Lịch sử giáo phận Long Xuyên (bài 10)

LỊCH SỬ GIÁO PHẬN LONG XUYÊN

 

Lời mở đầu

Nhân dịp mừng kỷ niệm 60 năm thành lập giáo phận Long Xuyên (1960-2020), chúng ta cùng nhau nghiên cứu và học hỏi về lịch sử giáo phận để thấy những bước tiến, những khó khăn, những nỗ lực, những hy sinh của các bậc cha ông trong việc sống đạo và truyền đạo. Thấy, biết, hiểu, và rồi sẽ sống theo gương cha ông, để đức tin ngày một toả sáng trên vùng đất Cửu Long, nơi giáo phận đã được khai sinh, lớn lên và phát triển.

 

 Sau đây là loạt bài lịch sử giáo phận Long Xuyên, bao gồm những tài liệu xưa và nay, những bài viết về lịch sử và hoạt động tông đồ của giáo phận, v.v.

 

Vì thời gian, tài liệu và tra cứu có hạn, xin lượng thứ những sai sót và xin giúp đính chính.

                                                                             Linh mục Mỹ Sơn, Long Xuyên

BÀI 10

 

THÁNH PHÊRÔ ĐOÀN CÔNG QUÍ

VÀ THÁNH EMMANUEL LÊ VĂN PHỤNG

 

Phần I

THÁNH PHÊRÔ ĐOÀN CÔNG QUÍ[1]

 

CHA SỞ THỨ HAI HỌ ĐẦU NƯỚC – CÙ LAO GIÊNG

27.12.1858 – 31.07.1858

 

1. Vui mừng đáp lại lời Chúa gọi:

Ông Antôn Đoàn Công Miêng và bà Anrê Nguyễn Thị Trường sinh sống ở Bắc Việt. Năm 1820 cả gia đình di cư vào Nam và lập nghiệp tại họ Búng. Ông bà có 6 người con: 1/ Phêrô Đoàn Công Thới (thân sinh linh mục Đoàn Công Triệu), 2/ Maria Đoàn Thị Bường, 3/ Augustinô Đoàn Công Đã, 4/ Micae Đoàn Công Rạng, và cặp song sinh 5/ Antôn Đoàn Công Báu, 6/ Phêrô Đoàn Công Quí chào đời vào năm 1826, dưới triều Minh Mạng, tại họ Búng, thuộc làng Hưng Ðịnh, tổng Bình Chánh, tỉnh Thủ Dầu Một (nay là tỉnh Bình Dương) Phêrô Ðoàn Công Quí là người con thứ sáu trong gia đình và là hy lễ của gia đình ông Miêng hiến dâng cho Thiên Chúa.

 

Năm 1847, Cha Tám giới thiệu chàng trai 21 tuổi này với cha Gioan Miche Mịch để được học hỏi tiếng La Tinh và tiếp tục theo đuổi ơn gọi tu trì. Sau khi học tiếng Latinh tại nhà cha Mịch, cậu Quí được học tại Chủng Viện Thánh Giuse (Thị Nghè) do Cha Borelle làm Giám đốc. Năm 1848, thầy Quí du học tại Đại Chủng Viện Hội Thừa Sai Paris ở Pénang (Mã Lai). Tại đây, thầy học triết lý và thần học, ngôn ngữ, văn chương. Việc huấn luyện như thế được coi là khá đầy đủ cho một linh mục thuộc miền truyền giáo.

 

Sau 7 năm được hướng dẫn học tập và tu đức, thầy lên đường trở về quê hương vào ngày 11.4.1855. Đến chào Đức Cha Lefèvre (Ngãi) xong, thầy được phép về thăm gia đình, nhưng không còn gặp được phụ thân vì ông Đoàn Công Miêng đã qua đời.

 

Đây là thời kỳ bách hại đạo. Năm 1851, vua Tự Đức ra sắc chỉ cấm đạo: ”Tây dương đạo trưởng thì phải trảm quyết, ném đầu xuống sông, xuống biển; đạo trưởng bổn quốc, dù quá khoá hay không, cũng phân thây; ai điểm chỉ, hay bắt đặng, thì được thưởng tám lạng bạc, lại còn được ăn nửa phần gia tài của đạo trưởng; còn ai chứa chấp, thì phải phân thây, quăng xuống sông; trẻ em nhà ấy thì phải đày đi phương xa...”

