái chết, không phải chỉ cho bản thân Người, nhưng cho tất cả chúng ta. Người là Đấng đầu tiên sống lại từ cơi chết, chúng ta sẽ được đi theo Người. Vậy đối với người Kitô hữu, theo ư nghĩa cuối cùng của sự huỷ diệt, không có điều ǵ giống như cái chết. Những người thân yêu đă qua đời của chúng ta không phải là người chết nữa, họ vẫn c̣n sống, thậm chí họ c̣n được sống một cuộc sống thực sự và đẹp đẽ hơn cả chúng ta. Họ không ở cách xa chúng ta. Những người nào được chết trong ơn nghĩa Chúa, họ không ở cách xa chúng ta hơn so với Thiên Chúa, mà Thiên Chúa th́ rất gần gũi với chúng ta.

Chúng ta hăy tiếp tục cầu nguyện cho những người thân yêu đă qua đời của chúng ta, trong trường hợp họ vẫn c̣n cần đến sự giúp đỡ của chúng ta. Và chúng ta hăy tiếp tục đi viếng nghĩa trang, nếu điều này giúp cho kư ức về họ được sống động. Nhưng chúng ta đừng t́m kiếm họ tại đó. Và nếu nỗi buồn vẫn cứ đeo đẳng trong tâm hồn chúng ta, th́ nhờ sự kiện đă xảy ra vào buổi sáng ngày Phục Sinh, nỗi buồn của chúng ta sẽ được hoà lẫn với một niềm hy vọng âm thầm.

NHỮNG CÂU CHUYỆN KHÁC

1. Viktor Frankl đă trải qua 3 năm tại Auschwitz. Anh vẫn c̣n sống sót, mặc dù vợ và gia đ́nh của anh đều đă chết. Anh kể lại rằng vào một ngày kia, liên sau khi được phóng thích khỏi trại giam, anh đă đi bộ xuyên suốt vùng đồng quê, hướng về khu phố chợ, cách trại giam vài dặm đường.

Cánh đồng cỏ trổ đầy hoa. Những con chim chiền chiện hót vang trong khi bay vào bầu trời. Suốt nhiều dặm khắp chung quanh đó, anh không nh́n thấy một người nào, không có ǵ cả, ngoại trừ mặt đất và bầu trời bao la, tiếng hót của những con chim chiền chiện, và sự thoáng đăng của không gian. Anh dừng chân lại, nh́n ra chung quanh ḿnh, rồi ngước mắt nh́n lên bầu trời trong xanh. Thế rồi anh quỳ gối xuống cám ơn Thiên Chúa, v́ đă được phóng thích. Trong khi cầu nguyện, một câu nói chợt nảy đến trong anh, diễn tả được cảm giác mà anh đang có: “Tôi đă kêu cầu Thiên Chúa từ nơi nhà tù chật hẹp của tôi, và Người đă đáp lại trong sự tự do của không gian”.

Anh không thể nói được là ḿnh đă quỳ gối tại đó trong bao lâu, miệng cứ lập đi lập lại câu nói này. Nhưng sau này, anh kể “Trong ngày hôm đó và ngay tại thời điểm đó, cuộc sống mới của tôi bắt đầu. Tôi tiến triển từng bước một, cho đến khi một lần nữa, tôi được trở thành một con người”.

Chúng ta không thể tách biệt niềm vui mà Frankl đă cảm nhận được ngày hôm đó, trong một cánh đồng phủ đầy hoa, với nỗi đau khổ mà anh đă trải qua trong trại giam. Trên thực tế, niềm vui này sẽ không có ư nghĩa, nếu trước đó, không xảy ra nỗi đau khổ. Tương tự như vậy, chúng ta không thể tách biệt sự sống lại của Đức Giêsu với cuộc thương khó và cái chết của Người. Không thể tách biệt vinh quang của Người với nỗi đau đớn của Người. Mặc dù một cách chậm chạp, nhưng các Kitô hữu tiên khởi đă thấu hiểu rằng cuộc thương khó và cái chết của Đức Giêsu chính là cách thế để Người đi vào trong vinh quang của Người. Chúng ta không thể có được ngày Chúa Nhật Phục Sinh, mà không có ngày Thứ Sáu Tuần Thánh. Nhưng khi đang trải qua ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, th́ chúng ta nên nhớ đến ngày Chúa Nhật Phục Sinh.

2. Sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, khi các nữ môn đệ lên đường đi ra viếng mộ Đức Giêsu, th́ họ rất thắc mắc rằng: Ai đă lăn tảng đá lớn đặt ở lối đi vào mộ?

Có một người đàn ông đă căi nhau với cha của ḿnh, hậu quả là suốt mấy năm trời, anh ta không hề nói chuyện với ông cụ, mặc dù hai cha con chỉ sống cách xa nhau vài dặm đường. Anh ta là người con trai duy nhất; mẹ của anh đă rời bỏ gia đ́nh. V́ thế hiện nay, ông cụ sống cô đơn một ḿnh. Thế giới của ông càng ngày càng nhỏ bé và tối tăm hơn, với từng ngày trôi qua. Ông cụ chưa chết đi, nhưng về mặt ư nghĩa, th́ ông cụ đă như ở trong mồ rồi.

Chúng ta kinh ngạc về năng quyền mà Đức Giêsu có, để cho kẻ chết sống lại, quả thật đúng là như thế. Chẳng hạn, người con trai trong câu chuyện trên có thể lăn tảng đá ra khỏi ngôi mộ của người cha. Bằng một lời nói hoặc một cử chỉ, anh ta có thể giải thoát ông cụ khỏi ngôi mộ của nỗi cô đơn và tuyệt vọng của ông. Và bằng cách giúp đỡ người cha, anh ta cũng sẽ giúp đỡ được chính bản thân ḿnh. Đây là một trong những cách đền bù đáng quư của cuộc sống, mà chúng ta không thể làm phấn chấn tinh thần cho người khác, nếu chúng ta không biết cũng tự gây phấn khởi cho chính bản thân ḿnh.

 
 

13. Chú giải của Noel Quesson

Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần

Cả bốn Tin Mừng đều đồng ư về điểm lịch sử này. Đó là biến cố Phục sinh xảy ra vào hôm sau ngày Sabát, hôm sau ngày Lễ Vượt qua của người Do Thái. Là người rất nhạy cảm với các biểu tượng, Gioan cho rằng, "ngày thứ nhất" trên đây gợi lên một thế giới mới đang khởi đầu; một cuộc tạo dựng mới, một tuần lễ sáng thế mới.

Đau khổ và cái chết là những chứng cớ hiển nhiên chống lại sự hiện diện của Thiên Chúa: Làm sao lại xảy ra việc Thiên Chúa có thể tạo dựng một thế giới đầy bất hạnh như thế?

Vấn nạn đó không thể trả lời được, nếu ta phủ nhận biến cố Phục sinh. Các giáo phụ cũng như những người quen suy niệm Kinh Thánh, đều nghĩ rằng, Thiên Chúa có thể không bao giờ "dựng nên" công cuộc sáng tạo đầu tiên (mọi tạo vật đều phải chết), nếu Người đă không tiên liệu từ thuở đời đời công cuộc sáng tạo thứ hai của Người, nhờ đó sẽ không c̣n sự chết, cũng không c̣n tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, v́ những điều cũ đă biến mất" (Kh 21,4).

Lúc trời c̣n tối, bà Maria Mácđala đi đến mộ

Bốn Tin Mừng đều nhất trí về sự kiện lịch sử trên. Đó là các phụ nữ là những người đầu tiên đă khám phá ra “biến cố". Là người ở trong cuộc, Gioan đặc biệt quan tâm tới một người phụ nữ, chị Maria Mácđala. Ông gán cho chị là Người đă được Đức Giêsu hiện ra đầu tiên (Ga 20,11-18).

Thấy tảng đá đă lăn khỏi mộ. Bà liền chạy về gặp ông Simôn Phêrô và người môn đệ Đức Giêsu thương mến

Chi ta "chạy". Chi tiết này rất có ư nghĩa.

Chị chưa gặp Đức Giêsu. Chị chưa tin. Chị mới chỉ đứng trước sự kiện ngôi mộ mở ngỏ! Đó là điều bất thường. Chị không ngờ được việc đó. Chị cảm thấy hốt hoảng. Chị chạy đi báo tin cho các vị có trách nhiệm. Ở đoạn văn trên, ta nên ghi nhận một tên gọi đặc biệt được gán cho "môn đệ" không nêu rơ danh tánh: "Người môn đệ Đức Giêsu thương mến". Truyền thống vẫn thừa nhận Gioan, tác giả của tŕnh thuật trên, là chính người môn đệ đó. Ngoài ra, trong nhóm Mười Hai, không phải là không có sự ghen tị, v́ Gioan vẫn thường được Đức Giêsu quan tâm cách hết sức đặc biệt. Chi tiết này cũng rất quan trọng. Ta nên ghi nhận điều đó.

Bà nói: "Người ta đă đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu

Lúc này, chị mới chỉ đưa ra giả thuyết: Người ta đă đem Chúa đi khỏi mộ. Người ta không giải thích sự kiện theo lư trí: V́ quá mong ước Người sống lại, nên không tránh khỏi một ảo giác. Đúng ra, tất cả các bản văn đều nói ngược lại.

Rơ ràng, tŕnh thuật trên được kể lại để giúp ta cảm thấy rằng, sự kiện ngôi mộ trống không là một bằng chứng, tự nó có khả năng khiến ta tin. Tuy nhiên, ngôi mộ trống kỳ diệu đó là một đối tượng đ̣i hỏi ta phải thắc mắc. Chỉ vỏn vẹn trong một trang, mà từ "ngôi mộ” được nhắc tới bảy lần! Cho đến lúc này, mới chỉ có thế!

Ông Phêrô và môn đệ kia liền đi ra mộ. Cả hai người cùng chạy. Nhưng môn đệ kia chạy mau hơn ông Phêrô và đă tới mộ trước

Gioan nhớ lại, ông đang ở đó. Nhưng giải thích chi tiết hơn, chỉ nguyên dựa vào sự kiện chưa đủ. C̣n một yếu tố khác Gioan nhận ra một biểu tượng: Phêrô có thể tự để cho kẻ khác vượt qua ḿnh, để cho các môn đệ hăng say hơn đi trước ông. Và đó không phải là trường hợp duy nhất Gioan đă đi trước Phêrô (Ga 13,24; 18,12-16; 21,20-23). Nhưng tại sao ở đây lại nhấn mạnh đến điểm bất thường này?

Ông cúi xuống và nh́n thấy những băng vải c̣n ở đó, nhưng không vào. Ông Simôn Phêrô theo sau cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, và khăn che đầu Đức Giêsu. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi.

Cách dịch sát nhất bản văn Hy Lạp, do Gioan đă mục kích và viết lại có thể như sau: "ông nh́n thấy băng vải bung ra, và khăn quấn đầu Ngài, không tuột ra cùng với băng vải, nhưng được cuốn lại riêng biệt, đặt đúng chỗ của nó”.

Tóm lại, không có bàn tay bên ngoài nào đă tham dự vào. Chỉ thấy thân xác đă biến mất, và những khăn liệm tuột bung ra tại chỗ. Gioan cũng ghi nhận rằng, khăn quấn đầu (đó là thứ băng vải quấn chung quanh đầu để giữ quai hàm, theo như tập quán tẩm liệm của người Do thái) vẫn c̣n ở đó, được cuốn lại đặt đúng chỗ, bên trong băng vải.

Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đă tới mộ trước, cũng đi vào

Gioan nhấn mạnh: chính ông cũng bước vào!

Đó không thể là một chi tiết không quan trọng, không ư nghĩa.

Ông đă thấy và đă tin.

Phêrô vẫn chưa hiểu ǵ. Khi thuật lại cảnh Phêrô đến thăm mộ, Luca nói rơ ràng, ông ta chỉ chứng kiến, nhưng trở về nhà rất đỗi ngạc nhiên, không hiểu ǵ hết” (Lc 24,12).

Maria Mácđala đă giải thích theo kiểu nhân loại: “Người ta đă đem Chúa đi khỏi mộ".

Phêrô th́ không hiểu ǵ hết.

C̣n Gioan sáng suốt hơn, "ông đă thấy và đă tin".

Vây ông đă thấy những ǵ?

Ông đă chứng kiến cũng một sự việc như Phêrô, nhưng Phêrô không biết giải thích.

Để tin, cần phải có đôi mắt của tâm hồn. Cần những con mắt của t́nh yêu. Giờ đây chúng ta mới hiểu rơ, tại sao Gioan lại nói đến "người môn đệ Đức Giêsu thương mến". V́ t́nh yêu này mà Gioan đă chạy nhanh hơn! V́ t́nh yêu này mà ông là người đầu tiên đă tin sau này, trên bờ hồ Galilê, chính "người môn đệ Đức Giêsu thương mến" sẽ nhận ra Đức Giêsu trước Phêrô (Ga 21,7).

Ở đây chúng ta lại nhận thấy t́nh yêu luôn tác động tới đức tin. Những người nắm giữ quyền bính trong Giáo hội chưa hẳn đă có đặc ân này. Thay v́ ganh tị nhau "quyền bính", trong Giáo hội, tất cả chúng ta được mời gọi trở nên những người đi tiên phong "trong t́nh yêu”. Đó là điều quan trọng hơn cả.

Ông đă thấy và đă tin.

Đối với Gioan, sự kiện khăn liệm được sắp xếp gọn gàng là một dấu chỉ c̣n ư nghĩa hơn ngôi mộ trống. Khi vừa nh́n thấy "băng vải tuột ra” và "khăn quấn đầu vẫn ở nguyên tại chỗ", nhờ một thứ trực giác soi sáng, ông đă nhận ra ngay rằng, Người đă không thể dùng tay chân mà di động thân xác ra khỏi mộ, nhưng chỉ có thể Người đă hết hiện hữu cách thể lư bên trong những khăn băng tẩm liệm vẫn c̣n y nguyên.

Thế mà những dấu chỉ đó đă không nói lên điều ǵ với Phêrô.

Dấu chỉ không có khả năng "trao ban đức tin" cho một ai. Dấu chỉ không tuyệt đối thúc ép ta. Cần phải vượt qua “cái thấy được”, để đi tới "điều tin nhận". Chính Đức Giêsu sắp tuyên bố: "Phúc thay những người không thấy mà tin" (Ga 20,29). Như thế, Gioan đă tỏ ra là một môn đệ tuyệt vời: Ông tin, dù không thấy.

Đức tin cũng tương tự như những thực tại thâm sâu của con người. Chúng ta không bao giờ thấy được t́nh yêu mà những người yêu chúng ta. Chúng ta chỉ nhận được những dấu hiệu của t́nh yêu. đó. Do đó, những dấu chỉ trên đây chỉ thông tỏ ư nghĩa cho những ai biết đoán nhận ra chúng. Một cử chỉ, một lời nói, một sự vật là những cử chỉ c̣n hàm hồ, bấp bênh! Chúng cần phải được giải thích, nhưng không phải là không có nguy cơ sai lầm: "Sự việc đó muốn nói với tôi điều ǵ đây? Tôi cần phải hiểu cử chỉ đó thế nào?" Đó là điều rất cảm động trong mọi cuộc gặp gỡ của con người. Cuộc gặp mặt nào cũng đ̣i buộc những kẻ tham dự phải ở trong t́nh trạng cởi mở và quan tâm chú ư. Tất cả chúng ta đâu có kinh nghiệm chua xót, v́ đă ra một dấu hiệu mà không được hiểu biết, đă phát biểu một lời mà không được đón nhận, đă làm một cử chỉ mà người ta giải thích sai. Hai người cần phải yêu thương nhau hết t́nh th́ sứ điệp trao đổi mới được nhận biết trọn vẹn ư nghĩa.

V́ thế, sự kiện “mộ trống" và "những khăn liệm được sắp xếp gọn gàng”, chỉ những ai yêu nhiều, mới có thể hiểu được.

Ta cũng cần hiểu các bí tích, như những dấu chỉ giống thế.

Thật vậy, trước đó, hai ông chưa hiểu rằng: theo Kinh Thánh, Đức Giêsu phải trỗi dậy từ cơi chết

Đúng hơn, ta nên dịch câu trên như sau: "Các ông không hiểu Kinh Thánh nói rằng, Ngài phải Phục sinh kẻ chết".

Thực vậy, các sự kiện chưa đủ! "Ngôi mộ trống" chỉ là một dấu chỉ đối với Gioan, trước khi ông gặp Đức Giêsu trong những lần hiện ra, bởi v́ ông đă để cho Thánh Thần lay chuyển, mạc khải cho ông ư nghĩa của dấu chỉ. Trước những chứng cớ ông ghi nhận, Gioan c̣n biết nhớ lại những đoạn Kinh Thánh của Đức Giêsu đă trích dẫn cho các ông (Hs 6,2; Tv 2,7; Gn 2,I).

Ta cũng nên hành xử như thế, trước những biến cố của đời sống. Chúng ta chỉ có thể hiểu sâu sắc các biến cố đó, nếu ta làm sáng tỏ chúng, nhờ việc luôn suy niệm Lời Chúa, trong Thánh Thần.

Chính t́nh yêu làm cho ta hiểu rơ chân lư: Muốn tin, cần phải yêu mến.

 
 

14. Chú giải của Fiches Dominicales

NGÔI MỘ MỞ TUNG VÀ TRỐNG RỖNG

VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI

1. Người đang sống

Thật nghịch lư, Tin Mừng ngày lễ Phục sinh chỉ dừng lại ở chỗ khám phá ra ngôi mộ mở tung và trống rỗng mà không dẫn ta đi đến cùng câu chuyện, cho đến khi gặp Maria Madalêna cùng với Đấng Phục sinh và lời loan báo cho các môn đệ: "Tôi đă thấy Đức Chúa, và đây là lời Người nói với tôi (câu 28). Dường như phụng vụ hôm nay muốn mời ta đi lại hành tŕnh đức tin theo gót những chứng nhân đầu tiên.

Trong đoạn Tin Mừng ta đọc sáng nay, tác giả rơ ràng đă sắp xếp một quá tŕnh "tiệm tiến gây ấn tượng".

- Trước tiên đó là những "di chuyển" rất nhiều và rất nhanh: động từ "chạy” được lặp lại ba lần chỉ trong một câu. Sau khi khám phá ra ngôi mộ mở tung, Maria Madalêna chạy đi t́m Simon Phêrô và môn đệ kia. Simon Phêrô và môn đệ kia chạy đến mồ, môn đệ kia tới trước. Các cuộc chạy nối tiếp nhau để t́m ra một câu trả lời đầu tiên cho câu hỏi không thể hiểu nổi về ngôi mộ mở tung và trống rỗng.

- Kế đó là những “dấu chỉ" ngày càng rơ nét (với những động từ "nh́n", "thấy"), và "lời giải thích" về các dấu chỉ do chính các tác nhân đưa ra.

- Maria Madalêna "thấy" phiến đá lập cửa mồ "được cất đi”, và kết luận rằng thi thể của Thầy ḿnh cũng đă "bị lật đi". Môn đệ kia tới trước. Tuy nhiên ông không vào mộ trước Phêrô, "cúi xuống, ông thấy tấm khăn liệm c̣n đó".

- C̣n Simon Phêrô, sau khi đă vào trong mộ. "Ông nh́n tấm khăn liệm nằm đó, tấm vải phủ đầu không ở cùng chỗ với khăn liệm, nhưng cuộn lại và để riêng ra". Khác với Tin Mừng của Luca (24, 12) gợi lên ở đây sự "kinh ngạc" của Phêrô, thánh Gioan không đi xa hơn những ǵ nhận thấy. Măi sau này, khi đă gặp gỡ Đấng Phục sinh và đă nhận tràn đầy Thánh Thần, Phêrô mới hiểu tại sao ngôi mộ lại trống và tâm hồn ông mới mở ra để hiểu lời Thánh Kinh. Tin Mừng thứ tư nói rơ: "Thật vậy cho đến lúc ấy các môn đệ vẫn chưa tin rằng theo Thánh Kinh Đức Giêsu phải phục sinh từ trong kẻ chết".

- Riêng người môn đệ kia, sau đó cũng vào mộ, ông nói rằng ngay lần cảm nghiệm phục sinh đầu tiên đó "ông đă thấy và ông đă tin".

2. Và ông đă tin

Dưới mắt Giáo Hội, Phêrô vào trước và đương nhiên trở thành chứng nhân thứ nhất. Trái lại, "Môn đệ kia" được tŕnh bày ở đây như mẫu mực của người môn đệ, người môn đệ tuyệt hảo; "Người môn đệ được Đức Giêsu yêu mến"; Người trong bữa Tiệc ly đă "tựa đầu vào ḷng Đức Giêsu", với trực giác của tâm hồn, đă nh́n thấy trong cơi rỗng không của ngôi mộ, vị trí của tấm vải liệm -xếp đặt gọn gàng chứ không bừa băi- biết bao dấu chỉ về một thực tại khác, chỉ có đức tin mới cảm nhận được: "Ông đă thấy và ông đă tin". Theo ông, chẳng có ai "lấy đi" thi thể của Đức Giêsu như Maria Madalêna đă loan báo: Kẻ cắp nếu đă lấy trộm xác Thầy làm sao có thời giờ cởi bỏ vải liệm rồi cẩn thận xếp đặt gọn gàng đến thế? Theo ông, sự chết đă hoàn toàn bị sự sống tước đoạt hết sức mạnh. Trong ông đă h́nh thành một ‘chuyển biến từ thấy đến hoàn toàn tin’ vào Đức Giêsu phục sinh. Khăn liệm được xếp đặt ngay ngắn đă chứng tỏ rằng thi thể Đức Giêsu không hề bị lấy cắp, nhưng chính Đức Giêsu đă đi ra, để lại khăn liệm gọn gàng thứ tự tại nơi Người đă được liệm. Khác với Lazarô đi ra vẫn quấn khăn liệm, Đức Giêsu chẳng cần y phục v́ Người giă từ thế giới loài người" (A. Marchadour, “Tin Mừng thánh Gioan". Ccnturion, trg 244).

Là một trong những chứng nhân đầu tiên đă "thấy Đức Giêsu Phục sinh, người môn đệ kia đồng thời là mẫu mực cho những ai tin theo lời chứng của ông: "tin dù không thấy" (Ga 20, 29, Tin Mừng Chúa nhật tới).

BÀI ĐỌC THÊM

1. Khi sinh ra trong đức tin. Phêrô và Gioan mời ta theo các ngài:

(‘Cử hành’ -tạp chí của Trung tâm Quốc gia về Mục vụ và phụng vụ, số 237, trg 41-42).