 

Tháng 9.1858, Thầy Quí đã được lãnh chức Linh Mục tại Nhà thờ Thủ Dầu Một. Thánh lễ “mở tay” được cử hành đơn sơ tại Gò Cầy (bây giờ là ở cuối đường Lò Chén Chùm Sao, đi vào khoảng một trăm mét).

 

2. Nhiệt thành thi hành sứ vụ Chúa trao:

Cha Phêrô Quí được tuyển chọn vào cánh đồng truyền giáo trong giai đoạn đặc biệt của đất nước: Pháp và Tây Ban Nha đem quân đánh phá ở Cửa Hàn (Đà Nẵng) vào tháng 9.1855 làm cho vua Tự Đức càng thêm căm ghét các giáo sĩ nước ngoài và Đạo Thiên Chúa; nhà vua ra chiếu chỉ thứ hai, rồi thứ ba, không những lùng bắt các đạo trưởng, mà còn bắt các giáo hữu phải xuất giáo, triệt hạ các thánh đường, phá huỷ các cơ sở tôn giáo, kèm theo những hình phạt gắt gao hơn trước. Cuộc bách hại ngày càng khốc liệt hơn. Nhưng nhiệt tình truyền giáo đã làm cho Cha Quí vượt thắng mọi gian khổ, đe dọa, hiểm nguy. Sau một thời gian phục vụ tại các giáo xứ Lái Thiêu, Gia Định và Kiến Hòa, Đức cha bổ nhiệm Cha Phêrô Quí làm phó xứ Cái Mơn (Vĩnh Long), do Cha Tùng làm Cha sở.

 

Điều nổi bật nơi Cha Phêrô Quí là lòng ước ao được đổ máu mình ra vì danh Đức Giêsu Kitô. Cha Borelle kể lại:

Ở Cái Mơn,  khi nghe biết những hình khổ ghê rợn mà các nữ tu Matta Lành và Ysave Ngọ phải gánh chịu trong tù, lòng ước ao tử đạo được nung nấu, cha liền viết cho cha bề trên Borelle:“Thưa cha, thật con đang ở giữa những nguy hiểm, nhưng Thiên Chúa gìn giữ, chưa để con phải bị bắt, vì tội lỗi con còn nhiều, chưa được phúc chịu khổ vì Chúa. Thế nhưng, ngày xưa Chúa Cứu Thế đã phải chết treo trên Thánh Giá. Ôi, chớ gì con được mang gông cùm và xiềng xích. Tuy nhiên, con chưa đáng được trang điểm bằng những dấu chỉ như thế. Con rất ước ao được đến dinh tổng đốc để khuyến khích các vị tuyên xưng đức tin. Khi nào cha cho phép con làm điều đó?”

 

Lần khác, với một sự rung cảm đạo đức sốt sắng, Cha diễn tả lòng ước ao được tử đạo:

“Chớ thì tôi không được diễm phúc chiến đấu và chết vì vinh quang của Chúa sao?- Ước gì xiềng xích trở thành những vòng đeo cổ quí giá, gông cùm trở thành vòng đeo tay ! Than ôi, hãy xem các bạn hữu đã được ngành lá chiến thắng; còn một mình tôi ở đây như người lính canh bị bỏ quên. Ôi! Lạy Chúa, xin ban phúc tử đạo cho con”.

 

Từ đó, Cha cải trang thành thường dân, đi thăm viếng, an ủi và ban các bí tích cho bổn đạo.

Ngày 27.12.1858, Đức Cha bổ nhiệm Cha Quí về họ đạo Đầu Nước ở Cù Lao Giêng, tỉnh An Giang. Chỉ mười ngày sau (07.01.1859) quan Tổng đốc An Giang được mật báo có Tây dương đạo trưởng trú ẩn tại nhà ông Lê Văn Phụng ở Đầu Nước.