Các động từ chỉ sự di chuyển tràn ngập tŕnh thuật: ra đi, chạy, vào những động từ ấy nói lên các giai đoạn trong hành tŕnh của các môn đệ đồng thời kéo theo hành tŕnh của độc giả. Hành tŕnh này không kết thúc ở đoạn cuối của một giai thoại. Các cuộc hiện ra với Maria Mađalêna, với các môn đệ, với Tôma, vẫn c̣n biết bao chặng đường thiết yếu để đi đến cùng: "Tin dù không thấy" và “tin nhờ vào quyển sách của các chứng nhân” (Ga 20, 29-31).

Trong chặng đầu tiên, ta đuổi theo một câu trả lời đầu tiên. Bí hiểm ngay ở khởi điểm: "Chúng tôi không biết họ đă đặt Đức Chúa ở đâu". Cần một cuộc điều tra. Một hoạt động từ thứ hai điểm nhịp theo tiến tŕnh: nh́n, thấy. Ta đi từ ghi nhận này đến ghi nhận khác. Ghi nhận đầu tiên là của Maria Mađalêna: tảng đá được cất đi, thi thể bị lấy đi. Ghi nhận thứ hai là của các môn đệ: vải liệm xếp gọn gàng. Ghi nhận thứ ba nhưng liệu có trùng với hai ghi nhận trên không? Người môn đệ Đức Giêsu yêu quư "đă thấy và đă tin".

Ánh sáng đức tin phát xuất từ Kinh Thánh và Lời Đức Giêsu. nhưng ngôi mộ mở tung, đầy những dấu chỉ của một thi thể người chết nhưng biến mất, bước đầu cho phép ta có cảm tưởng rằng Đức Chúa đang sống ở nơi khác. Hai con người đang sinh ra trong đức tin, mỗi người cất bước theo con đường riêng, dắt d́u nhau. Họ mời ta hăy bước theo họ.

2. Tại ngôi mộ để ngỏ

(G. Boucher trong "Thiên đường tại thế")

Buổi sáng hôm ấy một phụ nữ, Maria Madalena đến viếng mộ Đức Giêsu. Nhưng, sững sờ: cửa mộ để ngỏ, mở tung ra. Ai đă lăn tảng đá lấp cửa mộ ra rồi. Thoạt nh́n ngôi mộ mở tung gợi lên một tṛ lừa đảo, gian lận, một tṛ bỡn cợn đê tiện hoặc một sự tục hoá không chấp nhận được.

Phải, phản ứng thế nào trước một x́ căng đan như thế trước hết Maria Madalêna tham vấn các môn đệ. Bà chạy đến với Phêrô. Tức tốc Phêrô và Gioan thoát ra khỏi tính e dè, khỏi sự im lặng sợ sệt. Ông rời bỏ nơi ẩn náu. ông chạy đến xem và ghi nhận tại chỗ. Thật là một sự báng bổ, ghi nhận đầu tiên là thế.

Phêrô và Gioan cùng chạy. Họ chạy đến ngôi mộ mở ngỏ. Họ phải đối diện với một biến cố quan trọng. Và Gioan đă thấy. Ông đă thấy và đă tin.

Gioan thấy. Mà thấy ǵ? Chẳng thấy ǵ cả! Có ǵ đâu mà thấy. Vậy mà điều ông thấy đă khiến ông tin.

Ta hăy cùng Gioan cúi xuống. Ta thấy ǵ? Một lỗ hổng đen ng̣m, đầy màu trắng. Một sự trống rỗng mênh mông chứa đầy sự sống. Những vật trang hoàng cho lễ tang đă biến thành y phục sáng láng. Một sự vắng mặt la lên sự có mặt. Một sự im lặng chết chóc hùng hồn hơn tất cả những bài diễn văn. Một bức tường chỉ thấy được phần bị khoét lỗ. Một kết thúc tất cả mang vóc dáng sự khởi đầu. Một cái chết nối kết với một sinh thành. Một mầu nhiệm mà ta khám phá ra bí quyết.

Ai đă sáng chế ra từ ngữ ngôi mộ trống rỗng? Ngôi mộ đâu có trống rỗng. Bằng chứng là Gioan thấy được trong mộ chân dung đích thực của Đức Giêsu, bạn ông.

Ngôi mộ đâu có trống rỗng. Đâu có hoang vu. Đâu có câm nín. Đâu có bay mùi chết chóc. Ngôi mộ nói. Nó sẽ nói. Hôm nay nó vẫn c̣n nói với ta. Ta sẽ bỡ ngỡ. V́ sự vắng mặt ấy tuy to lớn như một nấm mồ, lại là một sự hiện diện, vĩ đại như một phép lạ.

Dưới ánh mắt của năo trạng hiện đại đă ăn sâu vào mỗi người, chết là chấm dứt tất cả. Là dấu chấm hết. Sau đó chẳng c̣n ǵ. Chẳng c̣n ǵ ngoài đêm đen. Chẳng c̣n ǵ ngoài sự trống rỗng và hư vô. Cái chết khép lại tất cả. Cái chết giam kín ta.

Nhưng này đây cái chết mở ra. Ngôi mộ của Người mở tung. Mở ra một mầu nhiệm lớn lao. Một mầu nhiệm loan báo sự sống. Có tên là chỗi dậy. Phục sinh.

Ngôi mộ mở tung ḷng trí và tâm can ta. Kư ức ta lấy được sự sống và hồi sinh. Ta mở ḷng ra cho đức tin. Sau cùng ta hiểu rằng khi vượt qua bức tường sự chết, khi nâng tảng đá cửa mộ lên, Đức Giêsu hoàn thành cuộc phục sinh đă báo trước.

 
 

15. Phục Sinh

Hôm nay, không riêng ǵ Giáo Hội Công giáo mà tất cả những người tin Chúa Kitô trên khắp thế giới, đều hân hoan mừng kính cuộc chiến thắng khải hoàn của Đấng Cứu Thế trên tội lỗi và sự chết. Chúa Giêsu đă bị giết chết trên thập giá, được an táng trong mộ đá, nhưng ngày thứ ba sau khi chết, Ngài đă sống lại. Đây là một biến cố vĩ đại, một sự kiện vô tiền khoáng hậu, độc nhất vô nhị, có một không hai trong lịch sử.

Chúa đă sống lại thế nào? Ai đă khám phá ra điều này? Cả bốn sách Tin Mừng đều tường thuật về biến cố này nhưng đều không cho biết Chúa Giêsu đă sống lại thế nào. V́ thật sự không có ai có mặt để chứng kiến biến cố lịch sử quan trọng đó. Nhưng có những nhân chứng đă nh́n thấy ngôi mộ trống, họ quả quyết xác Chúa không c̣n trong mộ và sau đó Chúa đă hiện ra nhiều lần với họ, xác nhận Ngài đă sống lại, đồng thời dạy bảo họ nhiều điều. Đó là các tông đồ và một số phụ nữ… những nhân chứng về sự sống lại của Chúa Giêsu.

Như vậy, một điều chắc chắn: sự kiện Chúa Giêsu Phục sinh không thể minh chứng một cách rơ ràng như chúng ta minh chứng một biến cố, một sự kiện tự nhiên, nghĩa là không thể chụp h́nh, đo lường hay thí nghiệm được, v́ cả nhân loại chỉ có một ḿnh thân xác Chúa sống lại, lấy đâu mà thí nghiệm, kinh nghiệm. Cho nên, việc Chúa sống lại, đối với chúng ta hôm nay, vấn đề chính yếu là tin: không thấy mà tin.

Anh chị em có bao giờ thấy, chụp h́nh hay đo lường được t́nh yêu không? Chỉ thấy qua hậu quả thôi phải không? Thấy họ hay đi với nhau, thấy họ thường ngồi nói chuyện với nhau, thấy họ có những cử chỉ thân mật với nhau… chúng ta biết họ yêu thương nhau. Niềm tin vào Chúa Giêsu Phục sinh cũng thế, chúng ta không thấy Chúa sống lại, nhưng chúng ta tin, v́ Kinh Thánh đă nói về việc Ngài Phục sinh, ḷng tin của Giáo Hội hai mươi thế kỷ qua: Chúng ta tôn thờ Đấng bị đóng đinh trên thập giá, chúng ta tôn thờ Đấng đang ngự trong nhà chầu… là chúng ta tin Chúa Giêsu đang sống, chứ không phải tôn thờ Ngài đă chết, không c̣n liên hệ ǵ đến chúng ta. Không, chúng ta tin Chúa đang sống, Ngài đang điều hành vũ trụ này, Ngài có mặt khắp nơi, Ngài đồng hành với chúng ta trên mọi nẻo đường, ngơ ngách… đâu đâu cũng có Ngài, Ngài là Thiên Chúa toàn năng và hằng hữu. V́ thế, biến cố Phục sinh là ṇng cốt của niềm tin Công giáo. Niềm tin này kéo theo nhiều niềm tin khác: tin Chúa Giêsu Phục sinh không chỉ là một nhân vật lịch sử được ghi chép lại, nhưng là một ḷng tin vẫn sống động trong lịch sử hôm nay. Chúng ta không chỉ biết về Ngài mà thôi, nhưng chúng ta thực sự gặp gỡ chính Ngài, như Ngài đang sống động hiện diện giữa chúng ta.

Nói rơ hơn, v́ Chúa đă sống lại thật, nên chúng ta không chỉ nghe biết về Chúa như nghe biết một nhân vật nào đó, chẳng hạn như ông tổng thống Mỹ, ông chủ tịch nhà nước Trung Quốc, ông vua này, bà hoàng nọ. Nhưng có một khác biệt sâu xa giữa việc nghe biết về một con người b́nh thường hay về những nhân vật lịch sử, v́ họ đă chết và đă biến khỏi mặt đất. Với Chúa Giêsu th́ khác hẳn, Ngài đă sống lại và đang sống. Chúng ta biết Ngài và gặp gỡ Ngài một cách thực sự.

Tiếp đến, chúng ta tin Chúa sống lại là chúng ta tin chúng ta được cứu chuộc. Bởi v́ Chúa sống lại mới cứu chuộc được nhân loại. Nếu như Ngài chết luôn như các giáo chủ khác, th́ Ngài không có quyền ǵ cứu chuộc chúng ta, nhưng Ngài đă sống lại để chứng tỏ Ngài là Thiên Chúa và Ngài có quyền cứu chuộc tất cả chúng ta.

Đàng khác, Chúa sống lại c̣n là niềm hy vọng cho chúng ta: tất cả chúng ta cũng sẽ sống lại. Thân xác chúng ta sẽ sống lại, đúng như chúng ta tuyên xưng trong kinh Tin Kính: “Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại”. Bởi v́ thân xác sống lại là hiệu quả của mầu nhiệm Phục sinh của Chúa Giêsu, như Kinh Thánh đă nói: “Đấng đă làm cho Chúa Giêsu sống lại cũng sẽ làm cho chúng ta sống lại với Chúa Giêsu”. Như vậy, Chúa Giêsu đă chiến thắng sự chết và cho hết thảy chúng ta được chung hưởng chiến thắng đó.

Tóm lại, ngày đại lễ Phục sinh hôm nay, chúng ta xác tín: Chúa Giêsu đă sống lại. Ngài đă chiến thắng tội lỗi và sự chết. Ngài đang sống thật sự và đang ở với những ai tin Ngài, trong đó có chúng ta. Chúng ta hăy cảm tạ Chúa và cố gắng sống như những người đă được cứu chuộc: sống công b́nh và yêu thương, sống vui vẻ và phấn khởi, để cuộc đời chúng ta luôn là một lời ca “Allêluia” chứng nhân cho Chúa. 