 

Nguyên do là vì có hai người lương muốn lợi dụng cơ hội làm tiền, dựa theo sắc lệnh cấm đạo của nhà vua, nên rình rập cơ hội. Từ năm 1855, ông Câu Phụng đón tiếp một vị thừa sai người pháp, cha Jean Claude Pernot (Định). Bọn chúng đã nghi ngờ, theo dõi, quyết tâm tìm bắt quả tang, để trả thù ông Câu Phụng và để nhận món tiền thưởng. Sau nhiều ngày theo dõi, một đêm nọ, hai tên này trèo lên cây xoài, phía sau nhà ông Phụng, ẩn nấp, rình rập. Vào khoảng 7 hay 8 giờ tối, Cha Pernot, không hề biết có nguy hiểm, đã đi ra khỏi hầm trú để hít thở không khí trong lành, bị chúng trông thấy. Hôm sau, chúng liền đi tố cáo với quan tổng đốc Châu Đốc là Cao Hữu Dực: “Nhà ông Phụng có chứa chấp Tây Dương Đạo Trưởng, ở đó có nhà dòng, nhà thờ và chủng viện, vi phạm lệnh cấm của nhà vua”.  Chúng cũng không quên xin phái quan lãnh binh đi bắt, chứ đừng báo quan huyện, vì quan này thông đồng với người Công giáo.

 

Nhận được tin chắc chắn, ngay lập tức, quan tổng đốc cho gọi quan lãnh binh, ra lệnh chuẩn bị khoảng 20 chiếc thuyền và khoảng ba trăm quân lính đến Cù Lao Giêng. Biết được lý do có cuộc hành quân đó, một giáo dân vội vàng báo tin cho ông Câu Phụng. Ông Câu Phụng thoạt đầu không tin, vì cho rằng: ông huyện Cù Lao Giêng rất tốt đối với ông, chắc chắn phải nói cho ông biết.

Tuy nhiên, việc xuất hiện của đội thuyền làm cho giáo dân xôn xao. Không còn nghi ngờ gì nữa, vì có tiếng mái chèo đập nước nghe rất rõ. Vội vàng người ta cất giấu đồ thờ phượng, tượng ảnh, và che giấu Cha Pernot. Dưới sự hướng dẫn của ông Gabriel Trần Văn Vị, giữa đêm khuya, Cha Pernot ẩn trốn trong rừng rậm. Cha Phêrô Quí được khuyên cùng đi, nhưng vị linh mục bản xứ, không nao núng sợ hãi, trả lời:

 

- “Thưa Cha, xin Cha trốn nhanh đi, còn con, con là người an-nam sẽ không gặp khó khăn đâu”. Bấy giờ cha Pernot ra đi; còn Cha Phêrô Quí ở lại, cố gắng thu xếp, cất giấu đồ đạo, và ẩn nấp dưới sàn nhà.

Sau một lúc, quân lính đến nhà ông Câu Phụng, siết chặt vòng vây, để không ai có thể chạy thoát. Họ lục soát khắp nơi, nhưng tuyệt nhiên không tìm thấy gì cả. Ông lãnh binh giận dữ, bắt giữ ông Câu Phụng, chủ nhà, buộc phải khai báo nơi giấu Tây Dương Đạo Trưởng. Trước câu trả lời của ông Câu Phụng là không có một linh mục tây phương nào ở nhà ông, ông lãnh binh liền quát:

 

- “Vậy thì đạo trưởng ở đâu?  Và đe doạ, nếu không tuân lệnh, sẽ bị đánh đòn. Thấy chủ nhà sắp sửa bị tra khảo, Cha Phêrô Quí liền đứng ra, khẳng khái tuyên xưng: - “Chính tôi là Đạo trưởng”. - “Không phải! Mày không phải là đạo trưởng; hãy nộp ngay Tây Dương Đạo Trưởng ra đây! vì có kẻ đã trông thấy và tố cáo”. - “Không hề có một Tây Dương Đạo Trưởng nào ở đây cả. Chính tôi là đạo trưởng; tôi rất vinh dự dạy đạo cho những ai muốn nghe”, Cha Phêrô Quí khẳng định.

 

Thấy người vừa trả lời rất hùng hồn còn quá trẻ, ông ta không tin; nhìn thấy một bé trai khoảng 10 tuổi, cháu nội của ông Câu Phụng đang ở đó, liền hỏi nó. Nó không nói. Ông ta sai lính đánh cậu bé mấy roi, bắt cậu phải chỉ chỗ đạo trưởng đang ở. Bị đành đòn đau, đứa bé liền chỉ Cha Phêrô Quí: “Chính ông này”.