 
 

16. Kinh ngạc

Biến cố Phục sinh đă xảy ra với nhiều kinh ngạc. Kinh ngạc về sự chết! Kinh ngạc về các tông đồ! Kinh ngạc v́ Ngài đă sống lại! Kinh ngạc v́ Ngài đă hiện ra với những người phụ nữ trước hết và sai họ đi loan báo Tin Mừng!

 “Vào thời Chúa Giêsu, phụ nữ là giới bị thua thiệt. Họ không được b́nh đẳng với đàn ông. Phần lớn họ không có cơ hội học hành, không được đối xử đồng đều về mặt pháp lư, và không được tham gia một số công tác dành cho nam giới. T́nh trạng này được cải thiện từ từ nhờ thái độ và lời giáo huấn của Chúa Giêsu”.

Trong bản tường thuật của Matthêu về sự sống lại của Chúa Giêsu, chúng ta nghe kể bà Maria Mácđala và một bà Maria khác đến mộ với sự buồn bă, v́ nghĩ rằng xác Ngài vẫn c̣n nằm trong mộ. Tuy nhiên, các bà đă cảm nghiệm một sự kinh ngạc vĩ đại nhất trong cuộc đời. Chúa Giêsu Kitô không c̣n chết nữa, Ngài đă sống lại!

Từ kinh ngạc chuyển sang vui mừng. Matthêu kể rằng: “Hai bà vội vă ra khỏi mồ vừa sợ hăi vừa hớn hở vui mừng, chạy báo tin cho các môn đệ Người”. Sự buồn rầu và tuyệt vọng của họ đă bị đánh tan bởi sự kinh ngạc và vui mừng khi nghe tin Chúa đă sống lại.

Chúng ta cũng đă có những cảm nghiệm giống như các bà khởi từ sự buồn bă, tăm tối và thất vọng chuyển sang kinh ngạc và vui mừng. Điều này có thể xảy ra trong nhiều h́nh thức khác nhau đối với mỗi người trong cuộc đời. Đó có thể là một t́nh huống tuyệt vọng đă trở nên sáng sủa hơn. Điều chúng ta nghĩ rằng xấu nhất, nhưng với sự giúp đỡ của Thiên Chúa, đă trở nên tốt hơn như khi một người ốm đau được ơn chữa lành, một người vô thần đón nhận ánh sáng đức tin, những kẻ thù địch ḥa giải với nhau, những kẻ bị giam cầm được thả tự do…

Cha Manton đă kể lại cảm nghiệm ấy qua câu chuyện như sau. Vào ngày Thứ Tư Tuần Thánh trong năm cuối cùng của cuộc thế chiến thứ hai, tôi đă trông thấy một bà quỳ trước bàn thờ Đức Mẹ, nước mắt tuôn rơi. Tôi tự hỏi, “Bà ấy có chuyện rắc rối ǵ đây?” Bà sụt sùi, tḥ tay vào trong túi sách màu đen rút ra cái điện tín nhàu nát. Rồi lại khóc nức nở, “Con nhận được cái điện tín này cách đây 2 tiếng đồng hồ”. Điện văn với hàng tin, “Bộ chiến tranh rất tiếc phải báo tin cho bà biết rằng con trai của bà đă bị mất tích tại chiến trường”.

Tôi chẳng biết phải làm ǵ để an ủi bà ngoài những tiếng lầm bầm hứa hẹn cầu nguyện cách riêng cho con bà. Sáng hôm sau, Thứ Năm Tuần Thánh, tôi lại thấy bà mẹ đó quỳ trước bàn thờ Thánh Thể, khuôn mặt buồn sầu hơn bao giờ hết. Dường như bà đă già đi nhiều chỉ qua một đêm. Bà giống như Chúa Giêsu chịu hấp hối trong vườn cây dầu…

Vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, tôi thấy bà ngồi ở hàng ghế đầu tiên, nh́n vào khoảng trống của bàn thờ với cây thập giá phủ khăn tím. Bà giống như Đức Mẹ Maria đang đứng dưới chân thập giá. Đây là ngày Thứ Sáu khổ nạn của tâm hồn bà.

Bước sang đêm Thứ Bảy Tuần Thánh, trước khi chúng tôi bắt đầu nghi thức Vọng Phục Sinh, bà tiến đến nói với tôi một tin mừng. Dường như đây không phải là người đàn bà của ngày hôm trước. Đây là một người đàn bà mới với cái điện tín mới. Con trai của bà an toàn, đang là một tù binh chiến tranh. Bà đă không thể nói với tôi được điều ǵ, chỉ đơn giản đẩy chiếc điện tín vào tay tôi. Rồi bà lại khóc nữa, nhưng những giọt nước mắt của niềm vui và hạnh phúc. Khi bà ra về, tôi gọi lớn, “Chúc mừng Phục sinh”… và từ nụ cười rạng rỡ trên khuôn mặt của người mẹ, tôi biết bà đă cảm nghiệm được ư nghĩa của niềm vui Phục sinh nhiều hơn tôi. Đó chẳng phải là sự sống lại của con bà hay sao?

 
 

17. Niềm tin

Có một cuốn phim, tựa đề là “Đức Giêsu Kitô”, đây là một cuốn phim nhạc nổi tiếng về cuộc đời Chúa Giêsu. Bằng ngôn ngữ của âm nhạc, tác giả cuốn phim đă cố gắng diễn tả cuộc đời Chúa Giêsu theo tâm thức của con người thời nay, giúp cho người xem có thể học hỏi và hiểu biết thêm về Chúa Giêsu. Nhưng có một thiếu sót lớn nhất của cuốn phim nhạc này là đă không đề cập đến việc Chúa Giêsu sống lại. Cuốn phim kết thúc cuộc đời của Chúa bằng cái chết treo trên thập giá.

Cuộc đời Chúa Giêsu chết là hết chăng? Những người không có niềm tin Kitô giáo xem cuốn phim này sẽ kết luận như thế. Bởi v́ “chết là hết”, đó là ư nghĩa thông thường của con người. Đó cũng là tâm trạng của các môn đệ Chúa Giêsu sau cái chết nhục nhă của Ngài: tất cả mọi hy vọng của họ đều tan thành mây khói. Thế nhưng, một biến cố bất ngờ đă xảy ra: Ngày thứ ba sau khi tử nạn, Chúa Giêsu đă sống lại. Đây là một biến cố vĩ đại, một sự kiện vô tiền khoáng hậu, độc nhất vô nhị, có một không hai trong lịch sử, một biến cố đă làm phát sinh một tổ chức lan rộng khắp thế giới mà chúng ta gọi là Kitô giáo.

Việc Chúa Giêsu Kitô sống lại là một biến cố cực kỳ quan trọng, nhưng lại là sự việc mà lư trí con người khó hiểu nổi, v́ nó ở ngoài và vượt trên lịch sử nhân loại, không một người nào đă thấy và có kinh nghiệm. Ngay các môn đệ đi theo Ngài và được Ngài báo trước cho biết việc đó, thế mà khi Ngài sống lại họ cũng chưa tin, huống chi những người khác. Phục sinh là một chân lư mà người ta chỉ có thể chấp nhận được nhờ đức tin.

Tuy nhiên, biến cố Phục sinh cũng có những dấu hiệu bề ngoài chứng thực, như ngôi mộ trống, không có xác Chúa Giêsu ở đó. Ngài hiện ra cho mấy phụ nữ đến thăm mộ và nhất là một số môn đệ, họ nhận ra Ngài khi thấy những thương tích của cuộc khổ nạn trên thân thể Ngài và tṛ chuyện ăn uống với Ngài. Rồi Ngài đă làm cho các môn đệ sau khi gặp gỡ, truyện tṛ, ăn uống với Ngài phải tin và xoay chuyển tầm nh́n của họ về Ngài: từ hồ nghi không tin đến tuyên xưng Ngài chính là Đức Kitô, đồng thời xoay chuyển cả lối sống của họ: từ thất vọng sợ hăi trở thành tin tưởng, can trường, rồi đồng loạt đi khắp nơi loan báo và minh chứng Ngài đă Phục sinh. Minh chứng cách trung thành và can đảm, không sợ bị đánh đ̣n, chế nhạo, cầm tù, mà c̣n sẵn sàng chịu tử h́nh nữa. Việc ngôi mộ trống, việc Ngài hiện ra nhiều lần, việc các môn đệ có niềm tin và lối sống mới sau khi gặp gỡ Chúa Phục sinh, tất cả đều có thật.

Quả thực, việc Chúa Giêsu sống lại là một biến cố cực kỳ quan trọng đối với chính Ngài, với giáo huấn của Ngài, với các môn đệ cũng như với tất cả mọi người, v́ là nền tảng cho niềm tin và sự cứu độ của mọi người. Đối với Chúa Giêsu, sự sống lại chứng tỏ Ngài vừa là người thật (đă đau khổ và chết) vừa là Thiên Chúa thật (đă sống lại và được tôn vinh) làm cho Ngài trở thành siêu việt trên tất cả mọi nhân vật tôn giáo trên thế giới, v́ Ngài là hoa quả đầu mùa của nhân loại mở đường vào hạnh phúc thật vĩnh hằng. Sự sống lại chứng tỏ giáo huấn của Ngài là do Thiên Chúa mạc khải và dẫn đưa con người chắc chắn đạt tới hạnh phúc ấy. Sự sống lại đă làm xoay chuyển tầm nh́n của các môn đệ về Ngài và xoay chuyển cả lối sống của các ông. Sau hết, sự sống lại là bảo đảm cho mọi người được sống lại thật và có thể được hưởng hạnh phúc vĩnh hằng như Ngài.

Trải qua hai ngàn năm, niềm tin của các tông đồ và của các tín hữu tiên khởi vẫn c̣n được tiếp tục tuyên xưng. Măi măi vẫn c̣n có người tuyên xưng Chúa Giêsu là Đức Kitô, là Con Thiên Chúa, là Đấng Cứu Thế, là Chúa. Ngài đă chết để cứu chuộc chúng ta và Ngài đă sống lại để bảo đảm chúng ta cũng sẽ sống lại. Và hiện Chúa Kitô Phục sinh vẫn đang đồng hành với chúng ta trong cuộc sống trần gian. Chúng ta vẫn gặp Ngài trong Giáo Hội, trong các bí tích, trong cầu nguyện, trong lời Chúa và trong khi thi hành điều răn mới của Ngài.

 
 

18. Niềm hy vọng sống lại

Trong những ngày này, chúng ta hớn hở mừng vui. Tiếng Alleluia không ngừng vang lên trên môi miệng chúng ta. Tại sao chúng ta hát đi hát lại điệp khúc hân hoan ấy? Phải chăng v́ Đức Kitô đă chiến thắng kẻ thù? Phải chăng v́ Ngài đă thực hiện một phép lạ vĩ đại nhất: sống lại từ trong kẻ chết? Tất cả những điều đó làm cho chúng ta vui mừng khi nghĩ về biến cố Phục sinh. Tuy nhiên, niềm vui c̣n dạt dào hơn nữa, khi chúng ta ngắm nh́n ngôi mộ rỗng của Ngài. Niềm vui dạt dào ấy đă được thánh Phaolô diễn tả như sau: Thiên Chúa đă cho Đức Kitô sống lại thế nào th́ Ngài cũng sẽ dùng quyền năng để cho chúng ta được sống lại như vậy. Đó chính là một niềm an ủi tuyệt vời nhất, một ư nghĩ cao sâu nhất xuất phát từ ngôi mộ phục sinh: Nếu Đức Kitô đă sống lại, th́ rồi đến lượt chúng ta, chúng ta cũng sẽ được sống lại.

Chúng ta thường nghe thấy lời phàn nàn và kết án như sau: Đạo Công giáo là một đạo quá nghiêm khắc bởi v́ Đức Kitô đă nói: Ta đến không đem sự b́nh an, nhưng đem gươm giáo. Với lưỡi gươm lưỡi giáo này, phải chăng Ngài đă cắt đứt xác thịt và cuộc đời chúng ta? Đọc kinh, đi lễ, bố thí mà thôi chưa đủ, Ngài c̣n muốn chúng ta phải dâng hiến trọn cuộc sống cho Ngài, từ tư tưởng, lời nói đến việc làm. Tôi không được phép hưởng thụ những điều bất chính, dù chỉ trong tư tưởng mà thôi. Tôi muốn ăn uống no say, nhưng hôm nay lại là ngày giữ chay, nên tôi không được phép. Tôi muốn nằm ngủ nướng cho đẫy con mắt, nhưng hôm hay là Chúa nhật, tôi có bổn phận phải thức dậy để đi tham dự thánh lễ…Cho dù tội lỗi có hấp dẫn và quyến dũ, luôn mời gọi và lôi kéo đến đâu chăng nữa, th́ chúng ta cũng không được phép chạy theo. Công giáo là một đạo nghiêm khắc, đ̣i chúng ta phải làm chủ thân xác, chế ngự những thèm muốn và hy sinh đời sống cho Đức Kitô. Thế nhưng, cái đạo nghiêm khắc ấy đă đem đến cho chúng ta một tin mừng, đă hứa ban cho chúng ta một điều không ai có thể đem lại được, đó là: nếu Đức Kitô đă sống lại, th́ rồi chúng ta cũng sẽ được sống lại. Nghĩa là một ngày kia, chúng ta sẽ t́m lại được cuộc sống vĩnh cửu đă mất đi v́ tội lỗi.

Niềm tin vào sự sống lại trước hết đă được chính Chúa Giêsu truyền dạy. Ngài đă nói nhiều lần để chứng tỏ tầm mức quan trọng của nó. Thực vậy, Phúc âm thánh Gioan đă ghi lại: Giờ đến, khi mọi kẻ trong mồ nghe tiếng Ngài và bứơc ra. Những người làm lành sẽ sống lại để được sống. C̣n những kẻ làm dữ sẽ sống lại để bị luận phạt…Thánh ư của Cha, Đấng đă sai Ta là: bất kỳ ai thấy Con và tin ở Ngài, th́ có sự sống vĩnh cửu. Và Ta, Ta sẽ cho họ sống lại ngày sau hết…Ai ăn thịt Ta và uông máy Ta, th́ sẽ có sự sống đời đời.

Trước khi làm phép lạ cho Lagiarô sống lại, Ngài đă phán với Martha: Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin Ta sẽ không chết, nhưng sẽ có sự sống đời đời. Sau cùng, khi bọn Sađucêô, những kẻ không tin vào sự sống lại dă nêu lên vấn nạn về một người đàn bà có bảy đời chồng và như vậy khi sống lại, bà ấy sẽ thuộc về ai? Chúa Giêsu đă trả lời cho họ như sau: Lúc bấy giờ, không c̣n vấn đề vợ chồng. Họ sẽ không chết nữa, nhưng sẽ trở nên như thiên thần. Họ sẽ là con cái của Thiên Chúa và của sự sống lại.

Chúng ta có thể suy ngắm về chính sự sống lại của Ngài để t́m thấy ở đó niềm hy vọng ủi an. Thực vậy, vào buổi sáng ngày thứ nhất, các bà đạo đức đi ra mồ để xức thuốc thơm cho thi thể Chúa. Vừa đi, các bà vừa thầm nghĩ: Ai sẽ lăn giùm tảng đá lấp cửa mồ? Phải, trước khi Đức Kitô phục sinh, một tảng đá nặng cũng đă lấp kín phần mộ của chúng ta và của những người thân yêu. Tảng đá của chết chóc, đau khổ và tuyệt vọng. Bởi v́ ngôi mộ chính là trạm chót, để rồi sau đó sẽ chấm dứt cuộc sống cũng như t́nh thương, sẽ chấm dứt mọi ư nghĩ cũng như mọi ước mơ. Phải chăng đó là sự chấm dứt của chính con người? Thế nhưng, Đức Kitô đă phục sinh. Tảng đá nặng đă bị lăn qua một bên, bởi v́ Ngài đa giải quyết được vấn đề từng làm cho chúng ta băn khoăn lo nghĩ: Sau cái chết, sẽ c̣n lại ǵ? Sự phục sinh của Ngài chính là bảo chứng cho lời Ngài đă phán: Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin Ta sẽ không phải chết, nhưng sẽ có sự sống đời đời.

Từ khi Đức Kitô nghỉ yên trong ngôi mộ, th́ ngôi mộ đă trở nên một cái ǵ thánh thiện đối với chúng ta. Và hơn thế nữa, kể từ khi Đức Kitô sống lại, th́ tất cả chúng ta, những con người phải chết, sẽ chờ mong buổi sáng phục sinh huy hoàng. Trước Đức Kitô, con người phải chết và trên bia mộ chúng ta ghi: Đây là nơi an nghỉ trong bóng tối và trong tuyệt vọng. Nhưng từ khi Đức Kitô phục sinh, chúng ta có thể ghi trên bia mộ ấy như sau: Đậy là nơi an nghỉ trong tin yêu và hy vọng.

Sau cùng, chúng ta có thể dùng suy luận để thấy được rằng: sự sống lại là một cái ǵ thích hợp với chương tŕnh của Thiên Chúa, Đấng Tạo hóa. Thực vậy, chúng ta chỉ là người bao lâu hồn c̣n kết hiệp với xác. Giữa hồn và xác luôn có một liên hệ mật thiết. Nếu hồn mà buồn th́ nước mắt sẽ tuôn trào. Nếu hồn mà vui th́ khuôn mặt sẽ rạng rỡ. Bởi đó, sự phát triển toàn vẹn của con người đ̣i buộc hồn xác phải kết hiệp với nhau sau một thời gian bị cái chết tạm thời chia rẽ. Hơn thế nữa, việc sống lại c̣n là đều thích hợp với sự công bằng của Thiên Chúa. Thân xác của chúng ta đă tham dự vào tất cả những hành vi thánh thiện cũng như tội lỗi. V́ thế, sự công bằng đ̣i buộc: nếu thân xác đă tham dự vào những hành động tội lỗi th́ cũng phải có những h́nh phạt dành cho thân xác. Trái lại, nếu thân xác đă tham dự vào những hành động thánh thiện, th́ cũng phải có những phần thưởng dành cho thân xác.

Tóm lại, chúng ta sống là để chuẩn bị cho cái chết và chúng ta chết là để được sống đời đời.

 
 

19. Tin Chúa Phục Sinh

“Nếu Đức Kitô không sống lại th́ lời rao giảng của chúng tôi trở thành vô ích và niềm tin của anh em thật là hăo huyền”

Quả thật, nếu Đức Kitô không sống lại th́ tất cả chúng ta, nhưng con người mang danh Kitô hữu chỉ là những kẻ điên khùng, bởi v́ chúng ta đánh đổi cả đời ḿnh để tin và đi theo Đức Giêsu nhưng cuối cùng chẳng được ǵ. Trong khi nhiều người ăn chơi xả láng, hưởng thụ thoải mái, trong khi nhiều người xây dựng sự giàu có, xây dựng công danh sự nghiệp trên xương máu của những người khác, trên những tṛ bóc lột, trên sự lường gạt bỉ ổi mà vẫn sống phây phây, th́ chúng ta, nhưng người Kitô hữu luôn bị bao quanh bởi một hệ thống luật lệ dầy đặc. Ở đâu cũng thấy tội. Ở đâu cũng thấy cấm đoán, bắt buộc và đe loi v.v…Cả cuộc đời chỉ thấy nói tới hy sinh, từ bỏ. Cả cuộc đời chỉ thấy toàn là mất mát, thiệt tḥi. V́ thế mà trước mặt người đời chúng ta chỉ là những tên ngu xuẩn, điên rồ.

Một anh bạn trẻ đă chia sẻ rằng: Khi anh từ chối một chức vụ khá quan trọng trong cơ quan, cấp trên của anh đă nói: “Mày khùng quá, cái ghế mà tao dành cho mày đáng giá năm mười cây vàng đấy. Bao nhiêu thằng ước mơ và lo lót, c̣n mày th́ từ chối”. Và anh bạn trẻ ấy trả lời: “Tôi biết khi ngồi vào chiếc ghế đó, tôi sẽ trở thành một ông hoàng. Nhưng tôi cũng biết khi ngồi vào chiếc ghế đó, tôi sẽ uốn cong theo ṿng quay của cả một cơ chế có vô vàn điều tiêu cực, không thể khác được”. Thế là anh bạn trẻ đành chấp nhận một cuộc sống thanh bần chỉ v́ danh hiệu Kitô hữu của ḿnh.

Vâng, nếu Đức Kitô không sống lại th́ anh bạn trẻ này và các Kitô hữu chỉ đáng sống trong những nhà thương điên. Nhưng Đức Kitô đă sống lại. Đó là xác quyết của các anh bạn trẻ Phêrô, Giacôbê, Gioan…Họ là những người đă từng đi theo, đă cùng sống, cùng ăn, cùng ở với Đức Giêsu. Họ cũng là những người đă từng thất vọng và trốn chạy trước cái chết thê thảm của Thầy Giêsu trên thập giá. Nhưng rồi họ đă là những người dám chấp nhận lao tù, cùm gông, tra tấn và cả cái chết để làm chứng về sự Phục Sinh của Đức Kitô, bởi chính họ đă thấy tận mắt Đức Kitô đang sống. Mà Đức Kitô sống lại có nghĩa là những lời rao giảng của Người là sự thật. Và sự thật Đức Giêsu công bố chính là những nẻo đường dẫn tới sự sống, tới hạnh phúc đích thực. V́ thế, ai bước đi theo Người, ai sống theo Lời Người, chắc chắn sẽ được sống và được hạnh phúc.

Lời chứng của những người dám đem cả mạng sống của ḿnh ra mà đoan quyết chắc không phải là một sự lừa dối phải không thưa quí ông bà và anh chị em?