 

Không chần chờ, ông ta ra lệnh trói chặt Cha Phêrô Quí, ông Câu Phụng và 32 giáo dân khác. Hôm đó là rạng ngày 07.01.1859, nhằm lễ Ba Vua, (khi bị bắt lối canh ba mùng 2 tháng chạp năm Mậu Ngọ) quan quân điệu tù đạo về Châu Đốc, nhưng vì tháng ấy nước đổ nên đến tối mới tới Thị Đam. Quan quân trú nghỉ, sáng hôm sau mới khởi hành.

 

3. Sẵn lòng đi trên đường thập giá Chúa đã đi:

Đến Châu Đốc, Cha Phêrô Quí bị dẫn ra trước mặt quan tổng trấn của tỉnh. Ông ta hỏi Cha có phải là đạo trưởng hay không. Cha trả lời: - “Tôi là đạo trưởng”. - “Ông có muốn tuân lệnh vua và bỏ đạo không? - “Tôi giữ đạo Chúa trên trời, tôi sẽ không bỏ đạo; cho dù quan có lên án tôi thế đi nữa, tôi sẵn sàng chấp nhận”.

 

Trước lệnh truyền phải chối bỏ đức tin, cha đáp lại:

- “Làm sao tôi có thể bỏ đạo cho được, bởi vì tôi là người dạy đạo? - “Nếu ông bỏ đạo, Ta sẽ trả tự do cho ông; nếu không, Ta sẽ lên án chém đầu ông”.  Quan tổng trấn nhấn mạnh.

- “Thưa quan lớn, nếu quan chiếu cố đến tôi, thì quan đã biểu tỏ cho tôi một nghĩa cử đặc biệt; nếu quan ra lệnh giết chết tôi, tôi sẵn sàng tuân phục phán quyết của quan; còn việc chối bỏ Thiên Chúa, tôi sẽ không bao giờ làm”.

 

Quan tổng trấn sai người đưa Cha đến nhà của ông ta, ra sức dụ dỗ cha bỏ đạo, hứa sẽ trả tự do cho Cha. Trước những lời hứa hẹn này, cha đã trả lời một cách nhã nhặn, nhưng rất cương quyết:

- “Tôi sẽ không chối bỏ đức tin của tôi.”

Trước lời khẳng định kiên trì và can đảm này, viên quan chức hiểu rằng, tất cả những cố gắng của ông ta không có một chút kết quả nào cả. Vì thế, ông ta đã ra phán quyết kết án xử trảm Cha Phêrô Quí, vì đã phạm tội rao giảng tà đạo, và gởi phán quyết này về triều đình Huế để xin nhà vua phê chuẩn.

 

Nhiều tháng trôi qua trong khi chờ đợi án lệnh từ Huế. Cha Phêrô Quí vẫn sống bình thản trong việc thực hiện đức bác ái đối với các bạn tù khốn khổ, đối với binh lính và cai tù; Cha chia sẻ cho họ một chút ít tiền mà cha đã nhận được từ họ đạo, hay của các tín hữu.

 

Cha dành phần lớn thời gian trong ngày để cầu nguyện, lần chuỗi, đọc sách nguyện, nguyện ngẫm.v.v. Cha ăn chay thường xuyên, vì ước muốn chuẩn bị cho ơn phúc tử đạo bằng sự hy sinh, hãm mình.

 

4. Can đảm chấp nhận cái chết như Chúa:

Ước vọng hiến dâng trọn vẹn cuộc đời cho Thiên Chúa của Cha Phêrô Đoàn Công Quí đã được chấp nhận. Bản án được phê chuẩn chuyển đến Châu Đốc vào khoảng 7.00 tối ngày 30.7.1859, cùng với bản án ông Emmanuel Lê Văn Phụng, và cuộc hành quyết đã được ấn định vào ngày hôm sau.

 

Ngày 31.7.1859, từ sáng sớm, một tốp lính xếp hàng trước nhà giam. Viên chỉ huy bước vào trong và báo cho Cha Phêrô Quí là đã đến giờ thi hành án. Cha mặc áo chỉnh tề của ngày lễ và chít “khăn đóng” đẹp đẽ trên đầu. Quân lính đeo vào cổ Cha một tấm thẻ bằng gỗ, viết tên tuổi và bản án của cha. Trong thời gian đó, Cha Phêrô Quí nói với ông Câu Phụng cùng bị xử với cha:

 

- “Đây là giờ Thiên Chúa dành cho chúng ta trong cuộc chiến đấu cuối cùng. Chúng ta hãy vui lòng can đảm chịu đựng vì Ngài”. Đoàn hộ tống ra đi. Cha Phêrô Quí, rực sáng niềm vui, say đắm cầu nguyện, tiến bước giữa hai hàng quân lính cầm gươm giáo. Người lính đi trước, tay cầm thẻ, thỉnh thoảng đọc to:

 

“Tự Đức thập tam, An Giang tỉnh, kỷ vị niên, thất nguyệt, sơ nhị nhật.