 
 

20. Ra khỏi mồ

Biến cố Phục Sinh của Chúa Giêsu đă xảy ra cách đây hơn 2000 năm rồi, và ngày nay có lẽ chúng ta cũng không thể cảm nhận được nỗi niềm vui sướng và hy vọng của các tông đồ ngày xưa khi nghe tin Chúa Giêsu sống lại. Tuy vậy, trong ít phút ngắn ngủi này, chúng ta thử làm sống lại một chút những tâm t́nh của các tông đồ trong ngày Chúa Phục Sinh, để thấy được sự kiện Phục Sinh của Chúa Giêsu đă đem lại ư nghĩa nào cho cuộc đời của các ông. Từ đó, chúng ta cũng hăy để cho Chúa Phục sinh tác động làm cho cuộc sống của chúng ta có một ư nghĩa. Ḥa chung niềm hy vọng với dân tộc ḿnh, các tông đồ cũng chờ mong một vị Cứu Tinh để giải phóng dân tộc ra khỏi cảnh nô lệ ngoại bang. Trong niềm hy vọng ấy, Đức Giêsu đă xuất hiện như một con người có thể đáp lại những khát vọng mănh liệt của các ông. Chính v́ thế mà các ông đă bỏ mọi sự để theo Người, tin tưởng hoàn toàn nơi Người, phó thác trọn cuộc đời cho Người và chấp nhận mọi đ̣i hỏi của Người. Thế nhưng, đáng buồn thay cho các ông biết bao, khi mà vào một buổi tối ngày thứ 5, thần tượng Giêsu của các ông đă bị bắt, bị tra tấn, bị đánh đ̣n, bị lăng mạ và cuốci cùng bị kết án tử h́nh, một cái chết đớn đau và tủi nhục trên thập giá. Điều đó làm các ông thất vọng biết là dường nào. Thế là hết. Thầy Giêsu đă chết, đă được chôn trong mồ đá. Điều đó có nghĩa là những niềm hy vọng, những hoài băo, những tin tưởng của các ông cũng chết theo và cuộc đời của các ông cũng bị chôn vùi trong những nấm mồ của tuyệt vọng và sợ hăi. Hiểu ván đề như thế chúng ta mới hiệu được rằng: khi các phụ nữ báo tin cho ông Phêrô và ông Gioan về việc Chúa sống lại th́ quả thật đó là một nguồn tin gân chấn động rất mạnh cho các ông. Thầy Giêsu đă sống lại cũng có nghĩa là những ước mơ, những hy vọng của các ông cũng được sống lại. Chính v́ vậy mà cả ông Phêrô và ông Gioan đă vội vă chạy ra mộ Chúa Giêsu như để kiểm nghiệm nguồn tin mà các phụ nữ vừa loan báo. Khi tới mồ, các ông thấy mồ trống, chỉ c̣n lại khăn liệm và khăn phủ đầu Chúa Giêsu. Thánh Gioan đă viết về chính ḿnh: “Ông thấy và ông tin”. Rồi những ngày sau đó Chúa Giêsu đă hiện ra với các tông đồ nhiều lần như để củng cố niềm tin chắc chắn rằng: Thầy Giêsu của ḿnh đă sông lại thật th́ niềm tin ấy đă tạo nên một biến đổi triệt để nơi các ông.

- Trước đây các ông sợ hăi chạy trốn các nhà cầm quyền đạo đời, th́ nay các ông hiên ngang ra vào công đường để rao giảng về Đức Kitô Phục Sinh. Các ông can đảm chấp nhận bắt bớ, chấp nhận đ̣n vọt và bao nhiêu thử thách khác để làm chứng rằng Đức Giêsu đă Phục Sinh.

- Trước đây các ông là những người nhỏ nhen, ham danh ham lợi, ghen tị với nhau về chỗ ngồi trên dưới, th́ nay các ông quên bản thân ḿnh để chỉ sống và chết cho Đấng Phục Sinh, đồng thời cũng sống và chết cho anh chị em ḿnh.

Thế hệ của chúng ta hôm nay không được diễm phúc để thấy Chúa Phục Sinh như các tông đồ xưa, nhưng chúng ta tin lời rao giảng của các Ngài v́ các Ngài là những chứng nhân trung thực bởi các Ngài đă dám hy sinh mạng sống để làm chứng cho sự thật ấy. Tuy nhiên, tin vào sự Phục Sinh không phải chỉ là chấp nhận trong trí khôn một chân lư, một sự kiện đă xảy ra trong lịch sử, nhưng c̣n là để cho Chúa Phục Sinh biến đổi cuộc đời ḿnh, là để Người đưa ḿnh ra khỏi những nấm mồ ích kỷ, hận thù, gian tham, lọc lừa, kiêu căng, tự măn, ham mê sắc dục… Bao lâu chúng ta c̣n cố t́nh sống trong những nấm mồ ấy th́ bấy lâu chúng ta chưa thật sự tin vào Chúa Phục Sinh. Và nếu thế th́ lời tuyên xưng của chúng ta về việc Chúa Phục Sinh chỉ là những lời đâu môi chót lưỡi và chẳng đem lại lợi ích nào cho đời sống của chúng ta.

Xin cho mầu nhiệm Chúa Phục Sinh mà chúng ta kính nhớ hôm nay trở thành một động lực đổi mới cuộc đời chúng ta, để chúng ta đám sống, dám chết cho Chúa và cho nhau.

 
 

21. Chúa đă sống lại

Trong đoạn Tin Mừng theo thánh Gioan chúng ta vừa đọc trên đây, tác giả chỉ nhắc đến bà Maria Madalena, nhưng qua ba Tin Mừng Nhất Lăm, chúng ta biết có thêm một vài người nữ cùng ra mộ Chúa Giêsu với bà. Các bà đi đến mộ và hốt hoảng khi thấy tảng đá chặn cửa mộ đă bị mở ra. Tại sao có chuyện kỳ cục như thế? Có ai muốn phá rối chăng? Bà Maria Madalena vội vàng chạy về báo tin cho Phêrô và người môn đệ Chúa Giêsu thương mến. Hai ông hối hả chạy đến mộ, hai ông đă thấy mộ trống với các khăn liệm c̣n lại ở đó, nhưng họ chẳng thấy xác Ngài đâu. Nh́n thấy quang cảnh, người môn đệ Chúa Giêsu thương mến biết rằng Thầy đă sống lại như lời Thầy đă nói.

Ngôi mộ trống là một dấu chỉ mà Chúa Giêsu gửi đến các môn đệ sáng ngày hôm đó. Đứng trước ngôi mộ trống, mỗi người có một phản ứng khác nhau. Các bà th́ hoảng hốt, chạy về nhờ cậy các ông tới cứu. Ông Phêrô th́ ngạc nhiên về sự việc xảy ra. C̣n người môn đệ Chúa Giêsu thương mến th́ tin rằng Thầy đă sống lại. Chúa đă sống lại thật. Allêluia.

Sự thật này có sức mạnh biến đổi cuộc đời chúng ta, đưa chúng ta ra khỏi bóng tối của sự sợ sệt, của nghi nan, để sống đến cùng đức tin của ḿnh vào Chúa Kitô. Một ngôi mộ trống nhưng được giải thích bằng nhiều cách khác nhau, sẽ dẫn đến những phản ứng khác nhau.

Trong cuộc sống đức tin, mỗi người chúng ta đă nhiều lần đứng trước ngôi mộ trống của Chúa Giêsu, đó là những lần chúng ta băn khoăn đi t́m câu trả lời cho ư nghĩa đích thực của đời Kitô. Dù đă được học hỏi về đức tin Kitô, đă được nghe giảng Lời Chúa, đă được chia sẻ kinh nghiệm sống đức tin của biết bao thế hệ tín hữu, nhưng những điều ấy không miễn cho chúng ta phải đối diện với đức tin của chính ḿnh.

Như nhóm người cùng đi đến mộ Chúa Giêsu sáng sớm hôm ấy, chúng ta cùng hiệp thông với nhau nhưng không thể quyết định thay thế cho nhau. Giáo Hội khuyên chúng ta phải trả lời những câu hỏi về đức tin đặt ra cho chính ḿnh. Có nhiều lúc chúng ta như rơi vào đêm tối bất an, tương tự như các môn đệ trong thời gian sau biến cố tử nạn của Chúa Giêsu, chúng ta nửa tin nửa ngờ. Một mặt chúng ta biết rằng đức tin vào Chúa Kitô có sức giải thoát chúng ta khỏi ṿng vây tội lỗi và mang lại cho chúng ta một cuộc sống an b́nh hạnh phúc. Mặt khác, chúng ta phải đối diện với những thực tế cấp bách, thực tế xem ra không trùng khớp bao nhiêu với những điều mà đức tin dạy bảo chúng ta. Đức tin dạy chúng ta phải xây dựng hạnh phúc trên những nền tảng siêu nhiên. Thực tế lại cho thấy dường như những điều siêu nhiên chẳng giúp chúng ta đạt hạnh phúc mà đôi khi c̣n gây ra cho chúng ta bao nhiêu điều thiệt tḥi phiền toái. Đức tin dạy chúng ta phải tập trung đầu tư cho cuộc sống vĩnh cửu mai sau, thực tế lại cho thấy mọi người đều dồn hết sức lực để xây dựng cho cuộc sống vắn vỏi ở đời này. Ai đúng, ai sai, ai khôn, ai dại? Chúng ta bối rối không biết phải theo ai bỏ ai đây? Trước những câu hỏi hóc búa này, chúng ta loay hoay t́m câu trả lời. Chúng ta cầu xin Chúa Giêsu soi sáng cho chúng ta. Nhưng có lúc, thay v́ trực tiếp trả lời, Chúa Giêsu đưa chúng ta tới ngôi mộ trống của Người. Người gởi đến cho chúng ta những mật thư, những dấu chỉ, những lời nói, những biến cố đặc biệt xảy đến cho chúng ta. Muốn t́m ra lời đáp, chúng ta phải giải mă những tín hiệu này.

Khi nh́n thấy ngôi mộ trống, người môn đệ Chúa Giêsu thương mến nhanh chóng nhận ra rằng Thầy ḿnh đă sống lại, ông không nh́n bằng đôi mắt nhưng đă nh́n bằng con tim. Tác giả Tin Mừng theo thánh Gioan đă kín đáo không nêu tên người môn đệ này, nhưng truyền thống Giáo Hội vẫn cho đó chính là tông đồ Gioan. Ông là người được Chúa Giêsu yêu thương cách đặc biệt và ông cũng đáp lại Thầy ḿnh với t́nh yêu thương nồng nàn. Chính t́nh yêu này mách bảo cho ông biết đích xác chuyện ǵ đă xảy ra với Thầy. T́nh yêu hun đúc niềm tin và niềm tin giữ cho t́nh yêu luôn kiên vững.

Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh, nhiều lúc con phải giải mă các tín hiệu mà Chúa gởi đến cho con trong cuộc sống. Xin Chúa giúp con luôn trung kiên trong t́nh yêu, để con nhanh chóng nhận ra sứ điệp mà Chúa muốn gởi đến cho con trước ngôi mộ trống của Chúa, xin cho con vững tin rằng Chúa đă sống lại thật. Allêluia.

 
 

22. Niềm hy vọng

Biết trước cái chết và cách thế phải chết, nhất là cái chết ḿnh không chấp nhận, quả là một tâm trạng khủng khiếp nhất đối với con người. Đó là trường hợp những người bị kết án tử h́nh hay những người bị bức tử, tức là bị bắt buộc phải tự kết thúc đời ḿnh. Chúa Giêsu cũng trải qua những giờ phút kinh hoàng ấy. Ngài biết trước cái chết của Ngài: Đă ba lần Ngài nói trước với các môn đệ là Ngài sẽ bị tử h́nh. Và Ngài cũng nói rơ cách thế Ngài bị giết chết:”Ai muốn theo Ta, hăy vác thập giá ḿnh mà theo”, “Như Mô-sê treo con rắn lên ở sa mạc thế nào, th́ Con Người cũng sẽ phải bị treo lên như vậy”, “Khi nào Ta bị treo lên, ta lôi kéo mọi sự lên với Ta”. Qua những lời đó, Chúa Giêsu muốn nói đến một cực h́nh diễn tả cảnh tượng những phạm nhân phải kéo lê những khúc gỗ sẽ được dùng làm thập giá để đóng họ vào và treo lên tại một nơi gọi là núi Sọ. Nhưng có một điều khác, đây là cái chết Ngài biết trước, nhưng Ngài chấp nhận:”Lạy Cha, nếu có thể, xin cất chén này khỏi con, nhưng đừng theo ư con, mà theo ư Cha”. Hơn nữa, không những Ngài chấp nhận, mà Ngài c̣n mong chờ nữa, v́ không có máu đổ ra th́ không có ơn cứu chuộc.

Tất cả những điều trên đă xảy ra đúng theo từng chi tiết như Chúa Giêsu đă nói trước: Ngài phải vác thập giá và bị đóng đinh chết trên thập giá. Tuy nhiên, việc Chúa Giêsu chết chưa phải là mục tiêu cuối cùng của sứ vụ cứu độ. Ngài c̣n phải vượt qua cơi chết để trở thành con người đầu tiên trong nhân loại được phục sinh và tôn vinh. Và đây cũng là điều Ngài nói trước luôn, mỗi khi nói về cái chết, Ngài đều nói thêm: Ngày thứ ba, Ngài sẽ sống lại. Và điều này cũng xảy ra đúng như vậy vào ngày thứ ba sau khi chết, Ngài đă sống lại.

Trước hết, chúng ta cần hiểu cho đúng thế nào là phục sinh hay sống lại. Sống lại không phải là lại sống y như trước, giống như mấy người được Chúa Giêsu làm phép lạ cho sống lại như trước rồi sau cũng phải chết, như con trai bà góa ở Na im hay ông Ladarô. Chúa Giêsu phục sinh và được tôn vinh nghĩa là Ngài đă chết thật, rồi được sống lại với một thân xác đă được đổi mới, không c̣n lệ thuộc các luật vật lư hay sinh lư nữa, không chết bao giờ nữa. Ngài được tôn vinh là được về trời, không phải là vào tầng mây xanh mà là vào một t́nh trạng hoàn toàn mới, được ở bên hữu Chúa Cha, nghĩa là hiệp thông trọn vẹn với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần trong hạnh phúc vĩnh hằng.

Việc Chúa Giêsu vượt qua cơi chết để phục sinh và được tôn vinh là một biến cố cực kỳ quan trọng đối với chính Ngài, với giáo huấn của Ngài, với các môn đệ, và với tất cả mọi người. V́ là nền tảng cho đức tin và sự cứu chuộc của mọi người. Thực vậy, đối với Chúa Giêsu, sự sống lại chứng tỏ Ngài vừa là người thật (đă đau khổ và chết) vừa là Thiên Chúa thật (đă phục sinh và được tôn vinh) làm cho Ngài trở thành siêu việt trên tất cả mọi nhân vật tôn giáo trên thế giới. Tiếp đến, sự sống lại chứng tỏ giáo huấn của Ngài thật là do Thiên Chúa mạc khải và dẫn đưa con người chắc chắn đạt tới hạnh phúc vĩnh cửu. Lại nữa, sự sống lại đă làm xoay chuyển tầm nh́n của các môn đệ về Ngài, để lời loan báo đầu tiên và cả việc soạn thảo Tin mừng của các ông đều được coi là diễn tả cái nh́n mới về con người Nagiarét, nh́n nhận Đức Giêsu chính là Con Thiên Chúa, là Đấng cứu thế, là Đấng Kitô; đồng thời cũng làm xoay chuyển cả sự lựa chọn và lối sống của các ông khiến các ông sẵn sàng sống chết làm chứng cho niềm tin vào Đức Giêsu phục sinh.

Sau hết, sự sống lại của Đức Giêsu phục sinh là ṇng cốt cho niềm tin của chúng ta. Niềm tin này kéo theo nhiều niềm tin khác: chúng ta tin Chúa sống lại là chúng ta tin chúng ta được cứu chuộc. Bởi v́ Chúa sống lại Chúa mới cứu chuộc được nhân loại. Nếu như Ngài chết luôn như các giáo chủ khác, th́ Ngài không có quyền ǵ cứu chuộc được ai. Nhưng Ngài đă sống lại, để chứng tỏ Ngài là Thiên Chúa và Ngài có quyền cứu chuộc được tất cả chúng ta.

Đàng khác, Chúa sống lại c̣n là niềm hy vọng cho chúng ta: tất cả chúng ta sẽ sống lại. Thực vậy, thân xác chúng ta sẽ sống lại, đúng như chúng ta tuyên xưng trong kinh Tin kính:”Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại”. Bởi v́ thân xác sống lại là hiệu quả của mầu nhiệm phục sinh của Chúa Giêsu, như Kinh thánh đă nói:”Đấng đă làm cho Chúa Giêsu sống lại cũng sẽ làm cho chúng ta được sống lại với Ngài”. Như vậy, Chúa Giêsu đă chiến thắng sự chết và Ngài cũng cho hết thảy chúng ta được chung hưởng chiến thắng đó. Tuy nhiên, chúng ta cần nhớ rằng: ai cũng sống lại, mọi người đều sống lại, người tội lỗi hay người công chính, người có đạo hay không có đạo, người tin Chúa Giêsu hay người không tin Chúa Giêsu… tất cả đều sống lại. Nhưng sống lại để được thưởng hay chịu phạt, được lên thiên đàng hay xuống hỏa ngục lại là một chuyện khác. Sự khác biệt đó đều do cuộc sống hôm nay. V́ thế, cuộc sống hiện tại, tuy ngắn ngủi, nhưng lại là cái giá đảm bảo cho cuộc sống hạnh phúc mai sau. V́ vậy, chúng ta cần sống cho thật tốt đẹp, sống đúng tư cách người Kitô hữu đă được cứu chuộc, để được sống lại và sống măi với Chúa Giêsu.

Tóm lại, việc Chúa Giêsu phục sinh là một biến cố cực kỳ quan trọng, nhưng lại là một sự việc mà lư trí con người khó hiểu nổi, v́ nó ở ngoài và vượt trên lịch sử nhân loại, không một người nào đă thấy hoặc có kinh nghiệm. Đối với chúng ta, đây là một vấn đề thuộc đức tin. Chúng ta không thấy, nhưng chúng ta tin, không phải là tin nhảm nhí hay ảo tưởng, mà có bằng chứng xác thực, đó là Kinh thánh đă nói về việc Chúa Giêsu phục sinh, đó là ḷng tin của Giáo Hội suốt hai mươi thế kỷ qua. Chính niềm tin này là động lực giúp chúng ta sống tốt đẹp, thúc bách chúng ta sống tốt đẹp. Bởi v́ chúng ta biết: cuộc sống ở trần gian này chỉ là tạm gởi, trước sau ǵ chúng ta cũng sẽ chết. Nhưng cái chết không c̣n là một ngơ cụt hay tận cùng, chết không phải là hết, nhưng là cửa ngơ dẫn vào một cuộc sống mới, một cuộc sống trong Đức Giêsu và cùng Đức Giêsu trong cơi vĩnh hằng.

 
 

23. Hy vọng

Chúng ta có thể đương đầu và chịu đựng được bất cứ điều ǵ, miễn là chúng ta nhận biết hoặc tin tưởng rằng điều đó sẽ không kéo dài măi măi, và có một điều ǵ đó tốt đẹp hơn sẽ xảy ra.

Chẳng hạn, người ta sẽ đương đầu được với một cuộc giải phẫu lâu dài, đau đớn và nguy hiểm, nếu họ tin tưởng rằng cuộc giải phẫu đó sẽ làm cho họ được mạnh khỏe trở lại. Các tù nhân có thể đương đầu với một bản án lâu dài, miễn là họ tin tưởng rằng bản án đó rồi sẽ kết thúc, và họ sẽ được vui hưởng tự do trở lại. Chúng ta có thể đương đầu được với sự khắc nghiệt của một mùa đông kéo dài và khổ sở, bởi v́ chúng ta biết rằng mùa xuân sẽ trở lại. Tất cả điều này nhằm nhấn mạnh đến tầm quan trọng của niềm hy vọng. Hy vọng cũng cần thiết đối với tinh thần, giống như cơm bánh đối với cơ thể. Thật đáng ngạc nhiên khi tinh thần con người có thể chịu đựng và vượt qua được mọi sự, miễn là nó được nuôi dưỡng bằng tấm bánh của hy vọng.

Biến cố Phục sinh cung cấp một niềm hy vọng vĩ đại cho tinh thần con người. Niềm hy vọng này thật cần thiết biết bao. Trong cuộc sống, có nhiều bi kịch, làm tiêu hủy mất những điều tốt đẹp. Một số người tốt đă bị ngă quị: Thomas More, Mahatma Gandhi, Martin Luther King, Oscar Romero… và tất nhiên trong đó có cả Đức Giêsu. Người cũng đă bị ngă quị. Nhưng Người đă sống lại.

Thế giới thời đó đă không để ư nhiều đến sự sống lại của Đức Giêsu. Lư do v́ đây là một sự kiện khiêm tốn, được giữ kín. Đức Giêsu đă không xuất hiện trong tư thế chiến thắng tại đền thờ ở Giêrusalem, làm cho những kẻ đă hạ gục Người bị ngỡ ngàng. Chỉ những ai được Người kêu gọi, ban cho chiếc bánh, và những lời nói an b́nh, mới ư thức được sự kiện ǵ đă xảy ra, và thậm chí họ c̣n khó mà tin tưởng được. Giống như chúng ta, họ chậm tin. Tuy nhiên, chính sự kiện được giữ kín này đă giải phóng nhân loại khỏi xiềng xích của sự chết.

Đức Giêsu đă đưa ra một dấu hiệu cho những ai yêu mến và đi theo Người là t́nh yêu của Thiên Chúa c̣n mạnh mẽ hơn cả cái chết. Sự sống lại của Đức Giêsu không hề tách biệt khỏi sự sống lại của nhân loại mà Người đă cứu độ. Bằng cách hoàn toàn đi vào sự sống nhân loại, và bằng cách trải qua nỗi cay đắng của cái chết, Đức Giêsu đă trở nên một người Anh và Đấng cứu độ cho tất cả mọi người. Cái chết của Đức Giêsu là một phần trong kế hoạch của Thiên Chúa, Đức Giêsu là đấng đi tiên phong và dẫn đường cho sự cứu độ của chúng ta: Người đang chỉ đường và dẫn lối cho chúng ta, trên bước đường của sự vâng phục và đau khổ.

Trong ngày Phục sinh, chúng ta vẫn cảm thấy nỗi đau khổ của thế giới, của gia đ́nh và bạn bè chúng ta. Nhưng một yếu tố mới mẻ đă được đưa vào trong cuộc sống của chúng ta. Yếu tố này không tiêu hủy nỗi đau khổ, nhưng đem lại cho nó một ư nghĩa, soi sáng nó bằng niềm hy vọng. Tất cả nay đều được khác hẳn, bởi v́ Đức Giêsu đang sống động, và nói với chúng ta những lời b́nh an, giống như Người đă từng nói với các tông đồ của Người.