Thẻ: Đạo trưởng Đoàn Công Quí, tùng gian đạo, tụ tập đạo đồ, đạo chủng, đạo thư: Bất khẳng quá khoá; vi phạm quốc pháp; luật hình trảm quyết. Tư Thẻ”.

 

(“Niên hiệu Tự Đức thứ 13, tỉnh An Giang, năm kỷ vị, tháng 7, ngày mồng 2.

Thẻ: Linh mục Đoàn Công Quí, theo tà đạo, tụ họp giáo hữu, chủng sinh, sách đạo: Không chịu bước qua ảnh tượng chuộc tội, phạm luật nước, luật hình phải chém. Tư Thẻ”).

 

Gần đến Cây Mét, cũng được gọi là Bến Chà Và, nơi được chỉ định để hành quyết, họ dừng lại. Viên quan ra lệnh cho lý hình: - “Sau ba hồi chiêng, các ngươi hãy chém đầu bằng 3 nhát!”

 

Cha Phêrô Quí hưởng phúc tử đạo, từ giả cõi đời, trở về quê hương vĩnh cửu, lúc vừa tròn 33 tuổi, sau một năm thi hành chức vụ Linh mục. Trong khi chịu hình khổ ghê gớm, Cha vẫn giữ vẻ bình thản, điềm tĩnh, không sợ hãi, rên la, than van… Quan quân và đám rất đông dân chúng chứng kiến, rất ngạc nhiên về sự can đảm phi thường đó, đã nhắc đi nhắc lại: - “Chưa bao giờ, chưa bao giờ chúng ta đã nhìn thấy một người chết như thế!”

 

Di hài của Cha Phêrô Quí và Ông Câu Emmanuel, người cùng được phúc tử đạo với Cha, được rước về một lượt. Đến Vàm Nao, gọi là Thuận Vàm, thì có Cha Vọng và các Quí chức Họ đạo Năng Gù đón nhận thân xác của Cha Phêrô Quí đưa về Nhà thờ Năng Gù, để cho mọi người kính viếng, một ngày một đêm. Sau đó, được an táng trong Nhà Thờ, theo nghi lễ Hội Thánh. Năm 1959, thi hài cha thánh Quí được cải táng về chủng viện Cù Lao Giêng.

 

Ngày 28.3.1867, Đức Giáo Hoàng Piô IX truyền lập Hội Đồng tra cứu việc hai Đấng tử đạo ở Đông Dương.

Ngày 13.2.1879, Đức Giáo Hoàng Lêô XIII tôn phong hai Đấng lên bậc Đáng Kính.

Ngày 02.5.1909, Ðức Thánh Cha Piô X đã phong Ngài lên bậc Á Thánh

Ngày 19.6.1988, Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã nâng Ngài lên bậc Hiển Thánh.

 


[1] Viết ngắn gọn theo bản văn sưu tầm của linh mục Phêrô Lê Dương Hồng Khải, nguyên phó giáo xứ Cù Lao Giêng (Họ đạo Đầu Nước).

 

Bài viết liên quan:

Lịch sử giáo phận Long Xuyên (bài 10, phần 2)
Lịch sử giáo phận Long Xuyên (bài 9)
Lịch sử giáo phận Long Xuyên (bài 8)
Lịch sử giáo phận Long Xuyên (bài 7)
Lịch sử giáo phận Long Xuyên (bài 6)
Lịch sử giáo phận Long Xuyên (bài 5)
Lịch sử giáo phận Long Xuyên (bài 4)
Lịch sử giáo phận Long Xuyên (bài 3)
Lịch sử giáo phận Long Xuyên (bài 2)
Lịch sử giáo phận Long Xuyên (bài 1)
Page 1 of 7 (66 items)
Prev
[1]
2
3
4
5
6
7
Next
Bài viết mới
Câu chuyện chiều thứ 7
Thống kê Truy cập
Đang online: 1034
Tất cả: 68,245,310