Ḷng tin vào sự sống lại của Đức Giêsu là nền tảng cho niềm hy vọng của chúng ta vào sự sống đời đời, một niềm hy vọng đem lại cho chúng ta khả năng kiên nhẫn chịu đựng những thử thách của cuộc đời. Do đó, có một niềm vui thầm lặng ở giữa chúng ta, và một ư nghĩa sâu xa về sự b́nh an, bởi v́ chúng ta biết rằng sự sống mạnh mẽ hơn cái chết, t́nh yêu mạnh mẽ hơn nỗi sợ hăi, và niềm hy vọng mạnh mẽ hơn nỗi thất vọng.

 
 

24. Ngôi mộ trống - JKN

Câu hỏi gợi ư:

1. Việc Đức Giêsu sống lại có ảnh hưởng ǵ trên đời sống của bạn không? Đă bao giờ làm cho bạn thật sự thay đổi con người bạn chưa?

2. Muốn được sống lại với Đức Giêsu trong tâm hồn, nghĩa là trở nên con người mới, con người sống theo Thần Khí, điều cần thiết và cụ thể là ta phải làm ǵ?

Suy tư gợi ư:

1. Đức Giêsu sống lại, một biến cố vĩ đại.

Hôm nay, chúng ta hân hoan kỷ niệm ngày Đức Giêsu phục sinh. Ngài phục sinh sau khi chịu khổ nạn, chết trên thập tự và mai táng trong mồ. Đó quả là một biến cố vĩ đại, làm nền tảng cho niềm tin của chúng ta. Thánh Phaolô nói: «Nếu Đức Kitô đă không sống lại, th́ lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng» (1Cr 15,14); «Nếu Đức Kitô đă không sống lại, th́ ḷng tin của anh em thật hăo huyền, và anh em vẫn c̣n sống trong tội lỗi của anh em. Hơn nữa, cả những người đă an nghỉ trong Đức Kitô cũng bị tiêu vong. Nếu chúng ta đặt hy vọng vào Đức Kitô chỉ v́ đời này mà thôi, th́ chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người» (1Cr 15,17-19).

2. Ngài sống lại th́ ích lợi ǵ cho cuộc sống hiện sinh của tôi?

Nhưng thử hỏi biến cố Đức Giêsu sống lại có ảnh hưởng hay ích lợi ǵ cho đời sống hiện sinh của tôi, nghĩa là đời sống thực tế bây giờ và tại đây của tôi? Biến cố này có ảnh hưởng trên đời sống của tôi, hay nó chỉ là một kỷ niệm được lập lại hàng năm, chỉ để tưởng nhớ một biến cố đă hoàn toàn qua đi? V́ biết bao năm phụng vụ trôi qua, năm nào cũng có Tuần Thánh, cũng có lễ Phục Sinh, mà nào tôi có thay đổi ǵ đâu! Chuyện Đức Giêsu sống lại với một đời sống mới, con người mới, cách hiện hữu mới, tất cả đều đă trở thành quá khứ, chẳng có ảnh hưởng ǵ trên hiện tại của tôi, nên tôi vẫn sống với con người cũ, cách sống cũ, chẳng có ǵ thay đổi! Phải vậy chăng, hay việc Ngài sống lại vẫn là một biến cố hiện sinh, vẫn có khả năng biến cải đời tôi?

Nếu Ngài chỉ sống lại trong lịch sử, cách đây 2000 năm, mà không sống lại trong ḷng tôi, th́ việc sống lại ấy ích lợi ǵ cho tôi? Vấn đề quan trọng là Ngài phải sống lại trong tâm hồn tôi. Và vấn đề ấy tuỳ thuộc ở tôi rất nhiều, ở quan niệm và thái độ nội tâm của tôi đối với việc sống lại của Ngài.

3. Ngài sống lại để biến ta thành con người mới

Đức Giêsu sống lại là để đem lại cho chúng ta sự sống mới, và trở nên những con người mới, ngay bây giờ và chính tại đây, như thánh Phaolô nói: «Nếu Thần Khí ngự trong anh em, Thần Khí của Đấng đă làm cho Đức Giêsu sống lại từ cơi chết, th́ Đấng đă làm cho Đức Giêsu sống lại từ cơi chết, cũng sẽ dùng Thần Khí của Người đang ngự trong anh em, mà làm cho thân xác của anh em được sự sống mới» (Rm 8,11). Điều quan trọng là làm sao có được sự sống mới ấy? Câu Kinh Thánh vừa trưng dẫn cho biết: Thần Khí làm cho Đức Giêsu sống lại, cũng chính Thần Khí ấy sẽ biến cải chúng ta nên con người mới, với sức sống mới. Chỗ khác, thánh Phaolô nói: «Thiên Chúa đă làm cho Chúa Ki-tô sống lại; chính Người cũng sẽ dùng quyền năng của ḿnh mà làm cho chúng ta sống lại» (1Cr 6,14). Nhưng vấn đề cụ thể là chúng ta phải làm ǵ để Thần Khí ấy biến cải chúng ta nên con người mới?

4. Muốn nên con người mới, con người cũ phải chết đi

Đức Giêsu chỉ sống lại sau khi chết đi, nên ta chỉ có được sự sống mới sau khi chết đi con người cũ. V́ thế, muốn có sự sống mới, muốn trở nên con người mới, ta phải cùng chết với Đức Giêsu, chết với tất cả những thói hư tật xấu và tội lỗi của con người cũ: «Chúng ta biết rằng, con người cũ nơi chúng ta đă bị đóng đinh vào thập giá với Đức Kitô, như vậy, con người do tội lỗi thống trị đă bị huỷ diệt, để chúng ta không c̣n làm nô lệ cho tội lỗi nữa» (Rm 6,6). Thánh Phaolô c̣n nói rơ hơn: «Anh em phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát v́ bị những ham muốn lừa dối, anh em phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em, và phải mặc lấy con người mới, là con người đă được sáng tạo theo h́nh ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện» (Ep 4,22-24).

5. Con người cũ là con người ích kỷ, cần được lột bỏ

Như vậy, để có được sự sống mới, ta phải dứt khoát từ bỏ con người cũ, là con người ích kỷ, chỉ nghĩ tới ḿnh, lo cho ḿnh, chỉ quan tâm tới hạnh phúc và đau khổ của chính ḿnh, không quan tâm ǵ tới ai, không lo cho ai. Nếu đă lấy ḿnh làm trung tâm th́ sẽ coi mọi người chỉ là phương tiện. Có diệt trừ thói ích kỷ, là nguyên nhân mọi tội lỗi, chúng ta mới có được sự sống mới: «Nếu sống nhờ Thần Khí, anh em diệt trừ những hành vi của con người ích kỷ nơi anh em th́ anh em sẽ được sống» (Rm 8,13).

Sự sống mới là một sự sống phong phú, nhưng lại đ̣i hỏi một sự lột xác, một tinh thần tự huỷ: «Nếu hạt lúa gieo vào ḷng đất mà không chết đi, th́ nó vẫn măi là hạt lúa; c̣n nếu chết đi, nó sẽ sinh nhiều hạt khác» (Ga 12,24). Tương tự, hạt nguyên tử, nếu không bị phá huỷ, nó sẽ măi măi là một nguyên tử nhỏ bé, im ĺm, bất động, không làm nên một công lực hữu ích nào; nhưng nếu bị phá huỷ, nó sẽ phát sinh một năng lượng khủng khiếp, có thể làm nên những thành tựu lớn lao. Cũng vậy, khi ta phá huỷ «cái tôi ích kỷ» của ta, th́ «cái tôi» ấy không hề mất đi, mà chuyển hoá thành một thực tại mới, con người mới, vĩ đại, cao quư, và sức sống của con người mới ấy sẽ phong phú, mạnh mẽ và có ư nghĩa hơn lên ngàn lần.

6. Một nghịch lư thực tế

Đừng tưởng cứ ôm khư khư lấy «cái tôi ích kỷ» của ḿnh, chăm chút lo cho nó, th́ nó sẽ có một sức sống phong phú, tốt đẹp và hạnh phúc. Trái lại, càng quá quan tâm đến nó, th́ lại càng làm cho sức sống của nó hạn hẹp lại, càng làm giảm bớt giá trị và hạnh phúc của nó. Đức Giêsu nói: «Ai yêu quư mạng sống ḿnh, th́ sẽ mất; c̣n ai coi thường mạng sống ḿnh ở đời này, th́ sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời» (Ga 12,25). Kinh nghiệm cho ta thấy: những kẻ ích kỷ, chỉ lo lắng cho bản thân ḿnh, không bao giờ được hạnh phúc và cũng chẳng làm cho ai hạnh phúc. Họ không bao giờ hài ḷng với chính họ, với những ǵ họ đang có. Và càng t́m kiếm thêm cho ḿnh, càng lo cho bản thân ḿnh nhiều hơn, th́ họ càng lún sâu vào đau khổ hơn. Trái lại, những vị thánh, những người sống quên ḿnh, xả thân, lại là những người cảm thấy hạnh phúc nhất, mặc dù xem ra họ có vẻ bị thiệt tḥi nhất, phải chịu khổ cực nhiều hơn ai hết.

7. Con người mới là con người vị tha, biết yêu thương

Con người mới được thánh Phaolô xác định: «Con người mới là con người đă được sáng tạo theo h́nh ảnh Thiên Chúa» (Ep 4,24); «con người mới là con người đổi mới luôn luôn để nên giống như h́nh ảnh Đấng dựng nên ḿnh» (Cl 3,10). Như vậy, con người mới chính là con người hoàn nguyên, nghĩa là trở về với t́nh trạng tốt đẹp nguyên thuỷ khi được Thiên Chúa tạo dựng, trước khi con người phạm tội. Đó là con người phản ánh trung thực bản chất của Thiên Chúa, là T́nh Yêu. Vậy, để có một đời sống mới, một tinh thần mới, để trở nên con người mới, với một sức mạnh mới, ta cần có một quyết tâm từ bỏ con người cũ là con người ích kỷ, chỉ quan tâm lo cho bản thân ḿnh, để mặc lấy con người mới là con người sống vị tha, sống yêu thương, sống v́ tha nhân. Khi ta quyết tâm như thế, với một ư chí cương quyết, lập tức, Thánh Thần Thiên Chúa, Đấng đă làm cho Đức Giêsu sống lại, sẽ tiếp sức với ta, biến đổi ta nên con người mới. Điều quan trọng và tối cần thiết là ta phải quyết tâm từ bỏ nếp sống vị kỷ để sống đời sống vị tha, sống yêu thương. Sau đó, «hăy để Thần Khí canh tân đổi mới anh em thấu tận trí khôn» (Ep 4,23); «Hăy để cho Thiên Chúa biến hoá anh em cho tâm trí anh em đổi mới» (Rm 12,2). Nếu ta tiếp tục quảng đại, Ngài sẽ biến đổi ta một cách toàn diện, từ quan niệm, cách suy nghĩ, đến cách ăn nói, hành động để trở thành con người mới thực thụ. Có như thế, việc sống lại của Đức Giêsu mới thật sự ích lợi cho đời sống Kitô hữu của ta.

Cầu nguyện

Lạy Cha, đă bao năm qua, con mừng Đức Giêsu phục sinh chỉ như kỷ niệm một biến cố hoàn toàn quá khứ, chẳng ăn nhập ǵ tới đời sống cụ thể của con. V́ thế, đă bao năm, con chẳng có ǵ thay đổi. Nhưng năm nay, con quyết tâm trở nên một con người mới, một con người sống vị tha, yêu thương mọi người. Xin Thánh Thần của Cha hăy biến đổi con.